Hà Nội: 29°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 29°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 30°C Thừa Thiên Huế

Một số nghề thủ công truyền thống của người Mường ở Tân Lạc Hòa Bình

LNV - Nghề thủ công truyền thống của các tộc người là một trong những vấn đề rất quan trọng trong việc nghiên cứu văn hóa các dân tộc, qua việc nghiên cứu cũng chính là sự bảo lưu và phát triển bản sắc văn hóa của họ trong cuộc sống hiện đại, đồng thời cũng là sự thể hiện sâu sắc và đầy đủ nhất những giá trị nhân văn cùng những tinh hoa của văn hóa tộc người, đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa các dân tộc ở Việt Nam. Trong đó có các nghề thủ công truyền thống của người Mường Tân Lạc - Hòa Bình.
Người Mường là một trong 54 dân tộc ở nước ta và đặc biệt hơn nữa người Mường còn có chung nguồn gốc Việt Mường, trải qua hàng ngàn năm lịch sử người Mường đã đóng góp công sức to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đó chính là quá trình người Mường tạo lập ra những giá trị văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa đồ sộ của Việt Nam, mang đậm đà bản sắc tộc người và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Bởi vậy, việc nghiên cứu văn hóa Mường ở Việt Nam là một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết. Nhằm góp phần nhận thức về lịch sử, văn hóa Mường và sự đóng góp của văn hóa Mường vào văn hóa các dân tộc ở Việt Nam, qua đó góp phần tìm hiểu mối quan hệ văn hóa Việt - Mường xưa và nay ở vùng Tây Bắc Việt Nam.

Tân Lạc là một trong những cái nôi của văn hóa Mường ở Hòa Bình

Đan lát trở thành nghề khá phổ biến của người Mường
Đan lát trở thành nghề khá phổ biến của người Mường

Khảo cổ học đã chứng minh Tân Lạc là 1 vùng đất cổ, một trong những địa bàn cư trú và sinh sống của người Việt Cổ. Những phát hiện khảo cổ của Cô - La - Ni một học giả người Pháp ở hang Chiềng Khến, thị trấn Mường Khến đều tìm thấy dấu vết cư trú và sinh sống của người nguyên thủy thuộc thời đại đồ đá giữa và sơ kỳ thời đại đồ đá mới để lại trong hang có rất nhiều niên đại cách ngày nay 1 vạn năm.

Những trung tâm trù phú của Hòa Bình, hàng trăm năm trước đã nổi tiếng với câu tục ngữ Mường: “Nhất Bi, Nhì Vang, Tam Thàng, Tứ Động”. Chính họ là những chủ nhân mở mang, khai thác đất đai để hình thành nên các vùng Bi, Vang, Thàng, Động và cả Hòa Bình ngày nay.

Trong cuộc sống mưu sinh qua nhiều thế kỷ cùng với việc trồng trọt và chăn nuôi, các nghề thủ công truyền thống của người Mường cũng tương đối phát triển. Trong các nghề thủ công truyền thống nổi bật nhất là nghề dệt, nuôi tằm ươm tơ và nghề đan lát. Ở những nghề này nhiều người đã đạt tới trình độ tinh xảo. Dù vậy, thủ công của người Mường chỉ đóng vai trò và phụ thuộc vào nông nghiệp. Hoạt động của nghề thủ công mang tính thời vụ làm vào lúc nông nhàn chưa đạt tới trình độ chuyên môn hóa. Những sản phẩm của nghề thủ công chỉ đóng góp cho sản xuất và sinh hoạt hàng ngày nhằm đảm bảo cuộc sống tự cung tự cấp trong phạm vi gia đình và làng bản. Ở đây chúng tôi xin đi vào 2 nghề thủ công truyền thống đặc sắc nhất là nghề đan lát và nghề dệt.

Nghề đan lát:

Một số nghề thủ công truyền thống của người Mường ở Tân Lạc Hòa Bình

Đây là 1 nghề phổ biến của người Mường. Đến bất kỳ gia đình người Mường nào cũng thấy những sản phẩm đan lát. Ví dụ “Trò Ổ” một dụng cụ để đựng quần áo, chăn màn. Đặc biệt phải có “Trò Ổ” để cô dâu đựng đồ trong ngày cưới. Còn “Mâm Hè” để bày các món trong ngày tế lễ. Nguyên liệu cho nghề đan lát chủ yếu là tre, nứa, mây được trồng quanh nhà, quanh làng bản.

Theo kinh nghiệm dân gian được bảo lưu đến ngày nay là khi mùa mưa kết thúc khoảng tháng 9 âm lịch là lúc khai thác tre, nứa, mây, trúc… Một đặc điểm là việc khai thác nguyên liệu đan lát và việc đan lát chủ yếu là do người đàn ông đảm nhiệm - đó là sự phân công lao động từ lâu đời, nhất là các sản phẩm đan lát đòi hỏi kỹ thuật cao như Mâm Hè, Sọt, Bồ đã được trở thành hàng hóa trao đổi trong vùng. Từ xưa người Thái Mai Châu rất ưa chuộng sử dụng đồ đan lát của người Mường Tân Lạc. Như vậy, nghề đan lát mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong xã hội Mường có một phong tục đẹp là người cha, người anh trai tự đan những cái Trò Ổ xinh xắn để tặng cô gái trong gia đình ngày cô đi lấy chồng.

Hiện nay, nghề đan lát đã có đã có sự góp phần vào việc duy trì bảo tồn đời sống văn hóa của người Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình. Sản phẩm đan lát như “Trò Ổ; Bàn Hè” là những vật dụng không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin, lễ tết.

Một số sản phẩm gia dụng như rổ, rá, nia, giần sàng, sọt đã trở thành sản phẩm hàng hóa tăng thu nhập gia đình, nó còn góp mặt ở các khu du lịch như bản Lác - Mai Châu, gắn kết mối giao lưu văn hóa tự nhiên do kết quả của thời kỳ kinh tế đổi mới và phát triển du lịch ở miền núi Tây Bắc Việt Nam.

Nghề dệt vải:

Từ khi được khôi phục, dệt vải đã trở thành công việc hàng ngày của chị em xóm Cóm, xã Đông Lai (Tân Lạc)
Từ khi được khôi phục, dệt vải đã trở thành công việc hàng ngày của chị em xóm Cóm, xã Đông Lai (Tân Lạc)

Trong xã hội Mường nghề dệt vải đã trở thành một nghề sản xuất quan trọng, có vị trí hàng đầu trong các nghề thủ công truyền thống của người Mường là sản phẩm của văn hóa tộc người, nghề dệt cũng chính là thành quả của sự sáng tạo lao động của cả một quá trình lâu dài trong lịch sử phát triển của tộc người.

Đặc biệt hơn nữa nghề dệt đã tạo nên vai trò có ý nghĩa quan trọng của người phụ nữ Mường một cách lâu bền và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tục ngữ Mường Bi có câu:

“Đàn bà không biết dệt vải đàn bà nhác

Đàn ông không biết buộc lạt đàn ông hư”

Câu tục ngữ thật giản đơn nhưng nó thể hiện một tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất của người đàn bà, đàn ông Mường.

Theo quan niệm xa xưa của người Mường, nhà gái phải có nhiều chăn “Phà” đẹp và nhiều “Trò Ổ” bày dọc nhà sàn. Mọi sản phẩm vải vóc của người Mường được dệt chủ yếu từ các chất liệu vải sợi bông và tơ tằm, cây bông “Cài Pôông” có 2 loại bông cỏ và bông luồi được bà con ưa chuộng dùng làm nguyên liệu cho việc dệt vải, khắp vùng Hòa Bình người Mường và người Thái đều trồng loại bông này. Việc chế biến bông thành sợi để dệt cũng rất kỳ công. Ngoài ra một số nguyên liệu đặc biệt nữa của nghề dệt phải kể đến cây “Chàm” được bà con sử dụng khá phổ biến được người Mường trồng quanh nhà gọi là cây “Hóm”.

Cùng với nghề trồng bông, trồng “Chàm” người Mường còn có nghề nuôi tằm lấy tơ được tồn tại lâu đời, nhà nào cũng có. Hiện nay, việc trồng dâu, nuôi tằm đang được mở rộng ở các xã như Địch Giáo, đây là một điểm sáng đáng kích lệ trong việc phục hồi nghề trồng dâu, nuôi tằm ở Tân Lạc.

Nhuộm màu là công việc đi đôi với dệt vải, kéo sợi màu sắc chủ đạo trong sản phẩm dệt của người Mường là trắng và đen, màu xanh lá mạ, màu vàng. Người Mường tạo màu sắc theo cách truyền thống như màu chàm dùng lá “Chàm”, cây “Co Phang” tạo màu đỏ, cây “Co Hem, cây Phui, cây Vang” tạo màu vàng, củ nâu tạo màu nâu đen, nói về cách nhuộm màu mà tộc người Mường có câu tục ngữ:

“Muốn đen nhuộm đỏ

Muốn đỏ nhuộm Phang

Muốn vàng nhuộm nghệ”

Cách dệt vải bằng khung cửi, cái go, cái con thoi dệt hoa: là những mẫu hoa văn làm mặt chăn “Phà” hay làm cạp váy “Khôôk”.

Sản phẩm dệt của người Mường đã tạo ra những đồ dùng bền, đẹp có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng đó là các loại vải trắng để may quần áo khăn màu, mặt “Phà” gối “Kềll” đó là những sản phẩm thiết yếu trong đời sống người Mường mà người phụ nữ Mường nào cũng phải biết làm.. Những sản phẩm này còn gắn với tập quán của người Mường trong đám tang, đám cưới truyền thống, lễ tết, ngày hội.

Ở một số xã sản phẩm dệt đan lát đã góp phần khiêm tốn trong kinh tế hộ gia đình Mường tại các phiên chợ Lồ, chợ Chùa, chợ Mãn Đức vẫn có chỗ dành riêng để bán các sản phẩm vải vóc, vải mộc, sợi bông, mặt “Phà” cạp váy “Klôôk” gối và các hàng đan lát thông dụng như nong, nia, hom, giỏ đây là dấu hiệu đáng mừng, nhưng vấn đề đặt ra là làm sao cho những nghề thủ công bình dị này ở Tân Lạc được vực dậy với sức sống mạnh hơn trong cơ chế thị trường, thu hút nhiều lao động, tạo việc làm cho nhiều người nhất là người già, phụ nữ, trẻ em, giúp cho người dân xóa đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, những khó khăn trong việc phát triển nghề thủ công truyền thống của người mường ở Tân Lạc Hòa Bình đòi hỏi sự quan tâm của nhiều ngành nhiều cấp phát huy được tiềm năng vốn có của nghề dệt, nghề đan lát trong tương lai, xứng đáng với sức sống bền bỉ của một nghề thủ công truyền thống lâu đời, trường tồn cùng năm tháng của dân tộc Mường.

PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Nga

Tin liên quan

Nghề làm bún Đa Mai

Nghề làm bún Đa Mai

LNV - Trong khi nhiều làng nghề thủ công truyền thống đang phải đối mặt với nguy cơ mai một bởi khó khăn về đầu ra sản phẩm thì nghề làm bún tại phường Đa Mai, Bắc Giang (nay là Bắc Ninh) lại ngày càng phát triển, tạo thu nhập ổn định và đem lại cuộc sống khấm khá cho nhiều hộ dân.
Một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Khơ Mú ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam

Một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Khơ Mú ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam

LNV - Người Khơ Mú ở Việt Nam thường được các dân tộc khác gọi là: Xá Cẩu, Tày Hạy. Với tổng số dân vào khoảng trên dưới 56.542 người, họ cư trú ở các vùng rẻo cao, vùng giữa thuộc các vùng Tây Bắc và Thanh Nghệ của Việt Nam.
10 làng nghề lâu đời nổi tiếng ở Bắc Giang

10 làng nghề lâu đời nổi tiếng ở Bắc Giang

LNV - Bắc Giang là tỉnh có nhiều làng nghề, là một trong những cái nôi của các làng nghề thủ công truyền thống ở nước ta. Các làng nghề ở Bắc Giang được hình thành từ xa xưa, xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân với những bí quyết cổ truyền đã được đúc kết qua nhiều thế hệ, sản xuất ra một số sản phẩm nổi tiếng trong khắp cả nước như: rượu làng Vân, bánh đa Thổ Hà, mây tre đan Tăng Tiến, bánh đa Kế, bún Đa Mai, mỳ Chũ Lục Ngạn, Hương ngát Linh Sơn…

Tin mới hơn

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Tin khác

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Nghệ An: Nghiệm thu các đề án khuyến công đợt 2 năm 2026

Nghệ An: Nghiệm thu các đề án khuyến công đợt 2 năm 2026

Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn Phát triển Công Thương tỉnh Nghệ An đã tổ chức nghiệm thu các đề án hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến đợt 2 năm 2026
Đắk Lắk: Tiếp sức cơ sở công nghiệp nông thôn xây dựng phòng trưng bày sản phẩm tiêu biểu

Đắk Lắk: Tiếp sức cơ sở công nghiệp nông thôn xây dựng phòng trưng bày sản phẩm tiêu biểu

Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến Thương mại tỉnh Đắk Lắk vừa nghiệm thu, bàn giao 5 phòng trưng bày sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu
“Giữ lửa” nghề làm hương đen hơn 300 năm ở làng Chóa

“Giữ lửa” nghề làm hương đen hơn 300 năm ở làng Chóa

Sau hàng trăm năm lịch sử, nghề làm hương đen ở làng Chóa (nay là thôn Lạc Trung, xã Yên Trung, TP Bắc Ninh) vẫn được người dân nỗ lực giữ gìn và quảng bá mạnh mẽ, lan tỏa giá trị văn hóa nơi dây.
Thanh Hóa: Khai mạc Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu năm 2026

Thanh Hóa: Khai mạc Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu năm 2026

LNV – Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu năm 2026 được diễn ra từ ngày 15 đến 21/10, hội chợ có quy mô 350 gian hàng tiêu chuẩn, với sự tham gia của gần 200 tổ chức, doanh nghiệp đến từ 20 tỉnh, thành phố trong cả nước cùng các đơn vị của Thanh Hóa. Trong đó có các địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Huế, Đồng Tháp...
Đồng hành cùng đồng bào dân tộc thiểu số hồi hương, ổn định cuộc sống

Đồng hành cùng đồng bào dân tộc thiểu số hồi hương, ổn định cuộc sống

Cùng với việc tuyên truyền, vận động, hỗ trợ 151 người dân tộc thiểu số Việt Nam đang cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan tự nguyện trở về nước, các cơ quan chức
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động