Nghị quyết 57 mở đường phát triển làng nghề

LNV - Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đang mở ra kỷ nguyên mới cho doanh nghiệp tư nhân, trong đó có doanh nghiệp, hộ kinh doanh tại các làng nghề thủ công, tạo đà bứt phá nhờ khoa học công nghệ. Nghị quyết này không chỉ là định hướng chiến lược về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, mà còn là “cầu nối vàng” giữa các viện nghiên cứu, nhà khoa học với cộng đồng doanh nghiệp.

Đây được xem là “cú hích” mạnh mẽ, không chỉ thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo mà còn là đòn bẩy quan trọng cho chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt với các ngành nghề mang đậm bản sắc văn hóa như làng nghề thủ công. Sự đồng điệu trong tầm nhìn giữa nhà khoa học, nghệ nhân và doanh nghiệp hứa hẹn sẽ mở ra một kỷ nguyên mới, nơi giá trị truyền thống được phát huy tối đa nhờ sức mạnh của công nghệ hiện đại.

Bà Vũ Như Quỳnh, một nghệ nhân trẻ của làng nghề gốm sứ Bát Tràng
Bà Vũ Như Quỳnh, một nghệ nhân trẻ của làng nghề gốm sứ Bát Tràng

Theo các nghệ nhân, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất sản phẩm sơn mài đã mang lại hiệu quả vượt trội so với phương pháp truyền thống. Bà nhấn mạnh rằng công nghệ đang được áp dụng mạnh mẽ vào phát triển mẫu mã sản phẩm. Cụ thể, việc sử dụng máy móc trong giai đoạn này giúp tạo ra các thiết kế tinh xảo, đa dạng hơn, rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng đáng kể.

Ngoài ra, công nghệ cũng đóng vai trò then chốt trong việc quản lý và xử lý đơn hàng. Từ khâu xác nhận đơn hàng, quản lý mẫu mã cho đến các vấn đề liên quan đến logistics và vận chuyển, mọi quy trình đều được tối ưu hóa nhờ ứng dụng công nghệ. Điều này không chỉ giúp làng nghề xử lý khối lượng đơn hàng lớn hơn mà còn đảm bảo sự chính xác và hiệu quả, góp phần đưa sản phẩm sơn mài truyền thống tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.

Tuy nhiên, việc ứng dụng khoa học công nghệ, dù mang lại lợi ích rõ rệt về năng suất và hiệu quả sản xuất, lại dấy lên một câu hỏi lớn: liệu nó có làm mất đi giá trị văn hóa truyền thống. Về vấn đề này, một số nghệ nhân cũng thẳng thắn thừa nhận, bên cạnh những lợi ích vượt trội, công nghệ sẽ làm “phai nhạt” phần nào giá trị thủ công truyền thống nếu người nghệ nhân không biết tận dụng đúng cách.

Về định hướng phát triển sản phẩm, làng nghề đang hướng đến những mặt hàng gắn liền hơn với đời sống và thực tế sử dụng hàng ngày. Nghệ nhân cho biết, hiện tại họ đang sản xuất đa dạng các mặt hàng gia dụng như bàn ghế mây, đèn trang trí, giỏ, đĩa đựng trái cây. Đặc biệt, làng nghề còn mở rộng sang các sản phẩm phục vụ xu hướng thời trang như túi xách kết hợp mây tre với da hoặc vải, khuyên tai, thậm chí cả vòng cổ. Điều này cho thấy sự linh hoạt và khả năng thích ứng của làng nghề mây tre đan trước những thay đổi của thị trường.

Tuy nhiên, một trong những khó khăn lớn nhất của làng nghề hiện nay chính là việc thiếu hụt nhân lực được đào tạo bài bản, đặc biệt là những người có khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học công nghệ. Do đó, nghệ nhân Hoàng Hạnh bày tỏ kỳ vọng rất lớn vào những chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước. Sự hỗ trợ này được mong đợi sẽ tạo điều kiện để các nghệ nhân, thợ lành nghề có thể tiếp cận công nghệ, nâng cao năng lực, từ đó giúp làng nghề vượt qua thách thức về nhân lực, phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.

Nghị quyết 57 mở đường phát triển làng nghề

Chia sẻ kỳ vọng lớn lao vào Nghị quyết 57, bà Vũ Như Quỳnh, một nghệ nhân trẻ của làng nghề gốm sứ Bát Tràng mong muốn các nghệ nhân và thợ gốm sẽ được tiếp cận khoa học công nghệ một cách thiết thực và hiệu quả, thay vì chỉ dừng lại ở các chương trình mang tính hình thức.

Điều mà bà mong mỏi nhất là sự đồng hành thực sự từ các cơ sở nghiên cứu và trường đại học, đặc biệt là những đơn vị có thế mạnh về công nghệ như Trường Đại học Bách khoa. Theo bà, nếu các chuyên gia có thể “thăm khám” trực tiếp từng làng nghề, từng xưởng gốm như một bác sĩ hiểu rõ từng “căn bệnh” cụ thể, từ đó họ sẽ có đủ thông tin để đưa ra các giải pháp công nghệ sát với thực tế, phù hợp với quy mô, nguồn lực và đặc thù của từng địa phương, thay vì những mô hình máy móc áp dụng đại trà.

Bà Quỳnh nhấn mạnh rằng không phải nghệ nhân nào cũng có điều kiện tài chính để đầu tư máy móc hiện đại, nên sự hỗ trợ từ chính sách và đội ngũ chuyên gia chính là “đòn bẩy vàng” để các làng nghề vươn lên. “Nếu được tiếp cận đúng cách, tôi tin rằng các làng nghề truyền thống có thể chuyển mình mạnh mẽ, vừa giữ được hồn cốt văn hóa, vừa phát triển bền vững trong thời đại mới,” bà khẳng định.

Về phía đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ, ông Trần Văn Vinh, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Sành sứ Thuỷ tinh công nghiệp, Bộ Công thương nhận định, việc ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào sản xuất truyền thống, đặc biệt là lĩnh vực gốm sứ, đang tạo ra một “làn gió” tích cực. Trước đây, sản xuất gốm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền đời, mang tính thủ công và quy mô nhỏ. Ngày nay, công nghệ hiện đại đã giúp các ngành nghề vượt qua nhiều giới hạn truyền thống.

Từ góc độ chuyên môn và thực tiễn nghiên cứu chuyển giao công nghệ, ông nhận thấy khoa học công nghệ đã tác động rất sâu sắc tới các yếu tố quan trọng trong sản phẩm gốm tiêu dùng. Riêng Viện Nghiên cứu Sành sứ Thủy tinh Công nghiệp là đơn vị đầu ngành trực thuộc Bộ Công Thương, có uy tín hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu và thử nghiệm. Viện sở hữu phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO 17025:2017, có khả năng đánh giá toàn diện các tính chất của nguyên liệu, độ bền cơ học của sản phẩm, cũng như kiểm nghiệm các chỉ tiêu an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm gốm sứ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm.

Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị được đơn vị nghiên cứu khoa học đánh giá là một chủ trương lớn nhằm thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, trong đó có các làng nghề truyền thống.

Đại diện Viện nghiên cứu Sành sứ Thủy tinh Công nghiệp khẳng định sẽ luôn đồng hành cùng các doanh nghiệp làng nghề trong hành trình phát triển bền vững, đặc biệt là trong việc ứng dụng khoa học công nghệ một cách hiệu quả và phù hợp với thực tiễn. Viện không chỉ đóng vai trò là nơi nghiên cứu lý thuyết, mà còn là “người bạn đồng hành” sẵn sàng hỗ trợ trực tiếp các cơ sở sản xuất từ việc chuyển giao công nghệ, tư vấn cải tiến kỹ thuật, đến đào tạo nguồn nhân lực lành nghề.

Bảo An

Tin liên quan

Ứng dụng khoa học công nghệ: “Chìa khóa vàng” nâng tầm sản phẩm OCOP

Ứng dụng khoa học công nghệ: “Chìa khóa vàng” nâng tầm sản phẩm OCOP

OVN - Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và bảo hộ sở hữu trí tuệ đang giúp các sản phẩm OCOP ở An Giang nâng cao chất lượng, minh bạch nguồn gốc, mở rộng thị trường và từng bước khẳng định thương hiệu, hướng tới phát triển bền vững.
Hải Phòng: Khát vọng phát triển làng nghề trong kỷ nguyên mới

Hải Phòng: Khát vọng phát triển làng nghề trong kỷ nguyên mới

LNV - Đại hội Hiệp hội Làng nghề thành phố Hải Phòng Khóa III đã thành công rực rỡ, thiết lập một kỷ nguyên mới, nơi tinh thần sáng tạo và ứng dụng công nghệ được đẩy lên hàng đầu, biến những dự định ấp ủ thành hành động cụ thể, thiết thực.
Hà Nội bàn giải pháp phát triển làng nghề bền vững giai đoạn 2025-2030

Hà Nội bàn giải pháp phát triển làng nghề bền vững giai đoạn 2025-2030

LNV - Ngày 27/10, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức hội thảo “Giải pháp triển khai Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050”, nhằm thống nhất định hướng, huy động nguồn lực và đề ra giải pháp phát triển bền vững hệ thống làng nghề Thủ đô.

Tin mới hơn

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.

Tin khác

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

LNV - Sau khi thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và huyện theo Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ vào năm 2025, tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ thống quản lý hành chính tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ (TCMN) theo hướng bền vững và chuyên sâu.
Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức phong tặng Danh hiệu Làng nghề Việt Nam lần thứ XII, dự kiến vào đầu tháng 12 năm nay, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2005- 2025), Phóng viên Tạp chí Làng nghề Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn NGƯT Trịnh Quốc Đạt, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Bốn nguồn vốn vay ưu đãi cho chủ thể OCOP: vay ở đâu, cần điều kiện gì, lãi suất bao nhiêu

Bốn nguồn vốn vay ưu đãi cho chủ thể OCOP: vay ở đâu, cần điều kiện gì, lãi suất bao nhiêu

Phần lớn chủ thể OCOP khi cần vốn chỉ nghĩ đến một nơi duy nhất: ngân hàng thương mại gần nhất, làm hồ sơ thế chấp, chờ duyệt, rồi thất vọng vì lãi thông thường hoặc bị từ chối vì không có tài sản đảm bảo. Trong khi đó, ít nhất bốn dòng vốn chính sách đan
Trạm Sao 2: Đêm nhạc 360 độ kéo dài 5 giờ tại Nhà thi đấu Phú Thọ

Trạm Sao 2: Đêm nhạc 360 độ kéo dài 5 giờ tại Nhà thi đấu Phú Thọ

LNV - Tối ngày 11/7, Nhà thi đấu Phú Thọ (TP. HCM) đã trở thành tâm điểm chú ý của giới mộ điệu với đêm nhạc SAO Concert - The Stardom Journey: Trạm Sao 2. Mang
Đánh thức làng nghề Hà Nội bằng tư duy thiết kế sáng tạo

Đánh thức làng nghề Hà Nội bằng tư duy thiết kế sáng tạo

Sau hơn một tuần triển khai, ngày 13-7, Xưởng thiết kế mùa hè - Summer Camp "Re:Craft 2026 - Làng nghề tái sinh" chính thức bế mạc và công bố giải thưởng tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần và động lực phát triển bền vững của Thủ đô

Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần và động lực phát triển bền vững của Thủ đô

LNV - Với bề dày nghìn năm văn hiến và vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, Hà Nội đang từng bước hiện thực hóa định hướng phát triển lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh. K
Hà Nội đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai: Hướng tới nền hành chính hiện đại, phục vụ người dân tốt hơn

Hà Nội đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai: Hướng tới nền hành chính hiện đại, phục vụ người dân tốt hơn

LNV - Hà Nội đang đẩy mạnh xây dựng, chuẩn hóa và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, tiến tới đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động