Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương

LNV - Ngày 25/7 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo tham vấn Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp giai đoạn tới.

Về việc thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, ông Ngô Trường Sơn, Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương cho biết: Bộ tiêu chí đã phát huy vai trò là công cụ trọng yếu giúp các địa phương lập kế hoạch, tổ chức triển khai và giám sát chương trình xây dựng nông thôn mới.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam  phát biểu tại hội thảo
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam phát biểu tại hội thảo

Đến nay, nhiều tiêu chí đã đạt tỷ lệ thực hiện cao, cụ thể, 7 tiêu chí như: Quy hoạch, Thuỷ lợi và phòng chống thiên tai, Điện, Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, Thông tin và truyền thông, Giáo dục và đào tạo, Quốc phòng và an ninh, đã có trên 95% số xã đạt. Vùng Đồng bằng sông Hồng dẫn đầu cả nước về tỷ lệ xã và huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

Tuy nhiên, vẫn còn những tiêu chí có kết quả hạn chế như thu nhập, giảm nghèo đa chiều, môi trường và an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, Bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 ban hành muộn (tháng 3/2022) ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng kế hoạch và triển khai tổ chức thực hiện ở các địa phương...

Ông Sơn cho biết, trong giai đoạn 2026-2030, Bộ tiêu chí sẽ tiếp tục được cập nhật với nhiều điểm mới như phân chia thành 3 nhóm xã theo mức độ phát triển để áp dụng mức độ tiêu chí phù hợp; bổ sung Bộ tiêu chí xã nông thôn mới hiện đại, không quy định về xã nông thôn mới kiểu mẫu mà địa phương quy định và thực hiện phù hợp với thế mạnh nổi trội của từng địa phương; tăng cường phân cấp cho địa phương; đồng thời đảm bảo lồng ghép hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia khác, đặc biệt là Chương trình giảm nghèo bền vững.

Tại hội thảo, đại diện các Bộ, ngành, địa phương cũng đã tích cực đóng góp ý kiến xoay quanh các tiêu chí nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, an ninh trật tự, đồng thời giới thiệu tiêu chí hạnh phúc, tiêu chí làng thông minh. Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho rằng những đóng góp này sẽ là cơ sở quan trọng để Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các đơn vị liên quan tiếp tục hoàn thiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp giai đoạn 2026-2030.

Nhiều đại biểu tham gia hội thảo nhất trí với Dự thảo Bộ tiêu chí đối với xã, phân chia thành 3 nhóm xã theo mức độ phát triển, gồm:

Xã nhóm 1 là xã nghèo, hoặc xã khu vực II (xã khó khăn) và xã khu vực III (xã đặc biệt khó khăn) thuộc địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Xã nhóm 2 là xã có diện tích đất nông nghiệp chiếm từ 70% trở lên so với tổng diện tích đất tự nhiên của xã.

Xã nhóm 3 là xã có địa giới hành chính của xã tiếp giáp với phường và có mật độ dân số tại thời điểm ngày 1/7/2025 từ 1.000 người/km2 trở lên, hoặc xã được hình thành từ việc sắp xếp với thị trấn (trước thời điểm ngày 1/7/2025), hoặc xã có tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế dưới 10%, hoặc xã được định hướng là đô thị mới.

Đối với các xã, Bộ tiêu chí gồm 9 tiêu chí: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Kinh tế nông thôn; Chất lượng nguồn nhân lực; Văn hóa - Xã hội; Môi trường và cảnh quan; Hệ thống chính trị và Hành chính công; Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số; Tiếp cận pháp luật và An ninh, Quốc phòng. Việc đặt tên và phân nhóm nội dung có tính tương đối, do vậy Thứ trưởng mong muốn các đại biểu thảo luận kỹ lưỡng hơn.

Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương

Góp ý tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 về lĩnh vực môi trường, PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường cho biết: Tiêu chí môi trường là một trong 3 nhóm tiêu chí cơ bản trong bộ ba của các nhóm tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trường để phát triển bền vững nói chung và khu vực nông thôn nói riêng, do vậy việc xây dựng các tiêu chí nông thôn mới cấp xã và cấp tỉnh phải thể hiện rõ nhóm các tiêu chí môi trường.

Đồng thời, việc xây dựng tiêu chí môi trường cần dựa vào các chủ trương, định hướng của Đảng thể hiện trong các văn bản đã ban hành, nhất là các Nghị quyết, các văn bản chính sách, pháp luật của Nhà nước như Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về môi trường đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, các văn bản luật pháp về môi trường. Theo đó với dự thảo 3 cấp độ tiêu chí nông thôn mới cấp xã, 2 cấp độ nông thôn mới cấp tỉnh, cần rà soát lại và hoàn thiện thêm các tiêu chí về môi trường.

Đối với tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 về lĩnh vực quy hoạch và cơ sở hạ tầng nông thôn, TS.KTS. Phạm Thị Nhâm, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc gia, Bộ Xây dựng góp ý, các tiêu chí quy hoạch và cơ sở hạ tầng cần phát huy vai trò là trụ cột cứng định hình không gian sống chất lượng, thúc đẩy sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực tổ chức cộng đồng và thích ứng với các xu hướng phát triển hiện đại như đô thị hóa, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu.

Bà Nhâm cho rằng việc phân tầng theo cấp độ xã nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới hiện đại và phân nhóm xã theo vùng miền khó khăn, xã đô thị hóa, xã phổ biến gắn với sản xuất nông nghiệp, và phân định rõ vai trò giữa cấp xã và cấp tỉnh không chỉ giúp Bộ tiêu chí khả thi hơn trong thực tiễn triển khai, mà còn tạo cơ sở cho một quá trình phát triển nông thôn hiệu quả, bao trùm và bền vững.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam cho biết, trong bối cảnh sắp xếp lại các bộ, chính quyền địa phương có nhiều sự thay đổi so với trước đây nên Bộ tiêu chí cũng cần phải được rà soát, đánh giá lại cho phù hợp với thực tiễn mới. Bộ Nông nghiệp và Môi trường mong muốn các bộ, ngành và địa phương tiếp tục góp ý để Bộ có thể sớm hoàn thiện dự thảo Bộ tiêu chí và trình các cấp có thẩm quyền theo đúng quy định.

Liên quan đến việc hoàn thiện bộ tiêu chí, một trong những nội dung quan trọng là cách phân chia nhóm xã theo điều kiện thực tế. Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, việc phân chia thành 3 nhóm xã là cần thiết để bảo đảm xây dựng nông thôn mới phù hợp điều kiện thực tế từng địa phương, nhằm giúp các địa phương chủ động áp dụng các tiêu chí phù hợp. Thứ trưởng đề nghị các đại biểu góp ý về việc phân chia nhóm xã.

Đỗ Hương

Tin liên quan

Xây dựng nông thôn mới: Theo hướng hiện đại và giảm nghèo bền vững

Xây dựng nông thôn mới: Theo hướng hiện đại và giảm nghèo bền vững

LNV - Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội thảo tham vấn Bộ tiêu chí quốc gia các cấp giai đoạn 2026-2030. Theo các đại biểu, xây dựng Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2026-2030 là yêu cầu cấp thiết, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, thích ứng hiệu quả với bối cảnh mới, tạo nền tảng vững chắc để nông thôn phát triển bền vững, thực chất trong giai đoạn tiếp theo.
Việt Nam sắp đón 14 Bộ trưởng châu Phi đến tìm hiểu chương trình OCOP

Việt Nam sắp đón 14 Bộ trưởng châu Phi đến tìm hiểu chương trình OCOP

LNV - Ngày 15/7 tới đây, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp cùng FAO tổ chức Diễn đàn trao đổi kinh nghiệm cấp cao giữa các khu vực về mô hình OCOP.

Tin mới hơn

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Trẻ em thuộc đối tượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi được miễn, giảm, hỗ trợ học phí

Trẻ em thuộc đối tượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi được miễn, giảm, hỗ trợ học phí

LNV - Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 353/2026/NĐ-CP quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.
Chính phủ "tháo gỡ đến cùng" để doanh nghiệp tự mình đi tới

Chính phủ "tháo gỡ đến cùng" để doanh nghiệp tự mình đi tới

LNV - Doanh nghiệp đang phải vượt qua một giai đoạn nhiều sức ép. Trong bối cảnh ấy, yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về hoàn thiện thể chế phát triển có ý nghĩa đặc biệt thiết thực: "Lấy thực thi làm thước đo"; đồng thời phải tháo gỡ rào cản
Ấn tượng chương trình nghệ thuật “Khai Văn” tôn vinh đạo học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Ấn tượng chương trình nghệ thuật “Khai Văn” tôn vinh đạo học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Ngày 12/9/2026, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức chương trình nghệ thuật “Khai Văn”, một trong những hoạt động văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 và hướng tới mốc son kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076 - 2026). “Khai Văn” không chỉ tôn vinh hành trình phát triển ngàn năm của đạo học Việt Nam mà còn đánh thức nguồn sức mạnh di sản, thắp sáng khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ hôm nay.
Phường Yên Nghĩa hưởng ứng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

Phường Yên Nghĩa hưởng ứng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

LNV - Hưởng ứng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, chiều 14-9, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Yên Nghĩa phối hợp với UBND phường tổ chức hội nghị triển khai các hoạt động tuyên truyền, vận động, góp phần lan tỏa thói q
Doanh nghiệp cùng Gaia chung sức trồng gần 70.000 cây rừng đầu nguồn

Doanh nghiệp cùng Gaia chung sức trồng gần 70.000 cây rừng đầu nguồn

LNV - Ngày 12/9, tại Vườn quốc gia Cúc Phương, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia phối hợp cùng các doanh nghiệp triển khai hoạt động trồng rừng trong khuôn khổ chương trình “Chung sức trồng rừng 2026”. Chương trình hướng tới trồng gần 70.000 cây bản địa
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động