Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ

LNV - Nguồn nguyên liệu là 'nút thắt cổ chai' lớn nhất của ngành thủ công mỹ nghệ và đòi hỏi một chiến lược tái cấu trúc toàn diện từ cấp vùng đến liên kết vùng.

Gánh nặng nguyên liệu đầu vào với các làng nghề thủ công Hà Nội

Là một địa phương có các làng nghề gốm sứ nổi tiếng như Kim Lan, Bát Tràng. Ngành gốm sứ không chỉ mang lại giá trị văn hóa lịch sử mà còn đóng góp vào kinh tế, việc làm, du lịch cho các làng nghề Hà Nội.

Thị trường xuất khẩu mở rộng, điều này đồng nghĩa với nhu cầu nguồn nguyên liệu ổn định, có chất lượng cao, giá hợp lý ngày càng cao. Ông Đào Việt Bình, Chủ tịch Hiệp hội gốm sứ Kim Lan, cho hay, nhu cầu hàng năm tại Hà Nội ước tính đất sét, cao lanh khoảng 80.000 - 100.000 tấn; tràng thạch, thạch anh khoảng 10.000 tấn; men, phụ gia khoảng 2.000 - 3.000 tấn. Tuy nhiên, phần lớn nguyên liệu phải mua từ các tỉnh ngoài Hà Nội như là Phú Thọ, Quảng Ninh, Lào Cai và một phần nhập khẩu.

Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ
Nghệ nhân gốm Kim Lan hoàn thiện tác phẩm

Mặt khác, chuỗi cung ứng nguyên liệu hiện còn nhiều bất cập. Theo đó, nguồn cung phụ thuộc vào thương lái trung gian; khó tiếp cận các mỏ đất chất lượng vì các mỏ đó sau khi khai thác đã được bán cho các doanh nghiệp nước ngoài với giá thành cao so với doanh nghiệp trong nước; giá nguyên liệu biến động mạnh; chưa có hệ thống logistics chuyên biệt và chất lượng nguyên liệu không đồng đều. Đặc biệt, một số nguyên liệu đặc biệt như men màu zircon, oxit kim loại tinh chế vẫn phải nhập khẩu với giá cao, làm tăng đáng kể chi phí sản xuất.

Với kỹ thuật cắt, mài, gắn tỉ mỉ từng mảnh vỏ trai, vỏ ốc lên bề mặt gỗ, khảm trai đã trở thành một nét đặc sắc trong kho tàng thủ công mỹ nghệ của Hà Nội. Thế nhưng, giữa guồng quay phát triển của kinh tế thị trường, nghề truyền thống này đang đối mặt với không ít khó khăn, đặc biệt là về nguồn nguyên liệu.

Ông Nguyễn Vinh Quang, Chủ tịch Hiệp hội Khảm trai Phú Xuyên (Hà Nội) cho hay, nguyên liệu chính của nghề khảm trai là vỏ trai, vỏ ốc và vỏ điệp, đây đều là những loại nguyên liệu tự nhiên ngày càng khan hiếm. Trước đây, các loại vỏ này có thể thu mua dễ dàng với giá hợp lý. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức trong nhiều năm, cộng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các quy định nghiêm ngặt về bảo tồn sinh học đã khiến nguồn cung trở nên thiếu ổn định.

Tình trạng khan hiếm không chỉ đẩy giá nguyên liệu tăng cao, trong đó, có loại vỏ trai quý hiếm hiện nay có thể lên tới hàng trăm nghìn đồng mỗi kg, mà còn gây áp lực lớn đến chi phí sản xuất. Trong khi đó, chất lượng nguyên liệu lại không đồng đều, khiến nghệ nhân phải tốn nhiều thời gian lựa chọn, xử lý, thậm chí có khi phải loại bỏ hoàn toàn nếu không đạt yêu cầu kỹ thuật. Sự lãng phí này càng làm gia tăng chi phí đầu vào.

Theo số liệu khảo sát mới nhất của Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Hà Nội, trung bình một năm các làng nghề mây tre đan của Hà Nội tiêu thụ khoảng 6.800 tấn nguyên liệu các loại. Trong đó, trung bình một doanh nghiệp tiêu thụ khoảng 50 tấn nguyên liệu một tháng; các làng nghề gốm sứ tiêu thụ khoảng 620.000 tấn nguyên liệu, chủ yếu là đất sét và cao lanh; các làng nghề sơn mài khoảng 4.000 tấn, làng nghề gỗ khoảng 1 triệu m3 gỗ. Tuy nhiên, nguồn cung nguyên liệu chưa ổn định là một trong những nguyên nhân làm cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội vẫn còn thiếu sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Áp lực từ chính vùng nguyên liệu

Không chỉ các làng nghề chịu tác động, ngay cả những địa phương có thế mạnh về nguyên liệu cũng đang đối mặt với tình trạng suy giảm tài nguyên và thiếu liên kết chuỗi.

Tại Phú Thọ, ông Hoàng Xuân Tiến, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp, cho biết, địa phương hiện sở hữu ba nhóm nguyên liệu chính: nguyên liệu tại chỗ (tre, nứa, lá nón, gỗ rừng trồng, cây làm hương), nguyên liệu nhập từ tỉnh ngoài và nguyên liệu công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên, việc thiếu quy hoạch và bảo tồn khiến nhiều vùng nguyên liệu ngày càng thu hẹp. Tre, nứa bị khai thác không bền vững; một số giống quý gần như biến mất. Gỗ rừng trồng tuy nhiều nhưng chất lượng thấp, không đáp ứng yêu cầu sản xuất tinh xảo; cây làm hương như bời lời, dẻn cũng dần mai một.

Nguồn nguyên liệu tre, luồng
Nguồn nguyên liệu tre, luồng

Trong khi đó, nguyên liệu cao cấp như sơn mài, gỗ quý, sợi dệt, kim loại vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập ngoài, đẩy chi phí đầu vào tăng cao. Một số hộ sản xuất sử dụng nguyên liệu trôi nổi để tiết giảm chi phí, làm giảm chất lượng và uy tín sản phẩm.

Điểm yếu lớn nhất là thiếu liên kết bền vững giữa vùng nguyên liệu và các cơ sở sản xuất. Hầu hết nguyên liệu được thu mua qua thương lái nhỏ lẻ, không có hợp đồng ổn định, dẫn đến chất lượng khó kiểm soát và giá cả bấp bênh. Một số hợp tác xã đã tổ chức vùng nguyên liệu riêng nhưng quy mô còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất lớn. Ngoài ra, khâu sơ chế nguyên liệu tại chỗ còn hạn chế: tre nứa chưa xử lý chống mối mọt, gỗ chưa được sấy tẩm đúng kỹ thuật, lá nón chưa đạt tiêu chuẩn – ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và khả năng xuất khẩu.

Trong khi đó, Nghệ An lại đang nổi lên là vùng nguyên liệu lâm sản tiềm năng, đặc biệt là với luồng và nứa – hai loại nguyên liệu lý tưởng cho ngành đan lát thủ công. Theo ông Hoàng Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn Phát triển Công Thương Nghệ An, luồng Nghệ An nổi bật với đặc điểm lóng dài, thẳng, rất phù hợp cho các sản phẩm mây tre đan xuất khẩu.

Ngoài lợi thế nguyên liệu tại chỗ, Nghệ An còn có khả năng kết nối với vùng biên giới Lào để hình thành các trạm thu mua, trung chuyển nguyên liệu về cho các làng nghề trong nước. Với 82 km bờ biển và lực lượng lao động dồi dào, tỉnh cũng có tiềm năng phát triển vùng nguyên liệu vỏ trai, vỏ ốc cho ngành khảm trai.

Tuy vậy, ông Tuấn cũng cho biết việc thiếu đầu mối cung ứng gỗ ổn định như gỗ sưa, gỗ nhãn đang là điểm nghẽn, khiến nhiều doanh nghiệp không dám nhận đơn hàng lớn. Quy hoạch vùng nguyên liệu hiện còn phân tán, thiếu phân tầng, gây khó khăn cho việc quản lý và phát triển lâu dài.

“Chúng tôi sẵn sàng đồng hành cùng các bộ, ngành và doanh nghiệp để hình thành chuỗi cung ứng nguyên liệu bài bản, từ khai thác, sơ chế đến phân phối”, ông Tuấn khẳng định.

Cần thiết lập chuỗi cung ứng chuyên nghiệp

Để giải quyết bài toán nguyên liệu cho ngành thủ công mỹ nghệ một cách bền vững, cần thiết phải thúc đẩy liên kết hợp tác toàn diện giữa các bên trong chuỗi giá trị, từ tạo vùng nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến phân phối. Ông Lê Bá Ngọc, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam cho rằng, bên cạnh đẩy mạnh liên kết về xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết trong khâu chế biến nguyên liệu thì cần đẩy mạnh mô hình hợp tác công – tư – cộng đồng.

“Khác với mô hình PPP (đối tác công – tư), trong bối cảnh hiện nay, các chuỗi cung ứng quốc tế ngày càng yêu cầu minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc đến từng hộ sản xuất. Do đó, cần thiết mở rộng hợp tác theo hướng “công – tư – cộng đồng”, trong đó có sự tham gia đầy đủ của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân/hộ sản xuất”, ông Ngọc chia sẻ và cho rằng, Sở Công Thương các địa phương cần nghiên cứu đề xuất cơ chế ưu tiên, hỗ trợ các doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia vào các mô hình liên kết này.

Ông Hoàng Xuân Tiến cho rằng, ngành thủ công mỹ nghệ Phú Thọ cần một chiến lược tái cấu trúc chuỗi cung ứng nguyên liệu một cách tổng thể. Trước mắt, cần thiết lập lại hệ thống vùng nguyên liệu với địa chỉ hành chính rõ ràng, từ đó xây dựng chuỗi liên kết giữa người trồng, cơ sở sơ chế, nhà sản xuất và thị trường tiêu thụ.

Đồng thời, cần khảo sát, đánh giá tiềm năng nguyên liệu bản địa, lựa chọn cây trồng đặc trưng để bảo tồn, nhân giống và phát triển theo hướng hàng hóa chất lượng cao. Các công đoạn sơ chế như xử lý, sấy khô, phân loại nguyên liệu cũng cần được đầu tư để tăng giá trị gia tăng và giảm phụ thuộc nguồn ngoài.

“Các địa phương, đặc biệt là Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, hỗ trợ kết nối giao thương, tạo điều kiện cho Phú Thọ hợp tác cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ bán thành phẩm và sản phẩm thủ công mỹ nghệ”, ông Tiến đề xuất.

Nguyên liệu đầu vào chính là yếu tố quyết định chất lượng, giá thành và năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Giải quyết bài toán nguyên liệu chính là bước khởi đầu để các làng nghề tiếp tục phát triển bền vững, gìn giữ giá trị truyền thống và vươn ra thị trường quốc tế.

Nguyễn Hạnh/congthuong.vn

Tin liên quan

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Luật Thủ đô có tác động giảm ô nhiễm môi trường làng nghề Hà Nội

Luật Thủ đô có tác động giảm ô nhiễm môi trường làng nghề Hà Nội

LNV - Việc Luật Thủ đô chính thức đi vào đời sống đã mở ra cơ chế tự chủ mạnh mẽ cho Hà Nội trong di dời cơ sở sản xuất khỏi khu dân cư, làng nghề nông thôn vào các cụm công nghiệp tập trung. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề, hướng tới xây dựng Thủ đô xanh, sạch và phát triển bền vững.

Tin mới hơn

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.

Tin khác

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Rượu Đế Vương: Hành trình 24 năm gìn giữ hồn rượu truyền thống, nâng tầm sản phẩm OCOP

Rượu Đế Vương: Hành trình 24 năm gìn giữ hồn rượu truyền thống, nâng tầm sản phẩm OCOP

LNV - Từ một người thợ may, ông Nguyễn Văn Liên đã tình cờ bén duyên với nghề nấu rượu truyền thống của gia đình. Sau 24 năm gắn bó, bằng sự kiên trì, tâm huyết và tinh thần không ngừng nâng cao chất lượng, ông đã gây dựng thương hiệu rượu Đế Vương, trong
Trường THPT Trung Giã: Gieo mầm xanh, gắn kết các thế hệ vì tương lai bền vững

Trường THPT Trung Giã: Gieo mầm xanh, gắn kết các thế hệ vì tương lai bền vững

LNV - Sáng 8/8, tại khuôn viên Trường THPT Trung Giã, chương trình “Trồng cây vì một tương lai xanh, bền vững” được tổ chức với sự tham gia của lãnh đạo địa phương, cán bộ, giáo viên, học sinh và nhiều thế hệ cựu học sinh. Gần 70 cây xanh đã được trồng tạ
Mục tiêu xuất khẩu nông sản 100 tỷ USD: Gỡ “nút thắt” để xuất khẩu thủy sản về đích

Mục tiêu xuất khẩu nông sản 100 tỷ USD: Gỡ “nút thắt” để xuất khẩu thủy sản về đích

LNV - Mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam lên khoảng 95-100 tỷ USD vào năm 2030 là mục tiêu lớn nhưng có cơ sở, nhất là khi mỗi ngành hàng đều nỗ lực vươn lên, đóng góp vào mục tiêu này. Phóng viên Báo Điện tử Chính phủ đã có c
Hiệp hội làng nghề TP Hải Phòng: tăng cường kết nối, mở rộng thị trường cho làng nghề

Hiệp hội làng nghề TP Hải Phòng: tăng cường kết nối, mở rộng thị trường cho làng nghề

LNV - Ngày 8/8/2026, Hiệp hội Làng nghề thành phố Hải Phòng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị tập trung đánh giá kết quả đạt được, tháo gỡ khó khăn từ thực tiễn và thống nh
Nghệ thuật thực cảnh nhập vai: Khám phá trải nghiệm du lịch ở Nà Hang (Tuyên Quang)

Nghệ thuật thực cảnh nhập vai: Khám phá trải nghiệm du lịch ở Nà Hang (Tuyên Quang)

Ngày 9/8/2026, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật (22 Hàng Buồm, Hà Nội) đã diễn ra cuộc họp báo giới thiệu chương trình nghệ thuật “Long mạch Nà Hang – Huyền thoại trên mặt nước”. Đây là sản phẩm du lịch lần đầu tiên được ra mắt tại Tuyên Quang theo hình thức biểu diễn thực cảnh nhập vai (Immersive real-scene show). Công ty TNHH Sự kiện và Truyền thông Viettimes là đơn vị thực hiện. Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo UBND xã Nà Hang, Tuyên Quang cùng đông đảo các nghệ sĩ, diễn viên, người nổi tiếng.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động