Hà Nội: 33°C Hà Nội
Đà Nẵng: 27°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 33°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 25°C Thừa Thiên Huế

Một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Khơ Mú ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam

LNV - Người Khơ Mú ở Việt Nam thường được các dân tộc khác gọi là: Xá Cẩu, Tày Hạy. Với tổng số dân vào khoảng trên dưới 56.542 người, họ cư trú ở các vùng rẻo cao, vùng giữa thuộc các vùng Tây Bắc và Thanh Nghệ của Việt Nam.
Sống ở vùng rẻo giữa và rẻo cao thuộc vùng núi, người Khơ Mú chuyên sống bằng trồng trọt. Trong đó có trồng trọt trên nương là chính. Do kết quả của công tác định canh, định cư những năm qua ở nhiều nơi, ngày nay họ còn khai thác đất dốc làm ruộng bậc thang để trồng lúa nước, tuy diện tích sản lượng không đáng kể.

Trong hoạt động kinh tế của người Khơ Mú thủ công nghiệp đóng vai trò hỗ trợ cho trồng trọt nương rẫy, chăn nuôi, san bắn và hái lượm. Chính vì thế từ xưa tới nay thủ công chủ yếu là hoạt động kinh tế phụ trong các gia đình, chưa thấy xuất hiện làng nghề, thợ thủ công hoạt động có tính chuyên nghiệp. Tuy nhiên, các hoat động thủ công cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của họ.

Một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Khơ Mú ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam

Trong đó đáng chú ý nhất là nghề đan lát mây tre. Nghề đan lát của người Khơ Mú cung cấp công cụ, đồ dung cho các hoạt động kinh tế trong sinh hoạt hàng ngày, để bán đổi lấy lương thực, vải, quần áo, đồ rèn, trang sức. Đồ đan của người Khơ Mú rất bền và đẹp nổi tiếng, là nguồn lợi lớn của họ, được các đân tộc quanh vùng ưa dùng.

Nghề đan

Đan lát là nghề thủ công truyền thống lâu đời của người Khơ Mú. Trong tình trạng một nền kinh tế tự túc, tự cấp, trong gia đình thì việc đan lát tự tạo ra mọi đồ dùng là vô cùng quan trọng. Đối với người Khơ Mú, tất cả các phương thức vận chuyển, đồ dùng gia đình (đựng lương thực, thực phẩm, quần áo) quà tặng cho khách, đồ sính lễ trong đám cưới. Đều là sản phẩm đan lát và vì thế đan lát là một nhu cầu cần thiết trong đời sống cũng như hoạt động kinh tế, văn hóa của người Khơ Mú.

Nguyên liệu dùng để đan:

Người Khơ Mú cư trú trên các sườn núi có rừng bao phủ dọc biên giới Việt - Lào thuộc các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nghệ An và một số ở Văn Chấn, Nghĩa Lộ, địa hình mà đồng bào Khơ Mú cư trú rất giàu nguyên liệu cho nghề đan lát. Người Khơ Mú rất giỏi phân biệt lựa chọn các loại mây, tre cho nghề đan dùng để đan các loại sản phẩm khác nhau.

Tre: là loại tre nhỏ có tiết diện ngang thân với đường kính khoảng 3- 4cm loại tre này thân đặc, gióng dài, mềm và dai không hay gãy thường được dùng để đan lát các đồ dùng đòi hỏi có kỹ thuật cao tinh sảo …(Ép Mah, Tuốc Đen).

Một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Khơ Mú ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam

Tuốc là loại tre to được dùng nhiều trong đan lát, loại tre này có độ dẻo, cứng vừa phải dùng để đan phần lớn các đồ dùng trong nhà (Phun, Gùi, EEng, Ép). Loại tre này dễ khai thác, dễ chế biến thành nan (Khar) với trữ lượng lớn.

R’hang là loại tre này to hơn cả, độ dầy thân tre mỏng lên hay được dùng để đan các tấm phơi, tấm tre mưa nắng hoặc đập dập làm sàn nhà.

Choi là loại tre thường có thân to bằng cổ tay người lớn, có thân rắn chắc, có độ dẻo kém nên được dùng để đan các đồ đựng lớn (Thôi, Khóe)

Mây (Ploang) là một trong những loại nguyên liệu quý dùng để đan những đồ dùng như mặt mâm (Phươn) là chính… So với các loại tre đồ mây ngày nay hiếm dần.

Ngoài loại mây tre trên đây họ còn dùng một số loại như (May Qua, Tà Nà, May Hay).

Với kinh nghiệm cổ truyền của người Khơ Mú thường khai thác nguyên liệu vào tháng 9 cho đến hết năm âm lịch, như vậy nguyên liệu ít bị mọt, tre mang về được pha thành nan từ lúc còn tươi dẻo để đỡ bị gãy.

Công cụ chế biến nan chủ yếu dùng là dao (Veo) đây là loại dao có bản, sắc và nặng, có chiều dài thân dao khoảng 60cm. Người Khơ Mú gọi là dao nan (Veo Khar). Đây là sản phẩm do người Hơ Mông rèn ra. Nghề đan lát là nghề truyền thống dành cho người đàn ông Khơ Mú. Nan dùng để đan tấm trải sàn nhà (Tưng Ai Sắt). Nan loại này lấy từ cật tre với kỹ thuật đan nối trồng nan lên nhau, dấu đầu mối rất khéo, nan còn dùng để đan các đồ đựng đồ đạc như quần áo, lương thực, khi đan họ tạo ra những màu sắc tùy ý bằng nan nhuộm màu, hun khói, các nan còn dùng để đan có màu vàng, nâu trông rất đẹp lại chống mọt, những bộ phận nhỏ của sản phẩm như quai, tay xách, cạp thì được dùng mây dẻo để đan.

Trong gia đình người Khơ Mú, mọi người đều biết đến các sản phẩm đan lát.
Trong gia đình người Khơ Mú, mọi người đều biết đến các sản phẩm đan lát.

Kỹ thuật đan:

So với các dân khác trong vùng người Khơ Mú có kỹ thuật đan vượt xa và khá đặc sắc theo kiểu lóng mốt, lóng đôi có nhiều cách đan mà chỉ có riêng của người Khơ Mú như kiểu đan (Ta Leo Hô) dùng để đan mặt mâm, hay đan đáy mặt nắp của các loại (Ép, Bung, Gùi), tạo hoa văn hình xương cá chạy quanh thân của các đồ đan này .

Kiểu đan lóng ba hay được dùng để đan phần tiếp giáp giữa thân và đáy của các loại (Ép), như (Ép Mah) nhằm tạo ra hoa văn hình xương cá nằm ngang, lớn hơn hoa văn trên thân Ép.

Kiểu đan (Lay Ăm) giống như kiểu đan nong, nia của người việt tạo ra những sản phẩm để phơi thóc, lúa , ngô, và các sản phẩm dùng trong sinh hoạt gia đình hàng ngày.

Các loại sản phẩm đan:

Sản phẩm đan dùng trong việc vận chuyển như Gùi (Eng), là loại công cụ chính trong vận chuyển của người Khơ Mú đây là loại Gùi có đáy vuông, phần dáy được đan kiểu lóng mốt, phần thân Gùi đan kiểu lóng đôi hình quả tram, chạy quanh thân Gùi. Gùi là loại sản phẩm đan lát đặc biệt của người Khơ Mú về kỹ thuật chế tác, kiểu đan. Cùng với chiếc mâm bằng mây cũng là sản phẩm đặc trưng. Trong gia đình mỗi thành viên có một cái Gùi là vật dụng không được đem bán hoặc đổi.

Những người con trai Khơ Mú ở bản sinh ra đã có năng khiếu đan lát.
Những người con trai Khơ Mú ở bản sinh ra đã có năng khiếu đan lát.

(MBung) là đồ dùng để đựng ngô, lúa, rau, quả khi đi làm nương, loại nhỏ thường cho phụ nữ dùng, đeo bên hông khi đi chợ, loại Ép này có hình dáng đẹ, loại Ép nhỏ thường được dùng làm quà tặng của người đàn ông Khơ Mú cho bạn gái, loại này được đan rất đẹp theo kiểu cổ truyền.

Loại (Ep Mah) là loại dùng để đựng cơm xôi khi đi nương gọi là (Côn Khẩu)

(Tur Đen) là chiếc hộp nhỏ xinh được đan bằng tre dùng để đựng kim chỉ của các bà các cô, người Khơ Mú coi (Tur Đen) là vật quý dùng làm quà tặng cho người bạn đời, là quà tặng không được bán và người được tặng phải giữ suốt đời.

Một sản phẩm đan khá phổ biến của người Khơ Mú là Phên Phơi (Miên) dùng để phơi lúa , ngô, Phên Phơi này được đan kỳ công, các tấm trải, Phên này được đan bằng loại nan cật tre mềm và dẻo đan theo kiểu lóng đôi.

Trong nhà người Khơ Mú thường có các loại bồ (Khơ Rẹ) để đựng thóc ngô..., giỏ đựng đồ vật như kim chỉ, lược, thuốc men thường được đan rất tinh xảo.

Trong gia đình người Khơ Mú có một loại quạt được làm bằng tre, nứa để quạt thóc, quạt bếp do người con dâu làm để tặng mẹ chồng, loạt quạt này được đan theo kiểu lóng một, mỏng, nhẹ, hoặc đan các loại rá để đựng thức ăn Cái quạt, chiếc rá là sản phẩm duy nhất do người phụ nữ Khơ Mú làm ra

Mâm mây (Phươn Đơn Plong) đây là sản phẩm đặc trưng nhất của người Khơ Múđược các dân tộc khác trong vùng ưa dùng như người Thái, người Kháng, người Dao, Xinh Mun thường mua mâm mây của người Khơ Mú để dùng. Mâm được đan bằng tre và mây gồm 2 bộ phận chính là mặt mâm và thân mâm. Mặt mâm hình tròn có đường kính 60- 70 cm đan bằng tre theo kiểu (Ta Le Ho) khoảng 10cm. vành ngoài cùng của mâm được đan bằng các sợi mây theo hình sóng (hình sin). Thân mâm là một vòng tròn hình trụ cao khoảng 15- 20cm. Thân mâm được đan bằng tre, đan hình mắt cáo, thưa, thoáng và tạo hoa văn mềm mại. Vành đáy thân mây thường làm bằng tre vót nhẵn, hoặc cây song uốn tròn lại.

Mâm là sản phẩm thể hiện rõ nhất về kỹ thuật cao trong đan lát truyền thống của người Khơ Mú. Mặt mâm được đan theo một cách duy nhất và khó nhất, người Khơ Mú gọi là (TE LA HO) thường chỉ các cụ già giàu kinh nghiệm mới đan được. Mâm mây là sản phẩm có giá đắt nhất của người Khơ Mú.

Nghề đan lát truyền thống của đồng bào Khơ Mú có từ rất lâu đời, được truyền theo phương thức “cha truyền con nối” là chủ yếu.“cha truyền con nối” là chủ yếu
Nghề đan lát truyền thống của đồng bào Khơ Mú có từ rất lâu đời, được truyền theo phương thức “cha truyền con nối” là chủ yếu.“cha truyền con nối” là chủ yếu

Đồ để ngồi trong gia đình Khơ Mú là chiếc ghế mây (Xinh Đơn Phong). Ghế mây này có kiểu dáng gần giống với mâm mây, nhưng mặt ghế lại nhỏ hơn chân ghế, ghế mây nhìn như hình chóp cụt cao khoảng 10 – 15cm mà mặt ghế là mặt cắt nhỏ phía trên của chóp cụt. Mặt ghế được đan bằng mây, được căng trên một chiếc cạp hình tròn bằng tre cứng hoặc song uốn lại. Mặt ghế được căng trên một chiếc cạp hình tròn.

Trong nghề thủ công truyền thống có sự tổ chức và phân công lao động đặc biệt. Nếu may vá và bếp núc, nuôi con là việc của ngừơi phụ nữ thì đan lát là việc của người đàn ông. Người đan ông Khơ Mú càng cao tuổi càng có nhiều kinh nghiệm trong việc đan lát. Người Khơ Mú coi việc đan lát để đánh giá năng lực tài giỏi khéo léo của người đàn ông tuy nghề đan lát chỉ là nghề phụ trong hoạt động kinh tế của họ. Việc truyền nghề hoàn toàn tự nhiên từ khi người con trai Khơ Mú ở độ tuổi 10 – 15.

Ngoài đan lát người Khơ Mú còn nhiều nghề thủ công khác như dệt và làm mộc. Tuy vậy các nghề này không phát triển nhiều mà chỉ là những hoạt động có tính chất phục vụ cho bản thân hoặc gia đình. Sống gần người Thái người phụ nữ Khơ Mú có học được ít nhiều về việc dệt vải, trồng bông, chế biến sợi bông. Khung dệt vải của họ khá đơn sơ, vải dệt song được nhuộm bằng lá chàm (Chala Chàm).

Tuy đơn giản nhưng nghề mộc cũng có một vai trò nhất định trong việc chế tác các đồ gỗ trong gia đình như là ghế gỗ, mâm gỗ, cối gỗ để giã các loại hạt.

Có nơi người ta có thể làm được ngôi nhà sàn nhỏ bằng gỗ, khi làm nhà to thì họ phải thuê người Thái làm hoặc thuê thợ ở dưới xuôi lên

Nhìn môt cách tổng quát nghề đan lát và một số nghề thủ công đơn giản được tồn tại một cách bền bỉ trong đời sống của người Khơ Mú nó thể hiện những nét đẹp về bản sắc văn hóa của người Khơ Mú, tính nhân văn sâu sắc như các sản phẩm của người đàn ông Khơ Mú tặng bạn gái, hay cái quạt, cái rá mà các cô dâu thường làm để tặng mẹ chồng.

Ngày nay tại các bản làng Khơ Mú, những tập quán đẹp đó vẫn tồn tại cùng sự trường tồn của bản sắc văn hóa Khơ Mú.

PGS TS Nguyễn Thị Thanh Nga

Tin liên quan

Một dòng sông, nhiều điểm chạm: Mường Lay học cách giữ chân người ở lại

Một dòng sông, nhiều điểm chạm: Mường Lay học cách giữ chân người ở lại

Giữa đại ngàn Tây Bắc, nơi ba dòng nước gặp nhau, phường Mường Lay như một nốt lặng xanh thẳm. Nơi đây không thiếu cảnh đẹp, không thiếu bản sắc, nhưng đã có một thời thiếu những cái bắt tay. Khi mỗi sản phẩm còn đứng riêng lẻ, du lịch chỉ là những lát cắt rời rạc. Và rồi, từ những hợp tác xã cộng đồng, sự nhập cuộc của chính quyền và người dân, một tư duy mới dần hình thành - tư duy liên kết. Đó không chỉ là cách làm du lịch, mà là con đường để Mường Lay cất cánh.
Nghề làm bún Đa Mai

Nghề làm bún Đa Mai

LNV - Trong khi nhiều làng nghề thủ công truyền thống đang phải đối mặt với nguy cơ mai một bởi khó khăn về đầu ra sản phẩm thì nghề làm bún tại phường Đa Mai, Bắc Giang (nay là Bắc Ninh) lại ngày càng phát triển, tạo thu nhập ổn định và đem lại cuộc sống khấm khá cho nhiều hộ dân.
Những làng dệt thổ cẩm ở Tây Bắc

Những làng dệt thổ cẩm ở Tây Bắc

LNV - Tây Bắc không chỉ cuốn hút du khách bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những nét văn hóa đặc sắc, trong đó nổi bật là nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Mông. Từ Lùng Tám (Hà Giang), Cát Cát (Sapa) đến Sin Suối Hồ (Lai Châu), mỗi bản làng đều lưu giữ và phát triển nghề dệt lanh, nhuộm chàm, thêu sáp ong – tạo nên những sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa, được yêu thích bởi cả du khách trong và ngoài nước.

Tin mới hơn

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:

Tin khác

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

LNV - Sau khi thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và huyện theo Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ vào năm 2025, tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ thống quản lý hành chính tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ (TCMN) theo hướng bền vững và chuyên sâu.
Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức phong tặng Danh hiệu Làng nghề Việt Nam lần thứ XII, dự kiến vào đầu tháng 12 năm nay, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2005- 2025), Phóng viên Tạp chí Làng nghề Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn NGƯT Trịnh Quốc Đạt, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội

Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội

LNV - Hà Nội vừa là một thủ đô của các ngành nghề thủ công mỹ nghệ đặc sắc, vừa là trung tâm du lịch lớn của đất nước.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Quảng Trị lựa chọn Lệ Thủy và Cam Lộ xây dựng mô hình nông thôn số giai đoạn 2026- 2030

Quảng Trị lựa chọn Lệ Thủy và Cam Lộ xây dựng mô hình nông thôn số giai đoạn 2026- 2030

LNV - UBND tỉnh Quảng Trị vừa lựa chọn hai xã Lệ Thủy và Cam Lộ để triển khai thí điểm mô hình xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026 - 2030.
Nông nghiệp tái sinh tạo động lực mới cho ngành cà phê Việt Nam

Nông nghiệp tái sinh tạo động lực mới cho ngành cà phê Việt Nam

LNV - Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt các yêu cầu về phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải carbon
Tăng tốc thi công, đưa đường dây 220 kV Than Uyên -  Lào Cai về đích đúng kế hoạch tháng 9

Tăng tốc thi công, đưa đường dây 220 kV Than Uyên - Lào Cai về đích đúng kế hoạch tháng 9

LNV - Các đơn vị thi công dự án đường dây 220 kV Than Uyên – Lào Cai đang dồn lực tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu đưa dự án này về đích trong tháng 9/2026.
Cao Bằng: OCOP tạo sức bật cho sản phẩm nông nghiệp

Cao Bằng: OCOP tạo sức bật cho sản phẩm nông nghiệp

Các sản phẩm ở tỉnh Cao Bằng như miến dong, hạt dẻ, thạch đen hay các loại dược liệu bản địa, đang dần có chỗ đứng trên thị trường
Quảng Trị: chọn 38 sản phẩm và bộ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu

Quảng Trị: chọn 38 sản phẩm và bộ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu

Quảng Trị vừa tổ chức họp xét, công bố các sản phẩm đủ điều kiện công nhận sản phẩm công nghiệp nông thôn (CNNT) tiêu biểu năm 2026.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động