Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Thủ công mỹ nghệ đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng

Các nghề thủ công truyền thống đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao như trống đồng, điêu khắc gỗ và đá, sơn mài, đồ gốm trong các đình, chùa, bảo tàng và sưu tập cá nhân. Các nghề thủ công truyền thống đang lưu giữ còn lưu truyền lại cho đời sau cả một hệ thống kỹ thuật làm nghề, với những kinh nghiệm phong phú và bí quyết riêng của từng làng nghề; để lại hàng vạn mẫu sản phẩm tinh tế, đẹp mắt, tiêu biểu cho nghề mà người thợ thủ công Việt Nam vẫn đang dựa vào đó để sản xuất. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trước kia chỉ để phục vụ tâm linh và những nhu cầu hàng ngày trong dân, trong nhiều năm nay đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng, ngày càng mở rộng trên thị trường thế giới, đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước.

Hiện nay cả nước có hơn 2.800 làng có nghề thủ công, trong đó hơn 1.500 làng thu nhập chủ yếu từ nghề thủ công, nhiều làng hoàn toàn sống bằng nghề thủ công, không làm nông nghiệp nữa. Những làng nghề đó đem lại công ăn việc làm cho hơn 1,3 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và hơn 3 triệu nông dân tham gia làm nghề thủ công. Ngoài ra còn có rất nhiều cơ sở sản xuất hàng thủ công trong các thành phố.

Các nghề thủ công phát triển rộng khắp trong các địa phương từ Bắc chí Nam, từ niền núi đến miền biển. Mỗi vùng có một nét riêng biệt phù hợp với đặc điểm về nguyên liệu, về văn hóa và lối sống của từng vùng. Tuy vậy, các nghề thủ công vẫn phát triển tập trung nhất ở đồng bằng sông Hồng, với hơn 2.000 làng nghề ( chiếm hơn 70% số làng nghề trong toàn quốc ). Đó là chưa kể đến nghề dệt thổ cẩm có tính chất tự cung tự cấp của các dân tộc miền núi.

Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có lối sống riêng, phong tục tập quán riêng, thói quen sử dụng đồ vật riêng. Riêng dân tộc Kinh sống trải dài 2.000 km suốt từ Bắc chí Nam với những điều kiện về thổ nhưỡng, địa lý, khí hậu khác nhau cũng tạo nên thói quen sử dụng đồ vật khác nhau. Nghề thủ công lại phát triển theo làng, theo vùng miền. Sự phong phú về truyền thống văn hóa và tập quán đó đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cho các nghề thủ công; cùng một loại sản phẩm, một công dụng, nhưng hình thức mỗi nơi mỗi khác. Vì thế các sản phẩm thủ công của các dân tộc, các vùng miền đều có những hình thức rất khác nhau, làm giàu thêm sự phong phú, đa dạng cho các sản phẩm thủ công của đất nước.

Hơn 50 năm qua, Việt Nam luôn tăng cường xuất khẩu hàng thủ công, mẫu sản phẩm do khách hàng mang vào đặt hàng cũng góp phần rất quan trọng làm tăng thêm sự phong phú, đa dạng cho sản phẩm thủ công. Các nghệ nhân vừa dựa vào mẫu hàng truyền thống, vừa theo yêu cầu của thị trường để sáng tạo ra hàng vạn mẫu hàng mới, khiến cho các nghề thủ công mọi miền luôn phát triển và có dung mạo mới, đáp ứng kịp với những những nhu cầu và thị hiếu mới của thị trường ngày càng mở rộng.

Người thợ thủ công Việt Nam thường rất coi trọng kỹ thuật, và lấy sự tinh xảo để đánh giá chất lượng sản phẩm, vẻ đẹp của sản phẩm cũng được tạo nên từ sự tinh tế trong kỹ thuật tạo hình và trang trí trên sản phẩm. Vì thế phần lớn sản phẩm thủ công đều thể hiện được kỹ thuật tinh xảo riêng của từng nghề.

Những yếu điểm của các nghề thủ công ngày càng bộc lộ rõ

Xuất phát từ sự am hiểu đặc tính của các loại nguyên liệu, đồng thời với ý thức tiết kiệm, những người thợ thủ công Việt Nam rất khéo sử dụng nguyên liệu để tạo nên sản phẩm hợp lý nhất. Ngoài các loại thân cây làm nguyên liệu chính, rễ cây, nhựa cây, vỏ cây, lá cây, hoa, quả ... đều có thể sử dụng để làm những sản phẩm nhỏ, làm thuốc nhuộm màu, làm keo dán và chất phủ bề mặt sản phẩm. Ngay đến những gốc cây, gốc tre cũng có thể dùng để tạo thành các sản phẩm nghệ thuật, hầu như không có gì phải bỏ đi.

Nhưng kỹ thuật thủ công tinh xảo và cách sử dụng nguyên liệu thiên nhiên rất khéo léo đó không đủ để sáng tạo ra những sản phẩm mới theo kịp các yêu cầu về thẩm mỹ của thị trường, nhất là ở thị trường có mức sống và lối sống cao hơn chúng ta rất nhiều. Những yếu điểm của các nghề thủ công ngày càng bộc lộ rõ rệt, đó là những yếu điểm về thẩm mỹ, về thiết kế, cộng với sự thiếu hiểu biết về thị trường, về những giải pháp kỹ thuật mới có thể áp dụng vào nghề nghiệp. Điều đó làm hạn chế khả năng sáng tạo của các Nghệ nhân, hạn chế giá trị của sản phẩm, và làm cho thu nhập của người thợ thủ công rất thấp mà không sao nâng lên được.

Trong những yếu điểm và hạn chế đối với người thợ thủ công thì quan trọng nhất là về kiến thức thẩm mỹ và kèm theo đó là kỹ năng thiết kế sản phẩm. Điều đó thể hiện rõ trên các sản phẩm, thường là quá cầu kỳ, rắc rối, có tính khoe kỹ thuật tinh xảo quá mức. Một số Nghệ nhân lại sao chép hình thức của các sản phẩm nước ngoài. Điều đó làm hạn chế sự phát triển về mẫu mã sản phẩm, từ đó làm cho sản phẩm thủ công của Việt Nam luôn dừng lại ở mức giá trị thấp, không thể sánh với sản phẩm của các nước.

Trong điều kiện hiện nay nên được tách bạch làm hai lĩnh vực riêng biệt: một bên là các sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao, có tính tác phẩm độc đáo, theo xu hướng nghệ thuật hóa, và một bên là những sản phẩm tiêu dùng, có tính hàng hóa với số lượng lớn. Những tác phẩm độc đáo là sự sáng tạo tự do của các Nghệ nhân, thuần túy có tính thẩm mỹ, chỉ để trưng bày và có giá trị cao. Những sản phẩm tiêu dùng phải được thiết kế cẩn thận, đảm bảo giá trị sử dụng cụ thể, có thể sản xuất với số lượng lớn và có giá cả hợp lý tùy theo từng thị trường. Trên thực tế, những sản phẩm tiêu dùng vẫn cần có tính thẩm mỹ tùy theo cách sử dụng chúng, nhưng tính ích dụng trong cuộc sống hàng ngày vẫn là chính. Thực tế qua các cuộc thi sản phẩm, ranh giới giữa hai lĩnh vực này vẫn không rõ rệt. Một số sản phẩm có tính nghệ thuật vẫn cứ cố đáp ứng yêu cầu sử dụng, làm cho sản phẩm bị giảm tính nghệ thuật và khó đặt mức giá cao. Trong khi đó nhiều sản phẩm tiêu dùng lại cố trang trí cầu kỳ hoặc đưa vào những ý nghĩa cao siêu không cần thiết, làm cho sản phẩm không rõ công năng sử dụng và trở thành quá đắt.

Tuy vậy, yếu điểm lớn nhất của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ hiện nay vẫn là thiếu thiết kế. Vì thế sản phẩm thủ công của Việt Nam tuy vẫn phong phú, nhưng không được đánh giá cao, rất khó bán và luôn bị hạn chế trong tầng giá trị thấp. Điều đó thể hiện rất rõ ngay tại các hội chợ quốc tế khi so sánh với sản phẩm của các nước, và nó cũng thể hiện rõ ngay trong các hợp đồng xuất khẩu.

Tư vấn giúp nâng cao được năng lực sáng tạo

Để nâng cao giá trị của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, vấn đề quan trọng nhất là phải giúp cho các Nghệ nhân tại các cơ sở sản xuất nâng cao được năng lực sáng tạo, đưa ra được những mẫu thiết kế mới đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường.

Theo kinh nghiệm của nhiều chuyên gia thì hoạt động tư vấn là hiệu quả và thiết thực nhất. Với mỗi nghề, cần chọn chuyên gia tư vấn phù hợp và phải có mục tiêu, chương trình cụ thể, thích ứng với từng thị trường và thời điểm định xuất khẩu. Các cơ sở sản xuất cũng phải lựa chọn những người có năng lực sáng tạo, có tay nghề cao để thực hiện ngay các thiết kế mới hình thành trong thời gian tư vấn.

Vũ Hy Thiều - Chủ tịch Hội đồng cố vấn Hiệp hội Thủ công Mỹ nghệ Hà Nộ

Tin liên quan

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Nét đẹp làng nghề truyền thống ở Quảng Bình

Nét đẹp làng nghề truyền thống ở Quảng Bình

LNV - Giữa lòng Quảng Bình – mảnh đất nổi tiếng với vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ – vẫn còn lưu giữ những làng nghề truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa lâu đời. Làng nghề truyền thống ở Quảng Bình không chỉ là nơi sản sinh ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, mà còn là minh chứng sống động cho sự khéo léo, cần cù của người dân địa phương. Ghé thăm những làng nghề này, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng quy trình làm nghề độc đáo mà còn được lắng nghe câu chuyện đầy tự hào phía sau mỗi sản phẩm thủ công.
Thúc đẩy hội nhập quốc tế cho làng nghề truyền thống ở Hà Nội

Thúc đẩy hội nhập quốc tế cho làng nghề truyền thống ở Hà Nội

LNV - Việc bảo tồn và phát triển làng nghề không chỉ dừng lại ở gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống, mà còn là câu chuyện hội nhập, đổi mới sáng tạo và nâng tầm sản phẩm thủ công Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Tin mới hơn

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Quan hệ hợp tác Việt Nam-Myanmar sẽ có những bước phát triển mới, thực chất hơn

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Quan hệ hợp tác Việt Nam-Myanmar sẽ có những bước phát triển mới, thực chất hơn

LNV - Tối 5/9, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân Ngô Phương Ly đã chủ trì tiệc chiêu đãi chào mừng Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing và Phu nhân Kyu Kyu Hla thăm chính thức Việt Nam.
Điện Biên phải đưa ra những bài toán cụ thể để có lời giải về phát triển kinh tế

Điện Biên phải đưa ra những bài toán cụ thể để có lời giải về phát triển kinh tế

LNV - Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Điện Biên về tình hình kinh tế-xã hội vào sáng nay (5/9).
Phu nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân Tổng thống Myanmar thăm làng lụa Vạn Phúc

Phu nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân Tổng thống Myanmar thăm làng lụa Vạn Phúc

LNV - Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing và phu nhân, ngày 5-9, bà Ngô Phương Ly, phu nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cùng bà Kyu Kyu Hla, phu nhân Tổng thống Myanmar, đã đến thăm làng lụa Vạn Ph
Tôn vinh những thiết kế, sáng tạo về trang phục từ cảm hứng Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Tôn vinh những thiết kế, sáng tạo về trang phục từ cảm hứng Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Tối ngày 4/9/2026, tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) đã diễn ra đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu - Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam” do Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức. Cuộc thi nằm trong khuôn khổ các hoạt động hướng tới kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám, trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam (1076–2026).
Đào tạo lái xe an toàn và tập huấn phòng cháy chữa cháy

Đào tạo lái xe an toàn và tập huấn phòng cháy chữa cháy

LNV - Ngày 3/9/2026, tại bãi xe thuộc Cụm Công nghiệp Quất Động, xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Vận tải Phú Sơn (Phú Sơn Auto Logistics) tổ chức chương trình “Đào tạo an toàn và nghiệp vụ lái xe; tập huấn phòng cháy c
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động