Hà Nội: 29°C Hà Nội
Đà Nẵng: 35°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 35°C Thừa Thiên Huế

Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

LNV - Xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu bền vững cho làng nghề Hà Nội nói chung và ngành thủ công mỹ nghệ nói riêng đang là bài toán nan giải, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bên và giải pháp đồng bộ.
Xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam khoảng 3,5 tỷ USD/năm

Để hỗ trợ cho các làng nghề, thời gian qua, Sở Công Thương Hà Nội đã rà soát, phát triển ổn định vùng nguyên liệu cung ứng tại chỗ nhằm bảo đảm cung ứng một phần nguyên liệu cho các làng nghề của thành phố từ các tỉnh/vùng trong nước, các nước trong khu vực.

Hà Nội hiện có khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, chiếm hơn 30% tổng số làng nghề của cả nước. Trong số này, 327 làng nghề đã được UBND thành phố công nhận. với 47/52 nghề trong tổng số nghề truyền thống của cả nước.

Theo báo cáo năm 2024, tổng doanh thu của 327 làng nghề được công nhận ước đạt trên 24.000 tỷ đồng/năm. Một số làng nghề đạt doanh thu cao đáng kể như làng nghề điêu khắc mỹ nghệ Sơn Đồng (đạt trên 3.000 tỷ đồng), làng nghề đồ mộc thôn Hữu Bằng, huyện Thạch Thất (cũ) trên 1.000 tỷ đồng… Ngoài giá trị kinh tế, các làng nghề đã thu hút du lịch và tạo sinh kế cho khoảng 800 nghìn lao động tại địa phương. Thu nhập bình quân đầu người của lao động đạt trên 50 triệu đồng/người/năm…

Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có nhiều tiềm năng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng ổn định, đã có mặt trên 163 quốc gia trên thế giới, gồm các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia.

Năm 2023 xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đạt khoảng 3,5 tỷ USD, mục tiêu năm 2025 đạt khoảng 4 tỷ USD, phấn đấu đến năm 2030 đạt khoảng 6 tỷ USD.

Ông Trịnh Quốc Đạt, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề, cho biết hiện nay chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Đó là nhu cầu tiêu thụ của khách hàng các nước đều hướng đến sản phẩm bền vững và thủ công sử dụng nguyên liệu thiên nhiên như tre, nứa, gỗ, giấy tái chế... thân thiện với môi trường, sản phẩm độc đáo, văn hóa bản địa.

Các sản phẩm xuất khẩu chính như đồ gốm, đồ đồng, tranh gỗ, tranh sơn dầu, đồ thủy tinh, đồ đá quý, thảm trải sàn, đèn lồng, các loại nón, túi xách, giày dép thủ công,… Riêng về sản phẩm mây tre đan, hiện Việt Nam xuất khẩu đến nhiều thị trường, trong đó, thị trường EU chiếm 31%, thị trường Hoa Kỳ chiếm 20% và Nhật Bản chiếm 9%.

Hiện các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu nói chung và mây tre đan nói riêng đang chịu sự cạnh tranh từ các nước khác, trong đó có thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, tại các nước mới nổi như Thái Lan, Philippines, Indonesia, lượng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đang tăng gần 15%. Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để có thị trường mới, thu nhập mới, chia sẻ thêm những giá trị về môi trường, văn hóa, đặc sắc của Việt Nam cho người tiêu dùng toàn cầu.

Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Hà Nội (Sở Công Thương Hà Nội) Vương Đình Thanh cho biết, tổng kim ngạch xuất khẩu của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2024 ước đạt khoảng trên 2 tỷ USD. Phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ trên địa bàn thành phố có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm, xây dựng thương hiệu. Một số sản phẩm có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, có thế mạnh cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài, đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đẩy mạnh xuất khẩu.

Nguồn cung nguyên liệu chưa ổn định

Hiện các làng nghề Hà Nội vẫn thiếu hụt nguồn nguyên liệu chất lượng, một trong những yếu tố đầu vào quan trọng. Trong khi nguyên liệu đầu vào là yếu tố quyết định chất lượng, giá thành và năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Theo số liệu khảo sát mới nhất của Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Hà Nội, tại các khu vực tập trung nhiều làng nghề thuộc các nhóm ngành như gốm sứ, sơn mài, mây tre đan và đồ gỗ, trung bình một năm các làng nghề này tiêu thụ khoảng 6.800 tấn nguyên liệu các loại (mây, tre, luồng, nứa, vầu, cỏ tế, chít...). Trong đó, trung bình một doanh nghiệp tiêu thụ khoảng 50 tấn nguyên liệu/tháng, hộ gia đình tiêu thụ khoảng 20 tấn nguyên liệu/tháng. Mỗi năm, các làng nghề gốm sứ tiêu thụ khoảng 620.000 tấn nguyên liệu, chủ yếu là đất sét và cao lanh; các làng nghề gỗ tiêu thụ khoảng 1.000.000m3 gỗ.

Phó Giám đốc Trung tâm Vương Đình Thanh nhận định: Hiện nay, sự phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu, chưa khai thác hết tiềm năng, giá trị của sản phẩm, thiếu ý tưởng thiết kế và phát triển sản phẩm mới là tình trạng chung của các làng nghề hiện nay. Nguồn cung nguyên liệu chưa ổn định, mức độ đa dạng hóa sản phẩm chưa cao, thiếu sản phẩm chế biến có chiều sâu, có giá trị gia tăng cao là một trong những nguyên nhân làm cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng vẫn còn thiếu sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Giải pháp cung ứng nguyên liệu cho ngành thủ công mỹ nghệ

Để khắc phục, hỗ trợ các làng nghề tìm kiếm nguồn cung nguyên liệu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Hà Nội Vương Đình Thanh cho biết, thời gian qua, Sở Công Thương Hà Nội đã rà soát, phát triển ổn định vùng nguyên liệu cung ứng tại chỗ nhằm bảo đảm cung ứng một phần nguyên liệu cho các làng nghề của thành phố; xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu bền vững từ các tỉnh, các vùng trong nước và nước ngoài, đáp ứng yêu cầu sản xuất của các làng nghề trên địa bàn Thủ đô.

Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ tại Hội chợ VIETNAM OCOPEX 2025
Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ tại Hội chợ VIETNAM OCOPEX 2025

Bên cạnh đó, thành phố cũng xây dựng chợ đầu mối giao dịch nguyên liệu sản xuất cho các làng nghề; phát triển một số mô hình chuyên môn hóa trong cung cấp nguyên liệu đầu vào cho chế biến của làng nghề; nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu, giảm thất thoát, tránh lãng phí nguyên liệu nhằm giúp các doanh nghiệp làng nghề thủ công mỹ nghệ Hà Nội tìm kiếm nguồn cung nguyên liệu đầu vào và giúp các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc tiêu thụ bán thành phẩm, thành phẩm ổn định, lâu dài, có chất lượng.

Cũng trăn trở về nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, Chủ tịch Hiệp hội Gốm sứ Kim Lan Đào Việt Bình cho biết, hằng năm, nhu cầu của các cơ sở sản xuất trên địa bàn Hà Nội ước tính khoảng 60-80 nghìn tấn đất sét, cao lanh; 10 nghìn tấn tràng thạch, thạch anh; 2-3 nghìn tấn men, phụ gia... Phần lớn nguyên liệu phải mua từ các tỉnh: Phú Thọ, Quảng Ninh, Lào Cai và một phần nhập khẩu.

Tuy nhiên, chuỗi cung ứng nguyên liệu hiện còn nhiều bất cập khi nguồn cung phụ thuộc vào thương lái trung gian; giá nguyên liệu biến động mạnh; chất lượng nguyên liệu không đồng đều... Đặc biệt, một số nguyên liệu đặc biệt như men màu zircon, oxit kim loại tinh chế vẫn phải nhập khẩu với giá cao, làm tăng đáng kể chi phí sản xuất.

Theo ông Đào Việt Bình, một trong những giải pháp căn cơ là xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các tỉnh có vùng nguyên liệu và các làng nghề sản xuất. Các địa phương nên khuyến khích ký kết hợp đồng cung ứng dài hạn giữa doanh nghiệp khai thác nguyên liệu và cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ. Bên cạnh đó, việc tổ chức hội chợ giao thương nguyên liệu và sản phẩm định kỳ là một giải pháp hiệu quả để kết nối giữa nhà cung ứng và đơn vị sản xuất.

Còn theo Chủ tịch Hiệp hội Khảm trai Phú Xuyên Nguyễn Vinh Quang, nguyên liệu chính của nghề khảm trai là vỏ trai, vỏ ốc và vỏ điệp, đây đều là những loại nguyên liệu tự nhiên. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức trong nhiều năm, cộng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các quy định nghiêm ngặt về bảo tồn sinh học đã khiến nguồn cung trở nên thiếu ổn định.

Để duy trì và phát triển bền vững nghề khảm trai, Chủ tịch Hiệp hội Khảm trai Phú Xuyên Nguyễn Vinh Quang cho rằng, việc bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng là vấn đề cấp thiết. Bên cạnh đó, cần có thêm các chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ, giúp nghệ nhân giảm chi phí sản xuất và nâng cao giá trị sản phẩm.

Ông Vương Đình Thanh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn Phát triển công nghiệp Hà Nội cũng cho rằng, cần đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung và điều chỉnh giá thuê đất cho các cơ sở sản xuất trong cụm công nghiệp…

Đồng quan điểm, chuyên gia Vũ Huy Thiều gợi ý hoàn thiện chính sách đất đai, khuyến khích doanh nghiệp và hợp tác xã thuê hoặc tích tụ đất để phát triển vùng nguyên liệu tập trung; đồng thời kêu gọi Hà Nội phối hợp chặt chẽ với các địa phương nhằm hình thành chuỗi liên kết cung ứng.

Từ phía địa phương cung cấp, ông Hoàng Xuân Tiến, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Phú Thọ cho rằng Hà Nội và Phú Thọ nên tăng cường kết nối để vừa cung cấp nguyên liệu, vừa tiêu thụ bán thành phẩm; đồng thời khảo sát tiềm năng nguyên liệu bản địa để lựa chọn cây trồng đặc trưng phục vụ làng nghề.

Nguồn nguyên liệu là vấn đề quyết định sự phát triển bền vững của các làng nghề thủ công mỹ nghệ Hà Nội, tạo sức cạnh tranh trên thị trường. Giải quyết bài toán nguyên liệu chính là bước quan trọng để các làng nghề ổn định sản xuất, gìn giữ giá trị truyền thống và vươn ra thị trường quốc tế.

Theo ông Nguyễn Ánh Dương – Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội, chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa của thành phố đến năm 2030 đặt mục tiêu có 6–10 nhóm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu trực tiếp và tỷ trọng hàng thủ công mỹ nghệ chiếm 3–5 % giá trị xuất khẩu của Hà Nội. Để đạt mục tiêu này, thành phố đang thúc đẩy hợp tác với các địa phương trong nước và cả những nước như Lào, Campuchia nhằm hình thành vùng nguyên liệu bền vững.
Đài Thanh

Tin liên quan

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.

Tin mới hơn

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Bắc Ninh: Giữ gìn bản sắc làng nghề gắn với đổi mới sản phẩm

Bắc Ninh: Giữ gìn bản sắc làng nghề gắn với đổi mới sản phẩm

Tranh Đông Hồ, đồ gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, tre trúc Xuân Lai, mỳ Thủ Dương, rượu làng Vân hay bún bánh Đa Mai… không chỉ đóng vai trò là động lực thúc đẩy kinh tế nông thôn mà còn là nơi lưu giữ “linh hồn” di sản qua nhiều thế hệ
Hàng vạn khán giả xếp hàng chờ “Tổ quốc trong tim” tại TP. HCM

Hàng vạn khán giả xếp hàng chờ “Tổ quốc trong tim” tại TP. HCM

Hàng vạn khán giả đã xếp hàng từ chiều 23/8 tại Khu đô thị Vạn Phúc, TP. HCM, để chờ vào sân khấu chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim”, diễn ra lúc 20 giờ cùng ngày.
Hội nhà báo Việt Nam tổ chức tọa đàm: Nhận diện rủi ro, bảo vệ đạo đức nghề báo

Hội nhà báo Việt Nam tổ chức tọa đàm: Nhận diện rủi ro, bảo vệ đạo đức nghề báo

(LNV )- Ngày 24/8, tại thành phố Hải Phòng, Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí (Hội Nhà báo Việt Nam) tổ chức tọa đàm “Những điểm mới của Luật Báo chí và chế tài pháp lý:
TP.Huế: Kiểm soát chặt chẽ sản phẩm Ocop hết hạn để bảo vệ thương hiệu

TP.Huế: Kiểm soát chặt chẽ sản phẩm Ocop hết hạn để bảo vệ thương hiệu

Việc rà soát và công khai danh sách sản phẩm OCOP hết hạn nhãn hiệu chứng nhận giúp chủ thể nâng cao chất lượng, giữ vững uy tín trên thị trường
Chương trình khuyến công Quốc gia giúp doanh nghiệp Đắk Lắk đổi mới công nghệ

Chương trình khuyến công Quốc gia giúp doanh nghiệp Đắk Lắk đổi mới công nghệ

Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại Đắk Lắk được giao chủ trì triển khai 2 đề án khuyến công Quốc gia với tổng kinh phí 1,6 tỷ đồng nhằm tiếp sức cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động