Hà Nội: 27°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 31°C Thừa Thiên Huế

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

LNV - Các vùng nông thôn của Nghệ An có nguồn nguyên liệu tự nhiên đa dạng như cái, tre, nứa, luồng, cói, mây, gỗ, đá, đất sét…Những nguyên liệu này là cơ sở để phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt, nguyên vật liệu thủ công mỹ nghệ của Nghệ An được sự phân bố theo vùng sinh thái, tương ứng với từng nhóm nghề truyền thống, và rất phù hợp để phát triển quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững...

Tỉnh Nghệ An, với diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, là địa phương có địa hình và hệ sinh thái đa dạng bao gồm vùng núi cao phía Tây, đồng bằng trung du phía Đông và dải ven biển dài hơn 80km, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều ngành nghề truyền thống và thủ công mỹ nghệ (TCMN) sử dụng nguyên liệu tự nhiên tại chỗ. Sự phong phú của tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo của người dân xứ Nghệ đã hình thành nên các làng nghề, nghề thủ công đa dạng, có bản sắc rõ nét. Các sản phẩm TCMN của Nghệ An chủ yếu sử dụng nguyên vật liệu bản địa, thân thiện môi trường, gắn với sinh kế bền vững của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế và áp lực từ đô thị hóa, nguồn nguyên liệu truyền thống cho ngành TCMN của tỉnh đang đứng trước nhiều thách thức về cạn kiệt, mai một và chưa được khai thác hiệu quả theo hướng bền vững.

 Ông Hoàng Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công thương Nghệ An tham luận tại Hội nghị Kết nối cung cầu nguyên liệu đầu vào ngành thủ công mỹ nghệ giữa Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.
Ông Hoàng Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công thương Nghệ An tham luận tại Hội nghị Kết nối cung cầu nguyên liệu đầu vào ngành thủ công mỹ nghệ giữa Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.

Một đặc điểm nổi bật của nguyên vật liệu TCMN Nghệ An là sự phân bố theo vùng sinh thái, tương ứng với từng nhóm nghề truyền thống. Ở vùng núi cao phía Tây, nơi có đông đồng bào Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu sinh sống (thuộc các huyện cũ như Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Con Cuông...), nguồn nguyên liệu chủ yếu là các sản phẩm của rừng và thảo nguyên: tre, nứa, vầu, giang, mây, gỗ, sợi lanh, vỏ cây nhuộm, thảo dược... phục vụ cho nghề đan lát, dệt thổ cẩm, làm nhạc cụ dân tộc, làm hương và đồ thủ công truyền thống. Người dân nơi đây có kinh nghiệm lâu đời trong việc thu hái, chế biến nguyên liệu tự nhiên và áp dụng kỹ thuật sản xuất thủ công mang tính bản địa, từ đó tạo nên các sản phẩm vừa có giá trị sử dụng vừa có chiều sâu văn hóa. Đặc biệt, nghề dệt thổ cẩm của người Thái, người Mông sử dụng nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên như sợi bông, sợi lanh kết hợp với thuốc nhuộm từ lá chàm, cây vang, vỏ cây đỏ... tạo ra các tấm vải có hoa văn tinh xảo, bền màu và mang đậm yếu tố tâm linh truyền thống.

Ở vùng trung du và đồng bằng, nơi có các huyện như Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Đô Lương (cũ)..., nguyên liệu phục vụ ngành TCMN gồm có cái, tre, luồng, đất sét, gỗ xoan, gỗ keo, lá cọ, vỏ cây... Đây là nguyên liệu chính cho các nghề làm nón, làm hương, đan lát, mộc dân dụng, sản xuất đồ thờ, đồ mỹ nghệ, gốm đất nung, giấy thủ công... Nghề làm nón lá tại huyện Nam Đàn (cũ) sử dụng nguyên liệu lá cọ lấy từ các vùng trung du (cây mọc tự nhiên và được trồng xen trong vườn), sợi chỉ, tre vót và hoa văn thủ công. Nghề làm hương tại xã Nghi Trung (huyện Nghi Lộc cũ) sử dụng nguyên liệu từ bột gỗ cây dẻ, keo, chất kết dính tự nhiên và hương liệu thảo mộc (hồi, quế, hương bài...). Trong khi đó, các sản phẩm đan lát như rổ rá, khay, mành, chiếu... chủ yếu sử dụng tre, nứa và luồng được khai thác tại chỗ hoặc thu mua từ huyện Anh Sơn, Thanh Chương (cũ) – nơi có trữ lượng tre luồng khá lớn. Tuy nhiên, khai thác vẫn chủ yếu thủ công, tự phát, thiếu sự đầu tư vào khâu chế biến và bảo quản nguyên liệu, dẫn đến chất lượng không đồng đều và khó nâng cao giá trị sản phẩm.

Vùng ven biển và các khu vực giáp biển, như các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, thị xã Hoàng Mai (cũ)... lại cung cấp các nguyên liệu đặc trưng như vỏ sò, vỏ ốc, san hô, rong biển, gỗ trôi, cát biển, đất sét, phù sa... Đây là nguồn nguyên liệu độc đáo để chế tác các sản phẩm trang trí, đồ lưu niệm, đồ gốm và các sản phẩm gắn với phát triển du lịch biển. Một số hộ dân và cơ sở sản xuất ở Diễn Thành, Quỳnh Nghĩa đã sáng tạo sử dụng vỏ sò, vỏ ốc để làm tranh treo tường, đèn, vật phẩm phong thủy và quà lưu niệm phục vụ khách du lịch. Tuy nhiên, nhóm nguyên liệu này mới chỉ được khai thác ở quy mô nhỏ, mang tính thử nghiệm, chưa có chuỗi sản xuất ổn định và thiếu liên kết giữa khai thác- sản xuất-tiêu thụ.

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

Tre, nứa, luồng và mây là nhóm nguyên liệu truyền thống được sử dụng rộng rãi trong các nghề đan lát, làm đồ gia dụng, sản phẩm trang trí và các sản phẩm xuất khẩu. Vùng có diện tích tre, luồng lớn nhất là các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ, Con Cuông (cũ). nơi có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp để phát triển tre luồng chất lượng tốt. Đặc điểm của tre xứ Nghệ là thân dài, thẳng, đốt nhỏ, độ dẻo cao, màu tự nhiên đẹp, thích hợp cho chế tác các sản phẩm đan lát cao cấp. Tuy nhiên, tình trạng khai thác không theo quy hoạch, thiếu chăm sóc, chưa có công nghệ xử lý (phơi, tẩy, chống mối mọt, hấp sấy...) khiến chất lượng vật liệu chưa đạt chuẩn để xuất khẩu. Việc trồng rừng nguyên liệu tre luồng còn phân tán, không có liên kết chặt chẽ giữa hộ trồng và cơ sở sản xuất, gây lãng phí và thiếu ổn định nguồn cung.

Sợi thực vật như lanh, gai, bông, vỏ cây... là nguyên liệu không thể thiếu trong dệt thổ cẩm và làm sản phẩm vải thủ công. Tuy nhiên, nghề trồng lanh và kéo sợi lanh thi chỉ còn tồn tại ở một số bản làng người Mông tại Tương Dương, Kỳ Sơn với quy mô nhỏ lẻ. Việc sử dụng thuốc nhuộm tự nhiên từ các loại cây rừng như chàm, vang, hồng ngọc, vỏ cây vang đỏ... vẫn còn được duy trì nhưng đang có nguy cơ mai một do nguyên liệu khan hiếm và giới trẻ không còn mặn mà học nghề. Để phục hồi nguyên liệu này, cần có chính sách hỗ trợ bảo tồn cây giống, mở rộng vùng nguyên liệu và xây dựng mô hình dệt thổ cẩm gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Đất sét, cao lanh, cát trắng là nguồn nguyên liệu khoáng sản có giá trị cao, phục vụ sản xuất gốm, gạch và sản phẩm điêu khắc mỹ nghệ. Một số vùng như Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Thanh Chương có mỏ đất sét tự nhiên thích hợp để làm gốm thủ công và gạch không nung. Tuy nhiên, các nghề sử dụng nguyên liệu này chưa phát triển rộng, chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình hoặc xưởng nhỏ, chưa được đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, gỗ rừng trồng (keo, xoan, lát) và gỗ tự nhiên vẫn là nhóm nguyên liệu quan trọng phục vụ ngành mộc dân dụng và mộc mỹ nghệ, phổ biến tại các huyện miền núi trung du như Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương, Quỳ Hợp. Gỗ xoan ta, xoan đào được ưa chuộng vì vân đẹp, dễ chạm khắc, phù hợp với sản phẩm đồ thờ, tượng gỗ, đồ phong thủy. Tuy nhiên, việc trồng rừng gỗ chủ yếu phục vụ nguyên liệu thô, chưa kết hợp quy hoạch vùng nguyên liệu chất lượng cao cho ngành TCMN. Công tác xử lý gỗ (sấy, hấp, chống mối mọt) chưa phát triển rộng khiến sản phẩm thủ công khó đạt chất lượng cao và bền vững khi tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Lá cây, vỏ cây, thảo dược và nguyên liệu phụ trợ tự nhiên là nhóm nguyên liệu giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác đúng mức. Lá cọ, lá nón, vỏ cây nhuộm, cây bời lời (chất kết dính), rễ cây, hương liệu thiên nhiên... được sử dụng trong nghề làm nón, làm hương, thuốc nhuộm, giấy thủ công, sản phẩm quà tặng. Tuy nhiên, do thiếu nghiên cứu bảo tồn và ứng dụng, nhiều nguyên liệu quý bị lãng quên, không có vùng trồng, dẫn đến cạn kiệt dần hoặc mất giống bản địa.

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

Bên cạnh tiềm năng, hiện trạng phát triển nguyên vật liệu TCMN tại Nghệ An còn nhiều tồn tại.

Trước hết, phần lớn nguyên liệu chưa được quy hoạch theo vùng chuyên canh, thiếu liên kết giữa người trồng- người khai thác - người chế biến - cơ sở sản xuất. Việc khai thác nguyên liệu chủ yếu theo hình thức nhỏ lẻ, tự phát, không kiểm soát chất lượng đầu vào, dẫn đến giá thành cao, chất lượng thấp, khó tiêu chuẩn hóa sản phẩm đầu ra.

Thứ hai, thiếu đầu tư vào công nghệ sơ chế, xử lý và bảo quản nguyên liệu, khiến tỷ lệ hao hụt cao, nguyên liệu dễ hư hỏng, nhanh mốc mọt, đặc biệt trong mùa mưa ẩm.

Thứ ba, thiếu cơ sở dữ liệu, bản đồ vùng nguyên liệu, chưa có cơ chế khuyến khích bảo tồn và phát triển nguyên liệu truyền thống gắn với đặc sản địa phương.

Thứ tư, nguồn nhân lực có tay nghề trong khâu khai thác và sơ chế nguyên liệu ngày càng thiếu hụt, do giới trẻ ít mặn mà với nghề, chưa có mô hình đào tạo phù hợp.

Trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế số, để phát triển ngành TCMN một cách bền vững, Nghệ An cần xây dựng chiến lược quy hoạch và phát triển nguyên vật liệu gắn với vùng nghề truyền thống. Cần tổ chức khảo sát, thống kê, lập bản đồ vùng nguyên liệu đặc trưng; bảo tồn giống bản địa; hỗ trợ nông dân, hợp tác xã trồng và khai thác nguyên liệu gắn với bao tiêu sản phẩm.

Đặc biệt, nên đẩy mạnh kết nối giữa nhà người dân để nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong bảo khoa học - doanh nghiệp - quản, chế biến nguyên liệu; xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và chứng nhận xuất xứ nguyên liệu. Đồng thời, cần khuyến khích khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực thiết kế sản phẩm TCMN từ nguyên liệu bản địa, kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và tăng tính cạnh tranh trên thị trường.

Tóm lại, nguyên vật liệu phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Nghệ An rất phong phú, có tính bản địa cao, gắn liền với điều kiện sinh thái và văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, để phát huy tối đa tiềm năng này, cần có giải pháp tổng thể về quy hoạch, bảo tồn và phát triển vùng nguyên liệu, tạo nền tảng bền vững cho ngành TCMN phát triển, góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và thúc đẩy sinh kế nông thôn trong giai đoạn hội nhập mới.

Hoàng Minh Tuấn

Tin liên quan

Giáo dục trải nghiệm đưa làng nghề truyền thống đến gần hơn với thế hệ trẻ

Giáo dục trải nghiệm đưa làng nghề truyền thống đến gần hơn với thế hệ trẻ

LNV - Vùng đất Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) không chỉ nổi tiếng với dãy núi 99 ngọn, dòng sông Lam thơ mộng và những dấu ấn lịch sử mà còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Từ nền tảng ấy, Trung tâm Văn hóa - Giáo dục Kinh Đô Ngàn Hống lựa chọn giáo dục trải nghiệm làm cầu nối đưa thế hệ trẻ đến gần hơn với di sản, góp phần khơi dậy tình yêu và ý thức gìn giữ, phát huy các làng nghề truyền thống.
Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề đan mành tre ở Tây Xuyên (xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên) vẫn được người dân gìn giữ như một nét đẹp văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Từ những thân tre mộc mạc, người thợ nơi đây đã tạo nên những chiếc mành giản dị, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình và lưu giữ nếp sống thanh nhã, kín đáo của người Việt.

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hà Nội: Khởi công xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến

Hà Nội: Khởi công xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến

Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến
Hội chợ Công Thương khu vực phía Bắc - Bắc Ninh 2026

Hội chợ Công Thương khu vực phía Bắc - Bắc Ninh 2026

Hội chợ Công Thương khu vực phía Bắc - Bắc Ninh 2026 diễn ra từ ngày 9 đến 16/9/2026 tại Trung tâm Văn hóa và Xúc tiến du lịch Bắc Ninh
Hơn 400 tác phẩm điêu khắc gốm hội tụ tại  Triển lãm "Kinh gốm - Thanh âm thế gian" trên đỉnh Núi Bà Đen

Hơn 400 tác phẩm điêu khắc gốm hội tụ tại Triển lãm "Kinh gốm - Thanh âm thế gian" trên đỉnh Núi Bà Đen

Triển lãm điêu khắc gốm "Kinh gốm - Thanh âm thế gian"
Thành lập hội đồng đánh giá, phân hạng OCOP 5 sao

Thành lập hội đồng đánh giá, phân hạng OCOP 5 sao

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập Hội đồng OCOP cấp Trung ương
Lễ hội làng biển Tân Thành 2026 - Văn hóa Cơ Tu, Ca Dong đến gần hơn với du khách

Lễ hội làng biển Tân Thành 2026 - Văn hóa Cơ Tu, Ca Dong đến gần hơn với du khách

Lễ hội Làng Biển Tân Thành 2026
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động