Hà Nội: 24°C Hà Nội
Đà Nẵng: 26°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

LNV - Các vùng nông thôn của Nghệ An có nguồn nguyên liệu tự nhiên đa dạng như cái, tre, nứa, luồng, cói, mây, gỗ, đá, đất sét…Những nguyên liệu này là cơ sở để phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt, nguyên vật liệu thủ công mỹ nghệ của Nghệ An được sự phân bố theo vùng sinh thái, tương ứng với từng nhóm nghề truyền thống, và rất phù hợp để phát triển quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững...

Tỉnh Nghệ An, với diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, là địa phương có địa hình và hệ sinh thái đa dạng bao gồm vùng núi cao phía Tây, đồng bằng trung du phía Đông và dải ven biển dài hơn 80km, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều ngành nghề truyền thống và thủ công mỹ nghệ (TCMN) sử dụng nguyên liệu tự nhiên tại chỗ. Sự phong phú của tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo của người dân xứ Nghệ đã hình thành nên các làng nghề, nghề thủ công đa dạng, có bản sắc rõ nét. Các sản phẩm TCMN của Nghệ An chủ yếu sử dụng nguyên vật liệu bản địa, thân thiện môi trường, gắn với sinh kế bền vững của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế và áp lực từ đô thị hóa, nguồn nguyên liệu truyền thống cho ngành TCMN của tỉnh đang đứng trước nhiều thách thức về cạn kiệt, mai một và chưa được khai thác hiệu quả theo hướng bền vững.

 Ông Hoàng Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công thương Nghệ An tham luận tại Hội nghị Kết nối cung cầu nguyên liệu đầu vào ngành thủ công mỹ nghệ giữa Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.
Ông Hoàng Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công thương Nghệ An tham luận tại Hội nghị Kết nối cung cầu nguyên liệu đầu vào ngành thủ công mỹ nghệ giữa Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.

Một đặc điểm nổi bật của nguyên vật liệu TCMN Nghệ An là sự phân bố theo vùng sinh thái, tương ứng với từng nhóm nghề truyền thống. Ở vùng núi cao phía Tây, nơi có đông đồng bào Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu sinh sống (thuộc các huyện cũ như Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Con Cuông...), nguồn nguyên liệu chủ yếu là các sản phẩm của rừng và thảo nguyên: tre, nứa, vầu, giang, mây, gỗ, sợi lanh, vỏ cây nhuộm, thảo dược... phục vụ cho nghề đan lát, dệt thổ cẩm, làm nhạc cụ dân tộc, làm hương và đồ thủ công truyền thống. Người dân nơi đây có kinh nghiệm lâu đời trong việc thu hái, chế biến nguyên liệu tự nhiên và áp dụng kỹ thuật sản xuất thủ công mang tính bản địa, từ đó tạo nên các sản phẩm vừa có giá trị sử dụng vừa có chiều sâu văn hóa. Đặc biệt, nghề dệt thổ cẩm của người Thái, người Mông sử dụng nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên như sợi bông, sợi lanh kết hợp với thuốc nhuộm từ lá chàm, cây vang, vỏ cây đỏ... tạo ra các tấm vải có hoa văn tinh xảo, bền màu và mang đậm yếu tố tâm linh truyền thống.

Ở vùng trung du và đồng bằng, nơi có các huyện như Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Đô Lương (cũ)..., nguyên liệu phục vụ ngành TCMN gồm có cái, tre, luồng, đất sét, gỗ xoan, gỗ keo, lá cọ, vỏ cây... Đây là nguyên liệu chính cho các nghề làm nón, làm hương, đan lát, mộc dân dụng, sản xuất đồ thờ, đồ mỹ nghệ, gốm đất nung, giấy thủ công... Nghề làm nón lá tại huyện Nam Đàn (cũ) sử dụng nguyên liệu lá cọ lấy từ các vùng trung du (cây mọc tự nhiên và được trồng xen trong vườn), sợi chỉ, tre vót và hoa văn thủ công. Nghề làm hương tại xã Nghi Trung (huyện Nghi Lộc cũ) sử dụng nguyên liệu từ bột gỗ cây dẻ, keo, chất kết dính tự nhiên và hương liệu thảo mộc (hồi, quế, hương bài...). Trong khi đó, các sản phẩm đan lát như rổ rá, khay, mành, chiếu... chủ yếu sử dụng tre, nứa và luồng được khai thác tại chỗ hoặc thu mua từ huyện Anh Sơn, Thanh Chương (cũ) – nơi có trữ lượng tre luồng khá lớn. Tuy nhiên, khai thác vẫn chủ yếu thủ công, tự phát, thiếu sự đầu tư vào khâu chế biến và bảo quản nguyên liệu, dẫn đến chất lượng không đồng đều và khó nâng cao giá trị sản phẩm.

Vùng ven biển và các khu vực giáp biển, như các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, thị xã Hoàng Mai (cũ)... lại cung cấp các nguyên liệu đặc trưng như vỏ sò, vỏ ốc, san hô, rong biển, gỗ trôi, cát biển, đất sét, phù sa... Đây là nguồn nguyên liệu độc đáo để chế tác các sản phẩm trang trí, đồ lưu niệm, đồ gốm và các sản phẩm gắn với phát triển du lịch biển. Một số hộ dân và cơ sở sản xuất ở Diễn Thành, Quỳnh Nghĩa đã sáng tạo sử dụng vỏ sò, vỏ ốc để làm tranh treo tường, đèn, vật phẩm phong thủy và quà lưu niệm phục vụ khách du lịch. Tuy nhiên, nhóm nguyên liệu này mới chỉ được khai thác ở quy mô nhỏ, mang tính thử nghiệm, chưa có chuỗi sản xuất ổn định và thiếu liên kết giữa khai thác- sản xuất-tiêu thụ.

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

Tre, nứa, luồng và mây là nhóm nguyên liệu truyền thống được sử dụng rộng rãi trong các nghề đan lát, làm đồ gia dụng, sản phẩm trang trí và các sản phẩm xuất khẩu. Vùng có diện tích tre, luồng lớn nhất là các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ, Con Cuông (cũ). nơi có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp để phát triển tre luồng chất lượng tốt. Đặc điểm của tre xứ Nghệ là thân dài, thẳng, đốt nhỏ, độ dẻo cao, màu tự nhiên đẹp, thích hợp cho chế tác các sản phẩm đan lát cao cấp. Tuy nhiên, tình trạng khai thác không theo quy hoạch, thiếu chăm sóc, chưa có công nghệ xử lý (phơi, tẩy, chống mối mọt, hấp sấy...) khiến chất lượng vật liệu chưa đạt chuẩn để xuất khẩu. Việc trồng rừng nguyên liệu tre luồng còn phân tán, không có liên kết chặt chẽ giữa hộ trồng và cơ sở sản xuất, gây lãng phí và thiếu ổn định nguồn cung.

Sợi thực vật như lanh, gai, bông, vỏ cây... là nguyên liệu không thể thiếu trong dệt thổ cẩm và làm sản phẩm vải thủ công. Tuy nhiên, nghề trồng lanh và kéo sợi lanh thi chỉ còn tồn tại ở một số bản làng người Mông tại Tương Dương, Kỳ Sơn với quy mô nhỏ lẻ. Việc sử dụng thuốc nhuộm tự nhiên từ các loại cây rừng như chàm, vang, hồng ngọc, vỏ cây vang đỏ... vẫn còn được duy trì nhưng đang có nguy cơ mai một do nguyên liệu khan hiếm và giới trẻ không còn mặn mà học nghề. Để phục hồi nguyên liệu này, cần có chính sách hỗ trợ bảo tồn cây giống, mở rộng vùng nguyên liệu và xây dựng mô hình dệt thổ cẩm gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Đất sét, cao lanh, cát trắng là nguồn nguyên liệu khoáng sản có giá trị cao, phục vụ sản xuất gốm, gạch và sản phẩm điêu khắc mỹ nghệ. Một số vùng như Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Thanh Chương có mỏ đất sét tự nhiên thích hợp để làm gốm thủ công và gạch không nung. Tuy nhiên, các nghề sử dụng nguyên liệu này chưa phát triển rộng, chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình hoặc xưởng nhỏ, chưa được đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, gỗ rừng trồng (keo, xoan, lát) và gỗ tự nhiên vẫn là nhóm nguyên liệu quan trọng phục vụ ngành mộc dân dụng và mộc mỹ nghệ, phổ biến tại các huyện miền núi trung du như Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương, Quỳ Hợp. Gỗ xoan ta, xoan đào được ưa chuộng vì vân đẹp, dễ chạm khắc, phù hợp với sản phẩm đồ thờ, tượng gỗ, đồ phong thủy. Tuy nhiên, việc trồng rừng gỗ chủ yếu phục vụ nguyên liệu thô, chưa kết hợp quy hoạch vùng nguyên liệu chất lượng cao cho ngành TCMN. Công tác xử lý gỗ (sấy, hấp, chống mối mọt) chưa phát triển rộng khiến sản phẩm thủ công khó đạt chất lượng cao và bền vững khi tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Lá cây, vỏ cây, thảo dược và nguyên liệu phụ trợ tự nhiên là nhóm nguyên liệu giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác đúng mức. Lá cọ, lá nón, vỏ cây nhuộm, cây bời lời (chất kết dính), rễ cây, hương liệu thiên nhiên... được sử dụng trong nghề làm nón, làm hương, thuốc nhuộm, giấy thủ công, sản phẩm quà tặng. Tuy nhiên, do thiếu nghiên cứu bảo tồn và ứng dụng, nhiều nguyên liệu quý bị lãng quên, không có vùng trồng, dẫn đến cạn kiệt dần hoặc mất giống bản địa.

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

Bên cạnh tiềm năng, hiện trạng phát triển nguyên vật liệu TCMN tại Nghệ An còn nhiều tồn tại.

Trước hết, phần lớn nguyên liệu chưa được quy hoạch theo vùng chuyên canh, thiếu liên kết giữa người trồng- người khai thác - người chế biến - cơ sở sản xuất. Việc khai thác nguyên liệu chủ yếu theo hình thức nhỏ lẻ, tự phát, không kiểm soát chất lượng đầu vào, dẫn đến giá thành cao, chất lượng thấp, khó tiêu chuẩn hóa sản phẩm đầu ra.

Thứ hai, thiếu đầu tư vào công nghệ sơ chế, xử lý và bảo quản nguyên liệu, khiến tỷ lệ hao hụt cao, nguyên liệu dễ hư hỏng, nhanh mốc mọt, đặc biệt trong mùa mưa ẩm.

Thứ ba, thiếu cơ sở dữ liệu, bản đồ vùng nguyên liệu, chưa có cơ chế khuyến khích bảo tồn và phát triển nguyên liệu truyền thống gắn với đặc sản địa phương.

Thứ tư, nguồn nhân lực có tay nghề trong khâu khai thác và sơ chế nguyên liệu ngày càng thiếu hụt, do giới trẻ ít mặn mà với nghề, chưa có mô hình đào tạo phù hợp.

Trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế số, để phát triển ngành TCMN một cách bền vững, Nghệ An cần xây dựng chiến lược quy hoạch và phát triển nguyên vật liệu gắn với vùng nghề truyền thống. Cần tổ chức khảo sát, thống kê, lập bản đồ vùng nguyên liệu đặc trưng; bảo tồn giống bản địa; hỗ trợ nông dân, hợp tác xã trồng và khai thác nguyên liệu gắn với bao tiêu sản phẩm.

Đặc biệt, nên đẩy mạnh kết nối giữa nhà người dân để nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong bảo khoa học - doanh nghiệp - quản, chế biến nguyên liệu; xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và chứng nhận xuất xứ nguyên liệu. Đồng thời, cần khuyến khích khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực thiết kế sản phẩm TCMN từ nguyên liệu bản địa, kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và tăng tính cạnh tranh trên thị trường.

Tóm lại, nguyên vật liệu phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Nghệ An rất phong phú, có tính bản địa cao, gắn liền với điều kiện sinh thái và văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, để phát huy tối đa tiềm năng này, cần có giải pháp tổng thể về quy hoạch, bảo tồn và phát triển vùng nguyên liệu, tạo nền tảng bền vững cho ngành TCMN phát triển, góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và thúc đẩy sinh kế nông thôn trong giai đoạn hội nhập mới.

Hoàng Minh Tuấn

Tin liên quan

Công nghiệp hỗ trợ Nghệ An trước yêu cầu bứt tốc và tái cấu trúc

Công nghiệp hỗ trợ Nghệ An trước yêu cầu bứt tốc và tái cấu trúc

LNV - Sau giai đoạn 2018–2025, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Nghệ An đã có những bước phát triển ban đầu, góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp của tỉnh. Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, lĩnh vực này vẫn cần những giải pháp mạnh mẽ để tháo gỡ hạn chế, tạo đà tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Quảng Ninh phát triển làng nghề truyền thống thành sản phẩm văn hóa – du lịch

Quảng Ninh phát triển làng nghề truyền thống thành sản phẩm văn hóa – du lịch

LNV - Quảng Ninh đặt mục tiêu đưa nhiều làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa – du lịch đặc trưng giai đoạn 2026–2030 theo Quyết định số 213/QĐ-UBND. Đề án kỳ vọng vừa bảo tồn giá trị nghề truyền thống, vừa tạo động lực phát triển kinh tế và du lịch bền vững tại địa phương.
Sôi nổi Ngày hội Làng nghề truyền thống Kim Bồng – Hội An năm 2026

Sôi nổi Ngày hội Làng nghề truyền thống Kim Bồng – Hội An năm 2026

LNV - Ngày 27/2, tại Trung tâm Làng nghề Kim Bồng (tổ dân phố Trung Hà, phường Hội An), ngày hội Làng nghề truyền thống Kim Bồng - Hội An năm 2026 diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi, thu hút sự tham gia của đông đảo người dân và du khách.

Tin mới hơn

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.

Tin khác

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

LNV - Sau khi thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và huyện theo Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ vào năm 2025, tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ thống quản lý hành chính tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ (TCMN) theo hướng bền vững và chuyên sâu.
Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức phong tặng Danh hiệu Làng nghề Việt Nam lần thứ XII, dự kiến vào đầu tháng 12 năm nay, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2005- 2025), Phóng viên Tạp chí Làng nghề Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn NGƯT Trịnh Quốc Đạt, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội

Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội

LNV - Hà Nội vừa là một thủ đô của các ngành nghề thủ công mỹ nghệ đặc sắc, vừa là trung tâm du lịch lớn của đất nước.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng thể hiện giá trị thẩm mỹ, sáng tạo

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng thể hiện giá trị thẩm mỹ, sáng tạo

LNV - Các nghệ nhân không chỉ gìn giữ bản sắc truyền thống, mà còn tạo ra các dòng sản phẩm công mỹ nghệ mang tính nghệ thuật cao, có khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng đa dạng của người tiêu dùng toàn cầu.
Xu hướng thị trường và giải pháp phát triển bền vững ngành thủ công mỹ nghệ

Xu hướng thị trường và giải pháp phát triển bền vững ngành thủ công mỹ nghệ

LNV - Nước ta có khoảng 5411 làng nghề và làng có nghề trong đó có hơn 1800 làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) truyền thống. Ngành nghề TCMN truyền thống có hoạt động sản xuất lâu đời gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và đời sống cộng đồng nông thôn. Không chỉ đóng góp vào việc bảo tồn di sản, ngành nghề TCMN còn mang lại giá trị kinh tế đáng kể, tạo hàng triệu việc làm cho người lao động, góp phần chuyển dịch kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới.
Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống

Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống

LNV - Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước có khoảng hơn 5.400 làng nghề, trong đó, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng có hơn 1.500 làng, với khoảng 300 làng được công nhận là làng nghề truyền thống.
Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội

LNV - Xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu bền vững cho làng nghề Hà Nội nói chung và ngành thủ công mỹ nghệ nói riêng đang là bài toán nan giải, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bên và giải pháp đồng bộ.
Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ

LNV - Các vùng nông thôn của Nghệ An có nguồn nguyên liệu tự nhiên đa dạng như cái, tre, nứa, luồng, cói, mây, gỗ, đá, đất sét…Những nguyên liệu này là cơ sở để phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt, nguyên vật liệu thủ công mỹ nghệ của Nghệ An được sự phân bố theo vùng sinh thái, tương ứng với từng nhóm nghề truyền thống, và rất phù hợp để phát triển quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững...
Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ

Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ

LNV - Nguồn nguyên liệu là 'nút thắt cổ chai' lớn nhất của ngành thủ công mỹ nghệ và đòi hỏi một chiến lược tái cấu trúc toàn diện từ cấp vùng đến liên kết vùng.
Làng nghề hướng đến môi trường kinh doanh minh bạch

Làng nghề hướng đến môi trường kinh doanh minh bạch

LNV - Các làng nghề đang có những chuyển biến tích cực từ nhận thức, tới hành động, nói không với sản xuất, kinh doanh hàng giả. Việc làng nghề nói không với sản xuất hàng giả sẽ góp phần xây dựng lại một môi trường kinh doanh chất lượng, uy tín.
Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương

Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương

LNV - Ngày 25/7 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo tham vấn Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp giai đoạn tới.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Nông dân Đồng Nai nâng thu nhập từ trái điều tươi

Nông dân Đồng Nai nâng thu nhập từ trái điều tươi

Theo Hợp tác xã Hoàng Anh (phường Bình Phước), vụ thu hoạch điều năm nay, hợp tác xã dự kiến sẽ thu mua khoảng 500 tấn trái điều tươi làm nguyên liệu chế biến thực phẩm
Thanh Yên chung sức bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới

Thanh Yên chung sức bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới

Xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư.
“Đòn bẩy” nâng tầm giá trị nông sản Thái Nguyên vươn xa

“Đòn bẩy” nâng tầm giá trị nông sản Thái Nguyên vươn xa

Hiện nay toàn tỉnh hiện có 10 sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia, ghi dấu bước phát triển nổi bật trong nâng cao chất lượng và giá trị nông sản.
Sản xuất theo đơn hàng: “Chìa khóa” giúp nông dân Nghệ An yên tâm đầu ra

Sản xuất theo đơn hàng: “Chìa khóa” giúp nông dân Nghệ An yên tâm đầu ra

Từ mô hình ngô ngọt ở Quỳnh Phú, đến ớt xuất khẩu tại Đức Châu, việc gắn sản xuất với bao tiêu sản phẩm không chỉ giúp nông dân yên tâm về đầu ra mà còn tạo ra mức thu nhập ổn định
Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

Hưng Yên phát huy vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản và lan tỏa giá trị văn hóa

LNV - Với tâm huyết và trách nhiệm, đội ngũ nghệ nhân tại Hưng Yên đang đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, truyền dạy các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời góp phần phát triển du lịch cộng đồng, đưa giá trị văn hóa truyền thống lan
Giao diện di động