Hà Nội: 28°C Hà Nội
Đà Nẵng: 29°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế

Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống

LNV - Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước có khoảng hơn 5.400 làng nghề, trong đó, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng có hơn 1.500 làng, với khoảng 300 làng được công nhận là làng nghề truyền thống.
Trải qua hàng nghìn năm, các làng nghề được hình thành dựa trên các đặc điểm địa hình, dân cư, trong đó tập trung nhiều nhất ở các khu vực chung quanh đất kinh kỳ, kẻ chợ.

Làng nghề nơi lưu giữ văn hoá đặc sắc của vùng miền.

Trong dòng chảy của lịch sử đã hình thành nên các vùng dân cư khu vực Đồng bằng sông Hồng. Cùng với đó, các làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển với những sản phẩm phục vụ nhu cầu của người dân trong vùng và khu vực lân cận.

Sau khi sáp nhập tỉnh Hà Tây vào năm 2008, Hà Nội trở thành địa phương có nhiều làng nghề nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng với 1.350 làng nghề và làng có nghề. Các làng nghề của Hà Nội đóng góp tích cực vào chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế của Thủ đô, tạo tiền đề thực hiện thành công Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố.

Trải bao thăng trầm, gốm Kim Lan (huyện Gia Lâm, Hà Nội)  được tôn vinh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Trải bao thăng trầm, gốm Kim Lan (huyện Gia Lâm, Hà Nội) được tôn vinh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tính đến nay, Hà Nội đã đánh giá, phân hạng được 3.317 sản phẩm OCOP (chiếm 21,3% của cả nước); trong đó có sáu sản phẩm 5 sao, 22 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 1.571 sản phẩm 4 sao và 1.718 sản phẩm 3 sao, dẫn đầu cả nước về số lượng sản phẩm OCOP.

Cùng với sự phát triển chung, quy mô và trình độ sản xuất tại các làng nghề cũng có nhiều thay đổi. Riêng làng nghề Bát Tràng (Hà Nội) có hơn 700 hộ sản xuất gốm sứ và có hơn 200 doanh nghiệp gốm sứ với 27 nghệ nhân Hà Nội và hơn 100 nghệ nhân làng nghề Việt Nam.

Các sản phẩm gốm sứ Bát Tràng được chế tác bởi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, hội tụ tinh hoa nghề gốm qua 1.000 năm lịch sử, đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng, thuộc ba dòng chính: Đồ gốm gia dụng, đồ gốm dùng để thờ cúng, đồ trang trí. Các sản phẩm không chỉ được bán trong nước mà còn xuất khẩu tới hơn 10 nước trên thế giới với doanh thu khoảng 2.000 tỷ đồng/năm.Tại xã Điền Xá, địa phương có truyền thống làm nghề cây cảnh của Ninh Bình hiện có hơn 40 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh cây cảnh, với thu nhập bình quân của người lao động đạt 72 triệu đồng/người/ năm.

Bên cạnh đó, Ninh Bình còn có các làng nghề sơn mài Cát Đằng, làng nghề chạm khắc gỗ La Xuyên, làng nghề đúc đồng Tống Xá, làng nghề nước mắm Sa Châu, làng nghề ươm tơ Cổ Chất, làng nghề nặn tò he Hà Dương… Những làng nghề không chỉ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương mà còn tạo ra những sản phẩm du lịch mang tầm quốc gia và thế giới.

Nhiều Làng nghề truyền thống dần mai một

Tuy nhiên, cùng với dòng chảy của sự phát triển, nhiều làng nghề truyền thống cũng dần bị mai một. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, từ 1.350 làng nghề và làng có nghề năm 2008, đến nay trên địa bàn thành phố chỉ còn hơn 800 làng nghề và làng có nghề.

Riêng năm 2024, Hà Nội tiếp tục đưa ra danh sách 29 làng nghề đã mai một, cần rà soát, đề xuất đưa ra khỏi "Danh sách công nhận danh hiệu làng nghề, làng nghề truyền thống". Nhiều làng nghề gần như không còn hoạt động như làng nghề làm đàn Đào Xá, xã Đông Lỗ. Hiện làng nghề truyền thống này đã giảm tới 90% số hộ làm nghề chỉ sau hơn 10 năm dù những nghệ nhân làm đàn luôn trăn trở giữ gìn, bảo tồn tổ nghiệp.

Hay nghề làm cốm ở làng Mễ Trì có từ khoảng đầu thế kỷ 20, được UBND Thành phố công nhận danh hiệu Làng nghề truyền thống năm 2016, sau đó được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2019. Tuy nhiên, năm 2024, làng nghề truyền thống cốm Mễ Trì cùng với 28 làng nghề truyền thống khác được thành phố đưa vào danh mục các làng nghề mai một cần rà soát, đề xuất đưa ra khỏi “Danh sách công nhận danh hiệu làng nghề, làng nghề truyền thống”.

Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống
Làng gốm Kim Lan chỉ cách Bát Tràng một dòng kênh Bắc Hưng Hải

Giải pháp khôi phục, phát triển Làng nghề

Nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát triển làng nghề, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề nói chung và làng nghề vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng. Chính phủ đã phê duyệt chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam với mục tiêu bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề; thúc đẩy phát triển sản xuất; nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng cho sản phẩm; tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân; bảo vệ cảnh quan, không gian và môi trường; xây dựng các khu dân cư, làng văn hóa góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn bền vững.

Chương trình đưa ra mục tiêu, đến năm 2030, khôi phục và bảo tồn được ít nhất 129 nghề truyền thống và 208 làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một, thất truyền; công nhận mới 213 nghề và 96 làng nghề truyền thống, phát triển khoảng 301 làng nghề gắn với du lịch; trên 80% số làng nghề, làng nghề truyền thống hoạt động có hiệu quả; 100% số người lao động trong làng nghề được đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề, 100% số cơ sở, hộ gia đình sản xuất đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường.

Để thực hiện được mục tiêu này, cần sự nỗ lực của các bộ, ngành từ Trung ương cho tới các địa phương trong việc xây dựng và triển khai hiệu quả quy hoạch phát triển nghề, làng nghề gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội toàn vùng và từng địa phương, quy hoạch về phát triển ngành nghề, các cụm làng nghề gắn với giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất làng nghề với các cụm dân cư, với sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế bảo đảm vốn cho sản xuất làng nghề phát triển, cần giữ ổn định môi trường kinh tế xã hội,… Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn, phương thức huy động vốn và phương thức cho vay để tập trung đầu tư phát triển làng nghề. Có chính sách khuyến khích và hỗ trợ làng nghề ứng dụng thiết bị, công nghệ mới tiên tiến vào sản xuất, đồng thời hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho việc phát triển làng nghề bằng việc mở rộng quy mô đào tạo và đa dạng hóa các hình thức dạy nghề.

Hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khu vực làng nghề tìm kiếm, khai thác mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại cho các sản phẩm của làng nghề thông qua các hình thức như quảng cáo, tham gia triển lãm, hội chợ trong nước và nước ngoài.

Vân Trang

Tin liên quan

Giáo dục trải nghiệm đưa làng nghề truyền thống đến gần hơn với thế hệ trẻ

Giáo dục trải nghiệm đưa làng nghề truyền thống đến gần hơn với thế hệ trẻ

LNV - Vùng đất Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) không chỉ nổi tiếng với dãy núi 99 ngọn, dòng sông Lam thơ mộng và những dấu ấn lịch sử mà còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Từ nền tảng ấy, Trung tâm Văn hóa - Giáo dục Kinh Đô Ngàn Hống lựa chọn giáo dục trải nghiệm làm cầu nối đưa thế hệ trẻ đến gần hơn với di sản, góp phần khơi dậy tình yêu và ý thức gìn giữ, phát huy các làng nghề truyền thống.
Vượt rào cản quốc tế, đồ mộc OCOP tự tin ra biển lớn

Vượt rào cản quốc tế, đồ mộc OCOP tự tin ra biển lớn

OVN - Giữa bối cảnh ngành gỗ Việt chịu áp lực thuế quan và tiêu chuẩn xanh nghiêm ngặt từ các thị trường lớn, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ KingWood - chủ thể có sản phẩm gia dụng, dụng cụ nhà bếp bằng gỗ đạt chứng nhận OCOP, vẫn tìm thấy cơ hội bứt phá. Bằng cách chuẩn hóa nguồn gốc, chất lượng, chủ động tiếp cận khách quốc tế, doanh nghiệp không chỉ khai thông dòng chảy xuất khẩu mà còn đảm bảo thu nhập ổn định cho thợ lành nghề.

Tin mới hơn

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Nghệ nhân Ưu tú – Nhà thiết kế áo dài Lan Hương: Gìn giữ hồn nghề, lan tỏa giá trị Việt

Nghệ nhân Ưu tú – Nhà thiết kế áo dài Lan Hương: Gìn giữ hồn nghề, lan tỏa giá trị Việt

LNV - Không chỉ được biết đến là một nhà thiết kế áo dài giàu tâm huyết, Nghệ nhân Ưu tú – Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam, Nhà thiết kế Lan Hương còn là người bền bỉ trên hành trình đưa văn hóa truyền thống, chất liệu dân gian và tinh hoa nghề thủ công vào
Thanh Hóa: Lập Đề án tổng thể giải quyết tình trạng ngập úng tại các khu đô thị

Thanh Hóa: Lập Đề án tổng thể giải quyết tình trạng ngập úng tại các khu đô thị

LNV – Vừa qua, UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành Công văn số 17782/UBND-CNXD về xây dựng đề cương nhiệm vụ và kinh phí lập Đề án tổng thể giải quyết tình trạng ngập úng tại các phường thuộc đô thị Thanh Hóa.
Thanh Hóa: Tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn

Thanh Hóa: Tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn

LNV – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Đầu Thanh Tùng vừa ký Công văn số 17808/UBND-VHXH về việc tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh.
Dấu ấn nông dân Hữu Lũng trong xây dựng nông thôn mới

Dấu ấn nông dân Hữu Lũng trong xây dựng nông thôn mới

LNV - Phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới (NTM), thời gian qua, Hội Nông dân xã Hữu Lũng đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, huy động hội viên tích cực tham gia, góp phần làm đổi thay diện mạo nông thôn và nâng cao đờ
Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035

Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035

LNV -Chiều 24/8, với 477/478 số đại biểu tham gia tán thành (chiếm tỉ lệ 95,4%), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động