Xây dựng và phát triển thương hiệu chè của tỉnh Thái Nguyên

LNV - Thái Nguyên tự hào là vùng đất “đệ nhất danh trà”; Nhắc đến trà Việt người ta nghĩ ngay đến chè Thái Nguyên với vị thơm ngon đặc trưng riêng biệt gắn bó mật thiết với cuộc sống hàng ngày của con người. Ngoài việc đem lại giá trị kinh tế to lớn, còn mang đậm nét bản sắc văn hóa truyền thống và tiềm năng phát triển du lịch; Có nhiều vùng chè đặc sản nổi tiếng trong tỉnh như Tân Cương, Phúc Trìu, Trại Cài, Sông Cầu, Vô Tranh, Khe Cốc, La Bằng, Phúc Thuận…
1. Một vài khái niệm cơ bản về thương hiệu, nhãn hiệu

Thương hiệu (Brand) là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam. Nói đến thương hiệu nhiều người biết song để hiểu một cách đầy đủ và chính xác thì không phải ai cũng biết. Liệu thương hiệu có phải là gộp chung của nhãn hiệu hàng hóa (trade mark), tên thương mại (trade name), chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ? một nhãn hiệu cũng có thể bao gồm 4 yếu tố trên song không phải khi nào cũng tồn tại cả 4 yếu tố đó, thường hay có sự nhầm lẫn giữa thương hiệu và tên thương mại. Trong khi nhãn hiệu hàng hóa thì được định nghĩa tương đối rõ ràng “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cở sở sản xuất khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó thể hiện bằng màu sắc.” (theo Luật Sở hữu trí tuệ) vì thế có thể đưa ra khái niệm về thương hiệu một sách tương đối như sau:

“Thương hiệu (Brand) là một hoặc một tập hợp các dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm, doanh nghiệp; Là hình tượng về sản phẩm, doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng và công chúng”. Thương hiệu thể hiện qua các dấu hiệu trực giác và tri giác. Dấu hiệu trực giác thể hiện qua tên gọi, logos và symbols, khẩu hiệu, nhạc hiệu, kiểu dáng hàng hóa và bao bì…vv tác động trực tiếp lên giác quan và khả năng tiếp nhận của công chúng; Dấu hiệu tri giác mang tính vô hình được dẫn dắt bởi trực giác, thể hiện qua sự cảm nhận về sự an toàn, tin cậy, giá trị cá nhân khi tiêu dùng sản phẩm, hình ảnh vượt trội về sự khác biệt…vv. Thương hiệu gắn với quyền sở hữu trí tuệ, là tài sản vô hình rất có giá của doanh nghiệp, làng nghề, nó khẳng định vị thế và uy tín của đơn vị trên thương trường, nó thể hiện sự cam kết của đơn vị với khách hàng và công chúng.

Như vậy có thể nói khái niệm thương hiệu rộng hơn nhãn hiệu.


Ảnh minh họa


2. Phát triển thương hiệu chè của Thái Nguyên

Thái Nguyên tự hào là vùng đất “đệ nhất danh trà”; Nhắc đến trà Việt người ta nghĩ ngay đến chè Thái Nguyên với vị thơm ngon đặc trưng riêng biệt gắn bó mật thiết với cuộc sống hàng ngày của con người. Ngoài việc đem lại giá trị kinh tế to lớn, còn mang đậm nét bản sắc văn hóa truyền thống và tiềm năng phát triển du lịch; Có nhiều vùng chè đặc sản nổi tiếng trong tỉnh như Tân Cương, Phúc Trìu, Trại Cài, Sông Cầu, Vô Tranh, Khe Cốc, La Bằng, Phúc Thuận…vv;

Thái Nguyên là vùng chè trọng điểm của cả nước với diện tích trồng chè trên 23.000 ha đứng đầu cả nước. Sản lượng hàng năm trên 210.000 tấn chè búp tươi. Toàn tỉnh đã phát triển trên 30 mô hình trồng chè theo qui trình VietGap, 1 mô hình UTZ, 1 mô hình Biocert International chủ yếu là của các HTX và các hội viên làng nghề. Năm

2020 tỉnh đã xét công nhận 30 SPCNNTTB trong đó có 10 SPCNNTTB cấp khu vực. Sản phẩm chè Thái Nguyên rất đa dạng về hình thức, mẫu mã, bao bì đóng gói, chất lượng thơm ngon hàng đầu Việt Nam. Tỉnh đã có các chính sách hỗ trợ người trồng và chế biến chè bằng nguồn kinh phí khuyến nông, khuyến công, xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại và xúc tiến đầu tư để làm ra sản phẩm chè sạch và an toàn.Tỉnh cũng đã tăng cường hỗ trợ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng một số vùng chè trọng điểm như giao thông, thủy lợi, điện, chợ lồng ghép trong chương trình xây dựng nông thôn mới…

Đến hết 2019 Thái nguyên có 252 làng nghề trong đó có 230 làng nghề chế biến chè chiếm 91% trên tổng số, còn lại là các làng nghề thủ công mỹ nghệ và các nghề khác. Trong đó hầu hết các làng nghề chè nằm ở các vùng chè trọng điểm của tỉnh có nhiều làng nghề mà nghề làm chè đã có trên 50, 60 năm. Người dân đã thực sự làm giầu cho gia đình từ cây chè…

Trong chuỗi giá trị phát triển sản phẩm chè của Thái Nguyên từ trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, phân phối sản phẩm ra thị trường. Thái Nguyên đã quan tâm tạo dựng hình ảnh và danh tiếng cho thương hiệu “chè Thái Nguyên” trong nước và quốc tế. Tính đến nay Thái Nguyên đã được cấp 21 nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý bởi Cục Sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm của tỉnh trong đó có 9 nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý cấp cho chè cụ thể: Năm 2006 cấp nhãn hiệu tập thể “chè Thái Nguyên”, năm 2007 cấp chỉ dẫn địa lý “chè Tân Cương”, năm 2009 cấp nhãn hiệu tập thể “chè La Bằng” “chè Trại Cài”, năm 2010 cấp nhãn hiệu tập thể “chè Vô Tranh” “chè Phổ Yên”, năm 2015 cấp nhãn hiệu tập thể “chè Tức Tranh” và 3 chứng nhận đăng ký quyền tác giả (Logo) cho 3 làng nghề chè, năm 2017 cấp đăng ký nhãn hiệu “chè xóm 5” thị trấn Sông cầu; năm 2019 cấp nhãn hiệu tập thể “ chè Đại Từ”. Riêng nhãn hiệu tập thể “chè Thái Nguyên” năm 2014 đã được bảo hộ tại 3 nước là Mỹ, Trung Quốc và Tai wan (Trung Quốc), góp phần đưa chè Thái Nguyên thành một thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam; Tại Festival trà Thái Nguyên lần thứ 2 năm 2013 chè Thái Nguyên đã được xác lập kỷ lục Việt Nam: “Thái Nguyên-thương hiệu trà danh tiếng được nhiều người biết đến nhất” và kỷ lục châu Á: “Sản phẩm trà Thái Nguyên thuộc top các đặc sản quà tặng có giá trị của châu Á”.Đó là một khẳng định đối với uy tín, chất lượng, danh tiếng và giá trị của chè Thái Nguyên, xứng đáng được vinh danh “Thái Nguyên đệ nhất danh trà”. Năm 2017 Thái Nguyên vinh dự có 2 sản phẩm chè Tuyết Hương và Chè La Bằng được Chính phủ chọn làm quà tặng hội nghị APEC 2017 tại Đà Nẵng).

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho sản phẩm chè Thái Nguyên đã nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và giá trị kinh tế tăng từ 30-50% so với trước khi được bảo hộ góp phần ngăn chặn nạn hàng giả hàng nhái nhãn mác trên thị trường; Để những người làm chè có trách nhiệm hơn đối với sản phẩm của mình và cũng là cam kết của mình đối với khách hàng. Tuy nhiên việc xây dựng và phát triển thương hiệu chè Thái Nguyên còn tồn tại một số vấn đề như: (i) Quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể chè Thái Nguyên còn lúng túng do việc xây dựng các văn bản phục vụ công tác quản lý chưa đầy đủ, (ii) Việc thực thi chưa tốt vẫn còn hiện tượng mượn danh chè Thái Nguyên để lưu hành trên thị trường những sản phẩm không phải xuất xứ từ Thái Nguyên, quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm. (iii) Việc ghi nhãn hàng hóa đối với sản phẩm chè Thái Nguyên chưa đầy đủ, chưa theo một chuẩn mực thống nhất. (iv) Việc đăng ký sử dụng, duy trì mã số mã vạch và mã Qr code chưa được các doanh nghiệp chú trọng đúng mức, việc này rất cần thiết để hình thành bộ ba bảo hộ sở hữu trí tuệ và truy xuất nguồn gốc, xuất xứ. (v) Các hoạt động thực thi quyền Sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm chè Thái Nguyên chưa được quan tâm đúng mức cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm;

3. Để xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm chè Thái Nguyên cần làm tốt một số việc sau đây:

Một là: Các cấp các ngành cần quan tâm hơn nữa đến công tác hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu; Tăng cường phổ biến chính sách của Nhà nước về phát triển thương hiệu, hướng dẫn đăng ký xây dựng và bảo hộ thương hiệu “chè Thái Nguyên”ở trong nước và nước ngoài, tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn về xây dựng và phát triển thương hiệu “chè Thái Nguyên” tại cơ sở, làm cho các tổ chức, cá nhân, làng nghề, doanh nghiệp chế biến chè thấy được lợi ích mang lại từ việc đăng ký xây dựng và phát triển thương hiệu.

Hai là: Gắn việc xây dựng, phát triển thương hiệu với chỉ dẫn địa lý, sở hữu mã số mã vạch, mã Qr code về xuất xứ hàng hóa và việc thực hiện các qui trình sản xuất chè sạch, an toàn, chè hữu cơ, đa dạng các sản phẩm chè, đảm bảo an toàn thực phẩm; Thực hiện đúng qui định về ghi đủ thông tin về sản phẩm và doanh nghiệp trên bao bì.

Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu, cải tiến mẫu mã, thiết kế bao bì để tạo ra sự khác biệt với các sản phẩm cùng loại, tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Ba là: Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại thông qua các kênh thông tin điện tử, hội chợ, quảng cáo, tờ rơi, kết nối thị trường trong và ngoài nước. Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm chè của các làng nghề theo qui hoạch, kế hoạch phát triển ngành chè (tỉnh đã ban hành chương trình xúc tiến thương mại, tìm đầu ra cho sản phẩm nông sản tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015-2020 tại Quyết định số 1890/QĐ- UBND ngày 30/7/2015);

Bốn là: Về thể chế chính sách: Xây dựng và ban hành các văn bản pháp qui về việc quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể “chè Thái Nguyên” và các nhãn hiệu chè khác; Nâng cao năng lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu sản phẩm chè thông qua việc kiểm tra, kiểm soát thực hiện các qui định sử dụng nhãn hiệu tập thể chè, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu tập thể chè. Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin giữa các địa phương trong cả nước về việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhãn hiệu “chè Thái Nguyên” và các nhãn hiệu chè khác của Thái Nguyên./.

KS Bùi Quang Huân

Chủ tịch Hiệp làng nghề tỉnh Thái Nguyên

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

LNV -Sáng 22/8, tại Chùa Đại Bi, thuộc Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc, xã Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu năm 2026 trong không khí trang nghiêm, thành kính, thu hút đông đảo tăng ni, phật tử, Nhân dân và du khách thập phương tham dự.
Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

LNV - Trường THPT Bạch Đằng (Hải Phòng) luôn chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động giáo dục đạo đức, kỹ năng và trải nghiệm cho học sinh. Nhà trường đã đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó có thành tích tại các k
Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026

Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026

Từ ngày 21 - 26/8/2026, tại Quảng trường Trần Phú (phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh) diễn ra Hội chợ Triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2026. Sự kiện do Bộ Công Thương và UBND tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo; Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công phối hợp với Sở Công Thương Hà Tĩnh tổ chức. Đây là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại trọng điểm thuộc Chương trình khuyến công quốc gia năm 2026.
Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV

Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV

Ngày 21/8, tại Hà Tĩnh, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương Hà Tĩnh tổ chức Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV năm 2026.
Hà Nội công nhận 13 sản phẩm OCOP đợt 1 năm 2026

Hà Nội công nhận 13 sản phẩm OCOP đợt 1 năm 2026

LNV - Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Bùi Duy Cường vừa ký ban hành Quyết định số 4325/QĐ-UBND ngày 16-8-2026 về công nhận kết quả đánh giá, phân hạng và cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm OCOP thành phố Hà Nội năm 2026 (đợt 1).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động