Hà Nội: 25°C Hà Nội
Đà Nẵng: 24°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 26°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 24°C Thừa Thiên Huế

Từ làng nghề đến ''phố Hàng''

LNV - Tên phố không chỉ để gọi, để phân chia ranh giới địa lý trong quản lý hành chính, mà đôi khi còn là câu chuyện về kinh tế, văn hóa. Tại sao Hà Nội lại có nhiều phố bắt đầu bằng chữ Hàng?

Người thợ rèn cuối cùng “giữ lửa” trên phố Lò Rèn. Ảnh: Phương Ngân


Thăng Long thời Lý, Trần có 61 phường chia làm 3 khu vực khá rõ ràng. Phía Tây có các làng nghề chuyên dệt lụa, sản xuất công cụ nông nghiệp, làm giấy... Đó là những nghề có trước khi vùng đất này trở thành kinh đô. Phía nam chủ yếu làm nông nghiệp, phía đông ven sông Hồng và cửa sông Tô Lịch là khu vực buôn bán. Tuy nhiên, thời Lý, Trần, dân số Thăng Long còn ít, giao thương cũng hạn chế nên các làng nghề ở Thăng Long có quy mô nhỏ. Mặt khác, hàng hóa thiết yếu đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của dân chúng được triều đình đưa vào nơi sản xuất tập trung gọi là xưởng bách tác (như mô hình hợp tác xã sau này).

Thăng Long thực sự cuốn hút dân có nghề rời quê ra kinh thành lập nghiệp, nhất là vào thời Lê, khi triều đình ban hành nhiều chính sách cởi mở. Lê Thái Tổ đã xóa bỏ trang trại của quý tộc triều Trần, giải phóng nông nô, cấp đất cho dân. Kết quả là công điền bị thu hẹp, tư điền phình ra. Cùng với tư nhân hóa đất ruộng, đất ở, triều Lê hiểu rõ sản xuất luôn gắn liền với thương mại nên giảm thuế chợ, nới rộng buôn bán và cho tự do sản xuất. Những chính sách đó đã khiến nhiều gia đình ở một số làng nghề cho người thân ra Thăng Long mở các cơ sở sản xuất nhỏ thăm dò.

Nhưng tại sao họ ra Thăng Long mà không phải nơi khác? Đơn giản vì Thăng Long là kinh đô, nơi dân cư tập trung đông đúc là điều kiện tốt để tiêu thụ hàng hóa, Thăng Long là nơi giao thương với các vùng miền, nơi dừng chân của các thương nhân nước ngoài nên thuận tiện cho việc mua nguyên liệu và bán hàng. Dù ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo coi trọng nghề “sĩ, nông” hơn nghề “công, thương”, song những chính sách mới mẻ của nhà Lê đã trở thành động lực cho kinh tế Thăng Long nói riêng và Đại Việt nói chung thay đổi. Thăng Long thời Lê trở thành nơi buôn bán đông đúc nên tên Kẻ Chợ xuất hiện. Nhà truyền giáo phương Tây Filippo de Marini đến Thăng Long năm 1663, ông nhận thấy ở đầu các con phố đều treo một tấm biển gỗ trên đó có ghi tên chỉ dẫn bán mặt hàng gì. Việc đó chắc chắn đã có trước khi nhà truyền giáo này đến kinh thành.

Trong cuốn Lịch sử Hà Nội, nhà sử học người Pháp Philippe Papin giải thích từ “phố” theo chữ Nôm có nghĩa là “nơi mua bán, là khu dân cư tập trung quanh khu vực bến thuyền”. Còn theo nhà nghiên cứu Hà Nội Nguyễn Vinh Phúc, từ “phố” nguyên nghĩa là chỗ bán hàng và phố có thể là một nhà bày bán hàng, dần dần phố có nghĩa là nơi có nhiều cửa hàng. Trong bộ sách Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, tác giả Nguyễn Văn Uẩn giải thích: “Phường được sử dụng trong giấy tờ của nhà chức trách còn phố do dân gọi và lâu mà thành, phố vẫn nằm trong phường”. Từ nhận định của các nhà nghiên cứu có thể hiểu, mặt đường là nơi bán hàng, bên trong là nơi sản xuất, cũng là chỗ ở và sinh hoạt của gia đình.

Có một điều đặc biệt là khi Trịnh - Nguyễn giao tranh, kinh tế Thăng Long tưởng sẽ lụi tàn nhưng ngược lại, Thăng Long vẫn sầm uất vì chính quyền Đàng ngoài cần có nguồn lực phục vụ cho chiến tranh nên đã đưa ra nhiều chính sách cởi mở hơn. Tuy nhiên, kinh tế Thăng Long phát triển mạnh nhất là sau khi nhà Nguyễn lên cai trị và chuyển kinh đô vào Huế năm 1802. Vì “ngại” sĩ phu và dân chúng Bắc Hà còn vọng Lê nên nhà Nguyễn lấy lòng họ bằng cách cho đắp đê chống lũ lụt, cứu trợ dân khi đói kém, giảm thuế chợ và thực hiện tư hữu đất đai mạnh hơn, điều đó đã tạo điều kiện cho nhiều làng nghề ào ra Thăng Long mua đất, lập xưởng. Cùng với các làng nghề có từ thời Lê, Thăng Long trở nên nhộn nhịp như thời còn là kinh đô.

Năm 1831, vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính lớn, phân chia và đặt tên mới theo địa giới hành chính cấp tỉnh, Thăng Long bị sáp nhập với một số khu vực khác thành tỉnh Hà Nội. Tỉnh Hà Nội có diện tích rộng hơn, gồm 4 phủ, 15 huyện. Trong số 15 huyện của tỉnh Hà Nội, hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận vẫn thuộc phủ Hoài Đức và “36 phố phường” đều nằm trong địa phận hai huyện này. Cũng theo nhà sử học Philippe Papin, chức trưởng phố ra đời vào cuối đời vua Thiệu Trị (1841 - 1847), chức này không nằm trong cơ cấu hành chính cấp phường mà do dân bầu ra để giúp chính quyền thu thuế, giữ trật tự an ninh. Tên phố Hàng ngày càng rõ nét và cụ thể hơn dưới triều Lê. Ghi chép một chuyến đi Bắc Kỳ năm 1876 của học giả Trương Vĩnh Ký cho thấy có nhiều phố bắt đầu bằng chữ Hàng gắn với tên mặt hàng đó.

Hiện Hà Nội có 53 phố và ngõ bắt đầu bằng chữ Hàng nhưng hầu như không còn phố, ngõ vừa sản xuất vừa bán hàng. Đó là theo quy luật kinh tế, những gì không phù hợp sẽ dần mất đi. Những con phố tên Hàng tuy không còn thể hiện vai trò về kinh tế nhưng vẫn có ý nghĩa đối với lối sống, văn hóa đô thị Thăng Long - Hà Nội.

Bài, ảnh: Nguyễn Ngọc Tiến

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề trước bài toán phát triển bền vững trong kỷ nguyên khí hậu

Làng nghề trước bài toán phát triển bền vững trong kỷ nguyên khí hậu

LNV - Trước bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét và ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu toàn cầu, việc phát triển làng nghề theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường đang trở thành một yêu cầu cấp thiết.

Làng nghề chuyển mình trong kỷ nguyên số

LNV - Thương mại điện tử (TMĐT) đang từng bước định hình lại cấu trúc phân phối hàng hóa, xóa bỏ các khâu trung gian truyền thống để đưa đặc sản vùng miền và sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiến thẳng từ xưởng sản xuất đến tay người tiêu dùng. Quá trình số hóa các làng nghề truyền thống không chỉ đơn thuần là việc mở rộng kênh bán hàng, mà còn là một cuộc cách mạng về tư duy kinh tế. Để duy trì sức bật này, sự dịch chuyển đòi hỏi một hệ sinh thái cộng hưởng chặt chẽ giữa nỗ lực thực chiến tại cơ sở, khung hành lang pháp lý đồng bộ và nguồn lực hỗ trợ từ các nền tảng công nghệ.
Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Tin khác

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Giải Marathon Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh Techcombank mùa thứ 9 khởi động

Giải Marathon Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh Techcombank mùa thứ 9 khởi động

Ngày 28/10/2026 – Giải Marathon Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh Techcombank chính thức khởi động mùa thứ 9. Dưới sự chỉ đạo của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố, Công ty Sunrise Events Vietnam phối hợp tổ chức với nhà tài trợ chiến lược - Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank). Là giải chạy biểu trưng mang tên Thành phố, giải đã trở thành một trong những sự kiện thể thao cộng đồng có quy mô, sức ảnh hưởng hàng đầu Việt Nam, không chỉ góp phần thúc đẩy du lịch thể thao, tạo động lực cho kinh tế dịch vụ, mà còn thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh.
Làng Từ Vân (Hà Nội): Giữ sắc cờ tổ quốc qua từng đường kim

Làng Từ Vân (Hà Nội): Giữ sắc cờ tổ quốc qua từng đường kim

LNV - Cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km, làng Từ Vân (xã Chương Dương, Thành phố Hà Nội) đã có hơn 80 năm gắn bó với nghề may cờ. Từ những lá cờ phục vụ Tổng khởi nghĩa năm 1945 đến hàng triệu lá cờ hiện diện trong các dịp lễ lớn, người dân nơi đây vẫn bề
Diễn đàn Kinh tế Trà Quốc tế 2026: Kết nối di sản, nâng tầm giá trị trà Việt

Diễn đàn Kinh tế Trà Quốc tế 2026: Kết nối di sản, nâng tầm giá trị trà Việt

LNV - Ngày 31/10, tại Thái Nguyên, Diễn đàn Kinh tế Trà Quốc tế 2026 với chủ đề “Từ di sản trà đến kinh tế trà toàn cầu” diễn ra với sự tham gia của các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và đối tác quốc tế.
Động lực bứt phá cho công nghiệp nông thôn Lâm Đồng từ hoạt động khuyến công

Động lực bứt phá cho công nghiệp nông thôn Lâm Đồng từ hoạt động khuyến công

Tỉnh Lâm Đồng sở hữu tiềm năng và dư địa phát triển công nghiệp nông thôn rất lớn nhờ nguồn nguyên liệu nông nghiệp quy mô lớn
Khuyến công Hà Tĩnh "bệ phóng" đưa sản vật quê hương vươn tầm quốc tế

Khuyến công Hà Tĩnh "bệ phóng" đưa sản vật quê hương vươn tầm quốc tế

Hoạt động khuyến công và xúc tiến thương mại tại Hà Tĩnh đã phát huy vai trò “cầu nối” chiến lược, tạo đòn bẩy quan trọng giúp các cơ sở sản xuất vượt qua rào cản về vốn, công nghệ và thị trường.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động