Hà Nội: 27°C Hà Nội
Đà Nẵng: 25°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 26°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Với hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, trong đó hơn 1.800 làng nghề truyền thống được công nhận, Việt Nam đang sở hữu một kho tàng thủ công mỹ nghệ giàu giá trị. Không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu lao động, các làng nghề còn mở ra hướng đi bền vững cho công nghiệp văn hóa – lĩnh vực được coi là động lực mới của nền kinh tế sáng tạo.

"Kho báu văn hóa nuôi dưỡng công nghiệp sáng tạo

Từ bao đời nay, làng nghề truyền thống đã trở thành nơi lưu giữ ký ức văn hóa và bàn tay khéo léo của người Việt. Mỗi sản phẩm ra đời không chỉ đơn thuần là vật dụng tiêu dùng, mà còn mang theo câu chuyện về lịch sử, phong tục và bản sắc vùng miền. Gốm Bát Tràng (Hà Nội) với hoa văn tinh tế, lụa Vạn Phúc mềm mại, tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) mộc mạc mà sâu sắc, hay nón lá Huế, hoa giấy Thanh Tiên, tranh làng Sình (TP Huế), đan cói ở Ninh Bình… đều là minh chứng rõ rệt cho sự hòa quyện giữa nghệ thuật và đời sống.

Những giá trị này ngày càng được nhìn nhận dưới góc độ công nghiệp văn hóa. Thực tế cho thấy, nhiều mặt hàng thủ công Việt Nam đã khẳng định chỗ đứng trên thị trường quốc tế, từ các hội chợ thủ công mỹ nghệ ở châu Âu, Mỹ cho đến những đơn hàng xuất khẩu thường xuyên. Đây chính là minh chứng cho sức hấp dẫn của văn hóa Việt khi được chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế.

Không chỉ dừng ở giá trị thương mại, làng nghề còn góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia. Du khách quốc tế đến Việt Nam thường tìm đến làng nghề để trải nghiệm, học hỏi và mua sắm sản phẩm. Một chuyến tham quan gốm Bát Tràng hay dạo bước ở làng lụa Vạn Phúc không chỉ là hành trình khám phá mà còn là cơ hội để du khách tiếp xúc trực tiếp với tinh hoa văn hóa bản địa. Điều đó khẳng định, làng nghề không chỉ là kinh tế nông thôn mà đã trở thành tài sản chiến lược của công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Hương Giang, nói đến các làng nghề truyền thống là chúng ta đang nhấn mạnh đến giá trị bản sắc độc đáo thể hiện thông qua các sản phẩm. Giá trị ấy là sự hun đúc của lối sống văn hóa, góc nhìn thẩm mỹ mang tính đặc thù địa phương có từ trăm năm hình thành và phát triển. Cho nên việc duy trì các giá trị bản sắc như là căn tính gốc, là nền móng để dựng lên trên đó những hình thức văn hóa đương đại phù hợp với thẩm mỹ, thói quen tiêu dùng của người hiện đại, chính là điểm nhấn cho công nghiệp văn hóa phát triển.

Cùng quan điểm, NSND Vương Duy Biên – nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam cho rằng, việc thúc đẩy làng nghề truyền thống gắn với phát triển công nghiệp văn hóa chính là cách gìn giữ và lan tỏa bản sắc dân tộc. Ông nhấn mạnh, trong cấu trúc của công nghiệp văn hóa có một lĩnh vực quan trọng là nghề thủ công mỹ nghệ, mà cội nguồn lại xuất phát từ các làng nghề. Nếu duy trì và phát triển được các làng nghề, chúng ta không chỉ bảo tồn sản phẩm thủ công truyền thống mà còn giữ gìn bản sắc văn hóa của đất nước.

Thách thức trên con đường hội nhập

Dù có tiềm năng lớn, sự phát triển của làng nghề trong dòng chảy công nghiệp văn hóa vẫn đang gặp nhiều trở ngại. Trước hết là tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếu tính chuyên nghiệp, khiến sức cạnh tranh còn hạn chế, khó đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế.

Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Hương Giang cho rằng, thách thức lớn nhất của làng nghề không chỉ nằm ở mô hình sản xuất mà còn ở việc giữ gìn giá trị văn hóa gốc. Bản sắc văn hóa của làng nghề chính là yếu tố tạo nên giá trị khác biệt, phản ánh thói quen ứng xử và tinh thần sáng tạo đặc trưng của từng vùng miền. Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa và áp lực thị trường, nhiều cơ sở sản xuất đã giản lược khâu thủ công, thậm chí “công nghệ hóa” để chạy theo số lượng, khiến sản phẩm dần mất đi tính độc bản và giá trị “handmade” vốn có.

Bên cạnh đó, không ít làng nghề vẫn loay hoay trong việc xây dựng thương hiệu, thiếu chiến lược quảng bá dài hơi. Sản phẩm dù độc đáo, tinh xảo nhưng chưa được định vị rõ ràng, dễ bị “hòa lẫn” trên thị trường. Thêm vào đó, sự thiếu liên kết giữa các hộ sản xuất và doanh nghiệp cũng khiến sản phẩm khó đạt quy mô lớn, khó hình thành chuỗi giá trị bền vững.

Một vấn đề khác là nguồn nhân lực kế cận còn hạn chế. Lực lượng lao động trẻ ít mặn mà với nghề truyền thống do thu nhập bấp bênh, trong khi lớp nghệ nhân cao tuổi ngày một thưa dần. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực sản xuất mà còn đe dọa sự thất truyền của những “bí quyết cổ truyền” đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Theo nhận định của các chuyên gia, trong tiến trình phát triển làng nghề gắn với công nghiệp văn hóa, có nghề thuận lợi để thích ứng nhưng cũng có nghề đối mặt với muôn vàn khó khăn. Ông Trịnh Quốc Đạt – Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, để tạo ra những sản phẩm thủ công thật sự giá trị và tinh xảo, người thợ phải bỏ ra rất nhiều công sức, thời gian và tâm huyết. Trong khi đó, chi phí nguyên liệu ngày càng tăng, nếu không có biện pháp cải tiến kỹ thuật hay giảm giá thành thì rất khó để duy trì sức cạnh tranh.

Ngoài bài toán về nguyên liệu, một rào cản khác là năng lực tài chính hạn hẹp. Phần lớn cơ sở sản xuất của làng nghề quy mô nhỏ lẻ, vốn đầu tư thấp nên khó mở rộng sản xuất, khó tiếp cận công nghệ hiện đại hay đổi mới mẫu mã sản phẩm. Việc thiếu chiến lược dài hơi về thị trường, thiếu kênh phân phối ổn định cũng khiến sản phẩm làng nghề chủ yếu tiêu thụ trong phạm vi hẹp, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng xuất khẩu.

Không chỉ vậy, tình trạng ô nhiễm môi trường tại nhiều làng nghề đang là vấn đề nan giải. Quá trình sản xuất theo phương thức thủ công truyền thống thường phát sinh chất thải rắn, nước thải, khí thải, trong khi hạ tầng xử lý còn lạc hậu, gây ảnh hưởng đến đời sống dân cư và làm giảm hình ảnh đẹp của làng nghề trong mắt du khách.

Đáng lo ngại hơn, nguồn nhân lực kế cận ngày càng khan hiếm. Lớp trẻ ít mặn mà nối nghề bởi thu nhập bấp bênh và áp lực công việc nặng nhọc, dẫn đến nguy cơ đứt gãy truyền nghề. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng duy trì sản xuất, mà còn đặt ra nguy cơ thất truyền những bí quyết tinh hoa đã kết tinh qua nhiều thế hệ.

Một khó khăn khác là việc xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm còn nhiều hạn chế. Nhiều làng nghề dù có sản phẩm độc đáo, tinh xảo nhưng chưa được nhận diện rõ ràng trên thị trường, dễ bị “hòa lẫn” với sản phẩm công nghiệp hoặc hàng nhái, hàng kém chất lượng. Sự thiếu gắn kết giữa sản xuất và du lịch, cũng như việc chưa tận dụng hiệu quả các kênh truyền thông hiện đại, khiến sản phẩm thủ công mỹ nghệ khó tạo được dấu ấn mạnh mẽ trong lòng người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Chính những rào cản chồng chất này đang làm chậm bước tiến của làng nghề trong dòng chảy công nghiệp văn hóa, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có những giải pháp đồng bộ, căn cơ và bền vững.

Để làng nghề cất cánh

Trước những thách thức còn tồn tại, muốn làng nghề phát triển mạnh mẽ trong dòng chảy công nghiệp văn hóa cần có những giải pháp đồng bộ. Trong đó, trọng tâm là vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa thích ứng với nhu cầu mới của thị trường. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng các nghệ nhân, mà còn đòi hỏi sự vào cuộc của chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng, để tạo dựng một môi trường phát triển bền vững cho làng nghề.

Theo ông Trịnh Quốc Đạt – Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, sản phẩm thủ công mỹ nghệ muốn đứng vững trên thị trường trong nước và quốc tế thì luôn cần cải tiến mẫu mã, bắt nhịp với thị hiếu khách hàng. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh, khi xuất khẩu ra nước ngoài, sản phẩm phải đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường quốc tế nhưng đồng thời phải giữ được bản sắc văn hóa dân tộc. Chỉ khi mang trong mình dấu ấn riêng biệt, sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam mới tạo được sự khác biệt và giá trị bền lâu. Nếu chỉ mải chạy theo thị hiếu tức thời, sản phẩm dễ mất đi chiều sâu văn hóa, khiến giá trị thực sự không cao.

Ông Đạt cho rằng, quá trình cải tiến mẫu mã đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nghệ nhân và các nhà thiết kế. Nghệ nhân có kỹ thuật, bí quyết nghề truyền thống; còn nhà thiết kế mang đến góc nhìn sáng tạo và bắt kịp xu hướng. Nếu hai bên tách rời nhau, sản phẩm khó đạt được sự hài hòa giữa tính thẩm mỹ hiện đại và bản sắc truyền thống. Vì vậy, bên cạnh việc huy động sự sáng tạo của giới trẻ, rất cần những cơ chế, sân chơi để nghệ nhân và nhà thiết kế có cơ hội gắn kết, cùng nhau tạo ra những sản phẩm vừa đẹp, vừa đậm đà bản sắc Việt Nam.

Còn theo NSND Vương Duy Biên, phát triển làng nghề trong bối cảnh mới cần hài hòa giữa ứng dụng công nghệ và gìn giữ tinh thần thủ công. Công nghệ, máy móc có thể trở thành công cụ hỗ trợ để giảm bớt sức lao động nặng nhọc, nhưng không thể thay thế bản chất thủ công mỹ nghệ vốn là “linh hồn” của làng nghề. “Làng nghề không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa mà còn là nơi “truyền nghề”. Là nơi những giá trị nghề nghiệp, tinh thần sáng tạo và bí quyết được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bởi vậy, điều quan trọng là phải bảo đảm sự tiếp nối này một cách nguyên vẹn, giữ đúng tinh thần thủ công truyền thống” – ông Biên nói.

Ông Biên cũng cho rằng, phần lớn làng nghề phân bố rải rác ở các tỉnh, vùng quê, nơi đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Vì thế, chính quyền địa phương cần ý thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn, đồng thời có chính sách hỗ trợ thiết thực. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh tuyên truyền để khơi dậy tình yêu nghề trong thế hệ trẻ – lực lượng kế cận – là yếu tố then chốt. Nếu nghề truyền thống không đảm bảo được cuộc sống, người dân buộc phải rẽ sang hướng khác, dẫn đến nguy cơ thất truyền. “Cần có cơ chế quan tâm, trân trọng và hỗ trợ xứng đáng đối với những gia đình, dòng họ đang lưu giữ nghề truyền thống. Khi người thợ yên tâm với cuộc sống, họ mới toàn tâm toàn ý gắn bó và phát huy di sản quý giá mà cha ông để lại” - ông Biên nhấn mạnh.

Đầu tư chiều sâu cho làng nghề bền vững

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Hương Giang, để vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa đưa làng nghề hòa nhập hiệu quả vào dòng chảy công nghiệp văn hóa hiện đại, cần có sự đầu tư bài bản và có chiều sâu từ phía Nhà nước. Việc bảo tồn các giá trị bản sắc trên phạm vi cả nước không chỉ giúp gìn giữ những nét văn hóa gốc của từng vùng miền, mà còn tạo nền tảng để thúc đẩy sản phẩm truyền thống Việt Nam vươn ra thế giới một cách hệ thống, bền vững. Cùng với đó, cần sớm ban hành những chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp văn hóa gắn với làng nghề, trong đó việc “gỡ rào cản thể chế” được xem là bước đi quan trọng. Đây chính là cơ sở để các làng nghề có điều kiện tự làm mới mình, đưa sản phẩm thủ công mỹ nghệ lên một tầm cao mới, đáp ứng cả nhu cầu thị trường trong nước lẫn quốc tế.

Song song với chính sách hỗ trợ, các làng nghề truyền thống cũng cần chủ động từng bước áp dụng công nghệ hiện đại, không chỉ trong khâu sản xuất mà cả trong thiết kế, quảng bá và truyền thông. Việc kết hợp hài hòa giữa yếu tố thủ công tinh xảo và công nghệ tiên tiến sẽ giúp sản phẩm vừa giữ được “hồn cốt” văn hóa, vừa phù hợp với thị hiếu tiêu dùng toàn cầu.

Phạm Sỹ

Tin liên quan

Tin khác

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Khám phá “Nét Hà thành - câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài”

Khám phá “Nét Hà thành - câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài”

Ngày 11/9/2026, tại không gian Hồ Văn thuộc di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Trung tâm Hoạt động Văn hoá Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã tổ chức khai mạc chương trình "Nét Hà thành - câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài". Sự kiện mở đầu chuỗi hoạt động, sự kiện Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 khai mạc tối 11/9 tại Hoàng Thành Thăng Long.
Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc - mùa thu năm 2026 có nhiều điểm mới

Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc - mùa thu năm 2026 có nhiều điểm mới

LNV - Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc - mùa thu năm 2026 được tổ chức từ ngày 26/9 đến 4/10 với nhiều đổi mới về nội dung, phương thức tổ chức, không gian trải nghiệm và ứng dụng công nghệ số, lễ hội năm nay hướng tới mục tiêu vừa bảo tồn, phát huy giá trị truy
Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh  Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

Bưởi Phúc Trạch là một trong những đặc sản trái cây nổi tiếng gắn liền với vùng đất Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

Công nghiệp hóa và đô thị hóa đang đặt vô số làng nghề cổ truyền trước bài toán sinh tồn gay gắt về thị trường, chi phí và sự suy giảm lực lượng lao động
Mở rộng không gian thị trường, nâng giá trị sản phẩm OCOP

Mở rộng không gian thị trường, nâng giá trị sản phẩm OCOP

LNV - Từ những điểm du lịch làng nghề, du lịch nông thôn đến hệ thống phân phối, chuỗi liên kết và thị trường xuất khẩu, sản phẩm OCOP đang có thêm nhiều cơ hội tiếp cận người tiêu dùng. Tuy nhiên, để đi xa hơn, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng đầu ra
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động