Hà Nội: 26°C Hà Nội
Đà Nẵng: 27°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 26°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 25°C Thừa Thiên Huế

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

Việt Nam hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, trong đó có khoảng 2.000 làng nghề truyền thống đã được công nhận. Đây không chỉ là không gian sản xuất kinh tế mà còn là những “vỉa tầng” văn hóa kết tinh tinh hoa của cộng đồng qua hàng thế kỷ. Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng tiêu dùng xanh đang định hình lại nền kinh tế toàn cầu, các làng nghề đang đối mặt với những thách thức mới.

“Giữ lửa” làng nghề không còn đơn thuần là việc bảo tồn một vài mẫu mã cổ hay duy trì những kỹ thuật thủ công lỗi thời. Đó là câu chuyện về việc làm thế nào để di sản có thể tự nuôi sống mình và đóng góp vào GDP quốc gia một cách tương xứng với tiềm năng, là động lực phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Những "nút thắt" của làng nghề hiện nay

Nghệ nhân và sự thích nghi trong thời đại mới

Đại đa số các nghệ nhân hôm nay đều là những bậc thầy giữ lửa. Họ sở hữu kỹ thuật điêu luyện được chắt chiu qua mấy mươi năm thanh xuân, có thể thổi hồn vào đất sét, dệt nên những dải lụa mềm như nước, hay gọt giũa những thớ gỗ thô sơ thành tác phẩm nghệ thuật. Thế nhưng, khi bước ra khỏi không gian xưởng nghề quen thuộc, họ lại trở “bỡ ngỡ” trước những khái niệm xa lạ mang tên “thiết kế công nghiệp” hay “quản trị thương hiệu”.

Có một khoảng cách tư duy rất lớn giữa kỹ nghệ thủ công đơn bản và tư duy thiết kế công nghiệp (industrial design) – vốn đòi hỏi tính chuẩn hóa, công năng tối ưu và khả năng ứng dụng cao. Do thiếu công cụ nghiên cứu thị trường, nhiều nghệ nhân vẫn sản xuất dựa trên quán tính kinh nghiệm và vốn liếng kế thừa từ tổ nghề, thay vì phân tích dữ liệu hành vi người tiêu dùng (consumer behavior) để biết thị trường thực sự cần gì. Sự chậm trễ trong việc cập nhật xu hướng thẩm mỹ đương đại và kỹ năng quản trị thương hiệu khiến họ trở nên yếu thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Hậu quả của sự chưa tương thích này dẫn đến một thực trạng tất yếu: Sự đứt gãy giữa di sản và đời sống thường nhật.

“Bẫy gia công” và sự đứt gãy chuỗi giá trị

Một thực trạng nhức nhối là nhiều làng nghề nổi tiếng đang trở thành “xưởng gia công” cho các thương hiệu nước ngoài. Sản phẩm lụa, mây tre đan hay gốm sứ tinh xảo của Việt Nam được xuất khẩu dưới nhãn mác ngoại, khiến giá trị gia tăng thực tế của người thợ nhận được là thấp nhất trong chuỗi cung ứng. Việc thiếu các thương hiệu quốc gia mạnh khiến làng nghề dễ bị tổn thương trước các biến động kinh tế thế giới.

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

Thách thức về nguồn nguyên liệu và rào cản xanh

Quy hoạch vùng nguyên liệu đang là điểm yếu chí tử. Nhiều làng nghề mây tre đan, gỗ mỹ nghệ phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài với giá cao và nguồn gốc không minh bạch. Trong khi đó, các thị trường khó tính như EU, Mỹ bắt đầu áp dụng các rào cản phi thuế quan khắt khe về chứng chỉ rừng (FSC), tiêu chuẩn khí thải và quy trình sản xuất bền vững. Phần lớn cơ sở sản xuất tại làng nghề hiện nay chưa đủ năng lực để đáp ứng các tiêu chuẩn “xanh” này.

Sự mai một của thế hệ kế cận

Hệ thống truyền nghề “cha truyền con nối” đang dần đứt gãy. Thu nhập từ nghề thủ công không đủ sức cạnh tranh với các công việc tại các khu công nghiệp hay dịch vụ đô thị. Tại nhiều làng nghề nổi tiếng, độ tuổi trung bình của lao động đã lên tới trên 50. Sự đứt gãy về chuyển giao nghề truyền thống của gia đình khiến nhiều bí quyết nghề đứng trước nguy cơ vĩnh viễn mất đi.

Cần gải pháp chuyển đổi mô hình kinh tế làng nghề

Kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ và thương mại hóa sáng tạo

Để “giữ lửa” làng nghề thành công trong kỷ nguyên mới, chúng ta cần một chiến lược tích hợp đồng bộ giữa bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ và thương mại hóa sáng tạo. Bản chất của làng nghề không nên được coi là các nhà máy sản xuất hàng loạt, nơi cạnh tranh về quy mô hay giá thành, mà phải trở thành những “vườn ươm sáng tạo” – nơi di sản được tái sinh bằng tư duy hiện đại.

Trọng tâm đầu tiên của chiến lược này là kế hoạch “Cú bắt tay di sản”, cơ quan chức năng và các hiệp hội đóng vai trò cầu nối, tạo cơ chế kết nối chặt chẽ giữa các nhà thiết kế thời trang, kiến trúc sư đương đại với các nghệ nhân làng nghề. Sự kết hợp giữa kỹ thuật thủ công tinh xảo, tích lũy qua nhiều thế hệ, và ngôn ngữ thiết kế mới sẽ tạo ra những sản phẩm “vừa cổ - vừa kim”, vừa giữ trọn hồn cốt dân tộc vừa đáp ứng được tiêu chuẩn thẩm mỹ khắt khe của thị trường quốc tế.

Song song với việc đổi mới sản phẩm, việc định danh thương hiệu cá nhân và tập thể là lá chắn bắt buộc để phát triển bền vững. Các địa phương cần hỗ trợ làng nghề xây dựng chỉ dẫn địa lý, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và ứng dụng giải pháp bảo hộ thương hiệu qua mã QR cùng công nghệ số hóa nguồn gốc sản phẩm. Thông qua giải pháp này, mỗi sản phẩm xuất xưởng sẽ được cấp một “hộ chiếu văn hóa” bằng mã QR định danh. Khi quét mã, người tiêu dùng không chỉ truy xuất được nguồn gốc, kiểm tra hàng chính hãng, mà còn được lắng nghe câu chuyện lịch sử của làng nghề và cảm nhận tâm huyết từ bàn tay người thợ chế tác.

Bên cạnh đó, kinh tế số chính là cánh cửa ngắn nhất để đưa các giá trị di sản này bước ra thế giới. Chiến lược này cần được hiện thực hóa bằng việc xây dựng bản đồ số làng nghề, nơi tích hợp toàn bộ dữ liệu về sản phẩm, nghệ nhân và quy trình sản xuất lên không gian mạng, giúp kết nối trực tiếp với các nhà thu mua quốc tế và giảm thiểu tối đa các khâu trung gian. Đồng thời, mô hình “livestream từ xưởng sản xuất” cần được đẩy mạnh thông qua việc đào tạo thế hệ trẻ tại làng nghề trở thành các nhà sáng tạo nội dung (Content Creators). Bằng cách trực tiếp quảng bá văn hóa nghề qua các nền tảng mạng xã hội, họ sẽ chuyển hóa quy trình chế tác thủ công thành những trải nghiệm nghệ thuật, từ đó khơi dậy nhu cầu tiêu dùng của khách hàng toàn cầu bằng sự thấu hiểu, cảm xúc và lòng trân trọng đối với một di sản sống.

Phát triển du lịch làng nghề theo chiều sâu

Thay vì chỉ bán sản phẩm, làng nghề nên bán “trải nghiệm”. Thông qua mô hình bảo tàng sống, đó là đầu tư hạ tầng du lịch để biến làng nghề thành các điểm đến văn hóa. Du khách sẵn sàng trả giá cao để được tự tay làm ra một chiếc bát gốm hay nhuộm một tấm vải lụa dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân.

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

Và liên kết chuỗi du lịch nông thôn như: Kết nối làng nghề với các tour du lịch di sản, tạo ra dòng tiền trực tiếp tại địa phương, giúp người dân có thêm thu nhập từ dịch vụ thay vì chỉ phụ thuộc vào việc bán thành phẩm.

Xanh hóa sản xuất và kinh tế tuần hoàn

Đây là chìa khóa để làng nghề tồn tại trong tương lai. Đó là đầu tư công nghệ xử lý môi trường tập trung: Nhà nước cần hỗ trợ vốn và công nghệ để các làng nghề xử lý nước thải, khí thải, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường. Khuyến khích các nghiên cứu biến phế phẩm làng nghề (vụn gỗ, xơ tre, bùn thải) thành các sản phẩm phụ trợ hoặc năng lượng tái tạo, tạo thành chu trình sản xuất khép kín.

Để “giữ lửa” làng nghề, cần một sự thay đổi tư duy từ cấp quản lý đến từng người thợ: Coi di sản là tài nguyên, coi sáng tạo là động lực và coi thị trường là thước đo giá trị. Chỉ khi những người thợ thủ công có thể sống giàu có bằng nghề của cha ông, khi những người trẻ tự hào quay về làng để khởi nghiệp, khi đó ngọn lửa làng nghề mới thực sự được giữ vững và tỏa sáng trong dòng chảy của thời đại mới.

Bình Nguyên

Tin liên quan

Tin mới hơn

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Khám phá “Nét Hà thành - câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài”

Khám phá “Nét Hà thành - câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài”

Ngày 11/9/2026, tại không gian Hồ Văn thuộc di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Trung tâm Hoạt động Văn hoá Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã tổ chức khai mạc chương trình "Nét Hà thành - câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài". Sự kiện mở đầu chuỗi hoạt động, sự kiện Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 khai mạc tối 11/9 tại Hoàng Thành Thăng Long.
Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc - mùa thu năm 2026 có nhiều điểm mới

Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc - mùa thu năm 2026 có nhiều điểm mới

LNV - Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc - mùa thu năm 2026 được tổ chức từ ngày 26/9 đến 4/10 với nhiều đổi mới về nội dung, phương thức tổ chức, không gian trải nghiệm và ứng dụng công nghệ số, lễ hội năm nay hướng tới mục tiêu vừa bảo tồn, phát huy giá trị truy
Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh  Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

Bưởi Phúc Trạch Hà Tĩnh Giữ nguồn gen quý, vươn tầm thương hiệu quốc tế

Bưởi Phúc Trạch là một trong những đặc sản trái cây nổi tiếng gắn liền với vùng đất Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

Người trẻ “lội ngược dòng” Giữ lửa di sản làng nghề Hưng Yên

Công nghiệp hóa và đô thị hóa đang đặt vô số làng nghề cổ truyền trước bài toán sinh tồn gay gắt về thị trường, chi phí và sự suy giảm lực lượng lao động
Mở rộng không gian thị trường, nâng giá trị sản phẩm OCOP

Mở rộng không gian thị trường, nâng giá trị sản phẩm OCOP

LNV - Từ những điểm du lịch làng nghề, du lịch nông thôn đến hệ thống phân phối, chuỗi liên kết và thị trường xuất khẩu, sản phẩm OCOP đang có thêm nhiều cơ hội tiếp cận người tiêu dùng. Tuy nhiên, để đi xa hơn, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng đầu ra
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động