Hà Nội: 28°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế
KỲ 2: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TỪ TÀI NGUYÊN DI SẢN

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Sự kết hợp giữa làng nghề và du lịch góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với bạn bè thế giới như một điểm đến văn hóa độc đáo; đồng thời, các làng nghề còn là nguồn cảm hứng dồi dào cho những ngành sáng tạo hiện đại. Họa tiết từ lụa Vạn Phúc đã xuất hiện trong các bộ sưu tập thời trang cao cấp của nhiều nhà thiết kế Việt Nam và quốc tế. Tranh sơn mài Tương Bình Hiệp được trưng bày trong các triển lãm nghệ thuật ở nước ngoài, trong khi gốm Tân Vạn trở thành nguồn cảm hứng cho các sản phẩm nội thất hiện đại.

Dẫu sở hữu tiềm năng to lớn, các làng nghề truyền thống vẫn đang phải đối diện với nhiều thách thức trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa. Đó không chỉ là nguy cơ mai một mà còn là sự biến chất, đánh mất bản sắc vốn có nếu không có chiến lược phù hợp. Đó sẽ là một tổn thất khó có thể bù đắp.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các làng nghề trong ngành công nghiệp văn hóa. Một trong những định hướng lớn là Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022.

Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 khôi phục, bảo tồn được ít nhất 129 nghề truyền thống và 208 làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một, thất truyền; công nhận mới 213 nghề và 96 làng nghề truyền thống; phát triển khoảng 301 làng nghề gắn với du lịch; hơn 80% số làng nghề, làng nghề truyền thống hoạt động có hiệu quả; 100% người lao động trong làng nghề được đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng nghề, kỹ năng vệ sinh an toàn lao động và kiến thức công nghệ thông tin cơ bản; có ít nhất 50% số làng nghề có sản phẩm được bảo hộ sở hữu thương hiệu. Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân các làng nghề đạt khoảng 10%/năm.

Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành nghề nông thôn ưu tiên hỗ trợ các làng nghề có nguy cơ thất truyền, đặc biệt là những làng nghề của đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách khuyến khích phát triển làng nghề gắn với thị trường và hội nhập quốc tế, đồng thời thúc đẩy mô hình sản xuất tuần hoàn, tiết kiệm nguyên liệu và bảo vệ môi trường. Điều này giúp các làng nghề thích ứng với xu hướng phát triển xanh, nâng cao giá trị thương hiệu và đưa sản phẩm thủ công Việt Nam vươn xa hơn.

Nhà nước cũng chú trọng hoàn thiện cơ chế tôn vinh và đãi ngộ nghệ nhân - những “linh hồn” của làng nghề. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp các bộ, ngành xây dựng chính sách hỗ trợ nghệ nhân phát triển nghề nghiệp, tham gia đào tạo và truyền nghề. Việc phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Nhân dân” hay “Nghệ nhân Ưu tú” không chỉ là sự ghi nhận mà còn là động lực để thế hệ trẻ tiếp nối di sản, góp phần giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực. Tuy nhiên, để các làng nghề thật sự trở thành nguồn lực mạnh mẽ, đóng góp tích cực cho công nghiệp văn hóa, cần sự chung tay của toàn xã hội.

Về phía Nhà nước, cần ban hành các chính sách ưu đãi về vốn, đất đai, thuế, khuyến khích các nghệ nhân phát triển nghề, xây dựng các chương trình đào tạo nghệ nhân trẻ một cách hợp lý để bảo đảm sự kế thừa. Tổ chức nhiều hội chợ, chương trình xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế giới thiệu sản phẩm thủ công truyền thống, qua đó tạo cầu nối giúp các làng nghề có cơ hội quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm thị trường.

Về phía các địa phương, cần có đánh giá cụ thể với các làng nghề để có những chính sách hỗ trợ phù hợp. Về phía các làng nghề cần tăng khả năng thích ứng, thay đổi tổ chức, cấu trúc sản xuất, nâng cao tính gắn kết, hạn chế kiểu hoạt động sản xuất, kinh doanh tự phát, manh mún, nhỏ lẻ, dẫn đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh không cao; phát huy tính chủ động, sáng tạo, tìm hướng đi thích ứng với yêu cầu của xã hội, như việc đa dạng mẫu mã sản phẩm, linh hoạt trong việc tiếp cận ứng dụng công nghệ và tiếp thị sản phẩm, mở rộng thị trường; cần xác định công nghệ số là chìa khóa không thể thiếu, các làng nghề có thể xây dựng các video giới thiệu trên nền tảng mạng xã hội để quảng bá sản phẩm trong nước cũng như quốc tế.

Theo Giáo sư Claus (Đại học Lund, Thụy Điển) cho rằng, quá trình số hóa và áp dụng công nghệ mới là xu hướng quan trọng trong sản xuất tại làng nghề, giúp bảo tồn, duy trì truyền thống và di sản làng nghề và tạo sự kết nối giữa truyền thống, di sản đó và thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, việc bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống cần tích hợp văn hóa đa giá trị như kết hợp với du lịch, đưa làng nghề vào hành trình khám phá.

Mỗi làng nghề cần xây dựng thương hiệu riêng, gắn với câu chuyện đặc trưng để tạo dấu ấn. Mặt khác sự hợp tác với các nhà thiết kế, nhà làm phim, nghệ sĩ và doanh nghiệp cũng mở ra cơ hội mới để phát triển làng nghề. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã thành công trong việc biến làng nghề truyền thống thành một nguồn lực góp phần phát triển công nghiệp văn hóa, đây có thể xem là những bài học giá trị cho Việt Nam.

Tại Nhật Bản, chính phủ nước này đã bảo tồn nghề làm giấy washi và gốm sứ Arita bằng cách hỗ trợ tài chính cho nghệ nhân, xây dựng thương hiệu quốc gia và kết hợp với du lịch. Du khách đến đây có thể tham gia các workshop làm giấy thủ công hoặc thử sức với nghệ thuật gốm, nâng tầm giá trị trải nghiệm văn hóa.

Ở Italia, ngành thủ công cao cấp như sản xuất da hay thủy tinh Murano trở thành biểu tượng nhờ gắn sản phẩm với câu chuyện thương hiệu, biến mỗi món đồ thành một tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao trên thị trường toàn cầu. Hàn Quốc cũng khéo léo đưa các làng nghề như làng gốm Incheon, làng nghề giấy truyền thống Jeonju, làng cổ Hahoe chuyên làm mặt nạ,... vào phim ảnh và K-pop, thu hút sự chú ý của giới trẻ và du khách quốc tế.

Các làng nghề truyền thống không chỉ là tài sản quý của Việt Nam mà có thể xem như một trong những “chìa khóa vàng” để góp phần thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa trong thời đại mới. Với sự đầu tư đúng đắn, sự đồng hành, chung tay của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, cùng việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam hoàn toàn có thể biến các làng nghề thành một điểm nhấn quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững từ những giá trị truyền thống. Hành trình ấy không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào của mỗi người Việt trong nỗ lực gìn giữ và lan tỏa bản sắc dân tộc ra thế giới.

Phong Điệp

Tin liên quan

Tin khác

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Chuyên gia hiến kế nâng tầm thương hiệu Việt trong bối cảnh hội nhập mới

Chuyên gia hiến kế nâng tầm thương hiệu Việt trong bối cảnh hội nhập mới

Ngày 23/9/2026, tại Hà Nội, Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh tổ chức Diễn đàn “Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh”. Diễn đàn có sự tham dự của các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia kinh tế và đại diện cộng đồng doanh nghiệp nhằm thảo luận về những thách thức, cơ hội mới trong tiến trình định vị thương hiệu quốc gia và doanh nghiệp trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và hội nhập quốc tế.
Làng nghề chuyển mình trong dòng chảy số

Làng nghề chuyển mình trong dòng chảy số

Từ những chiếc giỏ tre, khay nứa được làm thủ công ở Thọ Đơn đến những chiếc nón lá được chằm tỉ mỉ ở Tri Lễ, nhiều làng nghề truyền thống đang từng bước tìm đường lên không gian số
Nghề làm lồng đèn truyền thống  giữ gìn ký ức mùa trăng ở Phú Bình

Nghề làm lồng đèn truyền thống giữ gìn ký ức mùa trăng ở Phú Bình

Gần đến rằm Trung thu, một số con hẻm của xóm Phú Bình trở nên sôi động, bắt mắt với những chiếc lồng đèn truyền thống nhiều hình dáng và sắc màu.
Hà Nội chấm thi sản phẩm làng nghề  và tôn vinh nghệ nhân tiêu biểu năm 2026

Hà Nội chấm thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân tiêu biểu năm 2026

Hội nghị chấm thi “Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân làng nghề thành phố Hà Nội năm 2026”
Người đưa sen Quan Âm nở mùa thu tại Hải Phòng

Người đưa sen Quan Âm nở mùa thu tại Hải Phòng

(LNV)- Từ niềm say mê với cây hoa và mạnh dạn thử nghiệm với chất đất, mùa vụ khác nhau, anh Đỗ Văn Sanh, Giám đốc HTX Mây Hoa Sanh, phường An Dương, Hải Phòng đã nghiên cứu, triển khai thành công việc trồng hoa sen Quan Âm nở muộn. Những bông sen vốn thư
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động