Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số
![]() |
Các chính sách hỗ trợ DN TCMN đã và đang được triển khai trên nhiều khía cạnh, bao gồm ưu đãi thuế quan, XTTM và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả và khả năng thích ứng với kinh tế số còn nhiều bất cập.
Khái quát thực trạng chính sách hỗ trợ
+ Chính sách thuế và hải quan
Đây là lĩnh vực có nhiều thành tựu rõ rệt. Chính sách nhà nước đã tạo một khung pháp lý vững chắc thông qua việc ban hành các Nghị định quy định chi tiết về việc thực thi các FTA (Nghị định 115, 116, 117/2022/NĐCP...) tạo khung pháp lý rõ ràng để DN TCMN tận dụng ưu đãi. Phần lớn các mặt hàng TCMN xuất khẩu (XK) có thuế suất thuế XK là 0% và được áp dụng thuế suất Thuế giá trị gia tăng (GTGT) 0%
Lợi thế thuế quan theo các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đối với hàng TCMN
Đối với Hiệp định EVFTA (Việt Nam - EU), văn bản pháp lý quy định là Nghị định 116/2022/NĐCP với mức thuế suất ưu đãi cho hàng thủ công mỹ nghệ là 0% (Theo lộ trình). Hiệp định này tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn về giá, nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải chứng minh Quy tắc xuất xứ (Roo) một cách chặt chẽ.
Đối với Hiệp định CPTPP, văn bản pháp lý áp dụng là Nghị định 115/2022/NĐ-CP, mang lại mức thuế suất ưu đãi 0% (Theo lộ trình). Vai trò của hiệp định này là giúp mở cửa thị trường tiềm năng ở châu Mỹ và châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp phải có C/O hoặc Tự chứng nhận xuất xứ (CNM).
Đối với Hiệp định UKVFTA (Việt Nam - Anh), căn cứ theo văn bản pháp lý là Nghị định 117/2022/ NĐ-CP, mức thuế suất ưu đãi đạt 0% (Theo lộ trình). Việc triển khai hiệp định giúp duy trì và phát triển thị trường Anh sau Brexit, kèm theo yêu cầu về C/O Mẫu EUR.1 hoặc CNM.
Đối với Hiệp định ACFTA (ASEAN - Trung Quốc), văn bản pháp lý điều chỉnh là Nghị định 118/2022/NĐ-CP với thuế suất ưu đãi cũng ở mức 0% (Theo lộ trình). Cơ chế này giúp mở rộng thị trường khu vực, đồng thời gia tăng đáng kể khả năng cạnh tranh với các nước trong khối ASEAN.
Cho thấy thành tựu của chính sách trong việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi. Lợi thế thuế quan đã giúp sản phẩm TCMN Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào các thị trường khó tính (EU, Nhật Bản, Canada). Tuy nhiên, thách thức nằm ở việc thực thi. DN TCMN, đặc biệt là các hộ sản xuất nhỏ, thường không đủ năng lực để hiểu và tuân thủ các quy tắc xuất xứ phức tạp, dẫn đến tình trạng "bỏ lỡ" ưu đãi thuế.
![]() |
+ Chính sách xúc tiến thương mại (XTTM) và thị trường
Các chương trình XTTM quốc gia hỗ trợ kinh phí cho DN tham gia hội chợ, triển lãm truyền thống. Điều này đã giúp kim ngạch xuất khẩu ngành hàng duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng, hướng tới mục tiêu phát triển cao.
Tổng kim ngạch xuất khẩu ngành TCMN giai đoạn 2019 - 2025
Vào năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành thủ công mỹ nghệ đạt khoảng 2.23 tỷ USD, đây là số liệu phản ánh tình hình trước giai đoạn dịch bệnh.
Đến năm 2023, con số này ước tính tăng lên khoảng 3.5 tỷ USD, cho thấy sự phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ của ngành sau đại dịch, cùng với những tác động tích cực từ các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Bước sang năm 2024, tổng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định khi đạt khoảng 4.0 tỷ USD, qua đó khẳng định vững chắc vị thế ngành hàng chủ lực.
Trong năm 2025, mục tiêu tăng trưởng cao được đặt ra với kim ngạch dự kiến dao động từ 4.0 đến 5.0 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu tất yếu phải có sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu sản phẩm và phương thức xúc tiến thương mại (XTTM).
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch cho thấy nỗ lực lớn của DN. Tuy nhiên, để đạt mốc 5 tỷ USD, đòi hỏi phải có sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm: tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao (dựa trên thiết kế và thương hiệu) thay vì sản phẩm gia công đơn thuần. Đây là điểm mà chính sách XTTM hiện tại chưa thực sự tạo ra được đột phá.
Các thị trường xuất khẩu chính và tỷ trọng ước tính (2020 – 2025)
Đối với thị trường Hoa Kỳ (Mỹ), đây là thị trường tiêu thụ lớn nhất với tỷ trọng ước tính chiếm từ 35% đến 46.3% (dẫn đầu). Vai trò của thị trường này đặc biệt quan trọng đối với các sản phẩm trang trí nội thất và mây tre đan, đồng thời đòi hỏi yêu cầu cao về trách nhiệm xã hội cũng như quy trình sản xuất.
Đối với thị trường Liên minh Châu Âu (EU), đây là thị trường quan trọng thứ hai với tỷ trọng ước tính đạt khoảng 15-20%. Vai trò nổi bật của EU là mang lại các cam kết thuế 0% theo hiệp định EVFTA, tuy nhiên nơi đây cũng đưa ra những yêu cầu khắt khe về môi trường và các tiêu chuẩn kỹ thuật (ví dụ điển hình là tiêu chuẩn REACH).
Đối với thị trường Nhật Bản, đây là thị trường đứng trong Top 3 xuất khẩu. Vai trò của thị trường Nhật Bản là đòi hỏi chất lượng sản phẩm rất cao, tập trung sâu vào tính thẩm mỹ, yếu tố truyền thống và độ bền. Do đó, thị trường này cực kỳ thích hợp cho các dòng sản phẩm thủ công tinh xảo, chất lượng cao.
Sự tập trung vào ba thị trường lớn cho thấy tính ổn định nhưng cũng là rủi ro. Chính sách đã hỗ trợ tốt việc thâm nhập, nhưng cần hỗ trợ sâu hơn trong việc duy trì và đa dạng hóa, đặc biệt là giúp DN đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và tiêu chuẩn số (tiêu chuẩn về chất lượng hình ảnh, mô tả sản phẩm trên các nền tảng TMĐT) mà các thị trường này đang áp dụng.
Điểm mạnh (thành tựu) của chính sách hỗ trợ
Khung pháp lý thuế quan ưu đãi: hoàn thành việc đàm phán và thực thi các FTA, tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá chưa từng có cho sản phẩm TCMN.
Hỗ trợ phát triển nguồn lực truyền thống: có các chính sách tôn vinh nghệ nhân, đào tạo nghề, giữ được nguồn nhân lực tay nghề cao, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các nghề truyền thống.
Bước đầu hỗ trợ TMĐT: các đề án của Chính phủ và địa phương (như Kế hoạch “Phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2021 – 2025” của Hà Nội) đã bước đầu hỗ trợ DN nhận thức và ứng dụng TMĐT, với mục tiêu cụ thể về doanh số TMĐT B2C đạt 10% tổng mức bán lẻ vào năm 2025.
Điểm yếu (hạn chế) của chính sách hỗ trợ
Thiếu tính chuyên sâu trong XTTM số: chính sách XTTM còn nặng về hình thức truyền thống (hội chợ vật lý), thiếu chương trình hỗ trợ thường xuyên và chuyên sâu về marketing điện tử, xây dựng thương hiệu số (Digital Branding) và kỹ năng bán hàng trên sàn quốc tế. Hỗ trợ chưa tương xứng với yêu cầu chuyển đổi số toàn diện.
Chính sách hỗ trợ thiết kế sáng tạo chưa hiệu quả: chính sách chưa đủ mạnh để tạo ra sự đột phá về mẫu mã. Thiếu cơ chế khuyến khích tài chính, hỗ trợ kinh phí thiết kế cho các DN nhỏ. Các dự án hỗ trợ thường mang tính dự án ngắn hạn, không tạo ra chu trình đổi mới mẫu mã liên tục (như yêu cầu của ngành hàng thời trang/TCMN).
Vướng mắc về thủ tục hành chính thuế/hải quan cho làng nghề: đây là hạn chế lớn nhất từ góc độ hành chính. Thiếu hướng dẫn cụ thể và linh hoạt về việc xác định chi phí hợp lý đối với lao động gia công TCMN không thường xuyên tại nông thôn. Điều này gây khó khăn trong việc xác định chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp, làm tăng gánh nặng hành chính và chi phí tuân thủ cho các hộ kinh doanh và DN nhỏ, gây ra sự không minh bạch.
Chính sách về vùng nguyên liệu chưa nhất quán: chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa ngành Công thương và ngành Nông nghiệp để quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn bền vững, ảnh hưởng đến khả năng chứng minh xuất xứ và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường.
Nguyên nhân của hạn chế
Nguyên nhân khách quan: DN TCMN chủ yếu là DN nhỏ và siêu nhỏ, khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và thông tin còn hạn chế. Tư duy sản xuất theo truyền thống nặng hơn tư duy theo nhu cầu thị trường.
Nguyên nhân chủ quan: thiếu cơ chế đồng bộ hóa: thiếu sự kết nối, đồng bộ giữa các chính sách XTTM (Bộ Công Thương), chính sách đào tạo nghề và chính sách phát triển kinh tế số; thiếu tính linh hoạt của pháp lý: các văn bản pháp luật về thuế, hải quan được thiết kế cho mô hình sản xuất công nghiệp hiện đại, chưa đủ linh hoạt để áp dụng cho đặc thù của sản xuất TCMN theo mô hình làng nghề, nơi sử dụng lao động không thường xuyên, khó có hóa đơn chứng từ; phân bổ nguồn lực chưa tương xứng: nguồn vốn hỗ trợ XTTM và đào tạo nghề còn hạn chế, chưa đủ để bao phủ hết nhu cầu chuyển đổi số của các làng nghề.
Tin liên quan
Tin khác
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số
07:00 | 08/07/2026 Nghiên cứu trao đổi
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định
07:00 | 02/07/2026 Nghiên cứu trao đổi
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề
08:00 | 17/06/2026 Nghiên cứu trao đổi
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số
07:00 | 11/06/2026 Nghiên cứu trao đổi
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo
07:00 | 05/06/2026 Nghiên cứu trao đổi
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số
07:00 | 28/05/2026 Nghiên cứu trao đổi
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa
14:56 | 22/05/2026 Nghiên cứu trao đổi
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề
08:00 | 15/05/2026 Nghiên cứu trao đổi
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa
09:00 | 09/05/2026 Nghiên cứu trao đổi
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
14:29 | 19/03/2026 Nghiên cứu trao đổi
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu
11:59 | 07/03/2026 Nghiên cứu trao đổi
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc
14:03 | 28/01/2026 Kinh tế
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”
11:58 | 14/01/2026 Nghiên cứu trao đổi
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
09:14 | 09/01/2026 Nghiên cứu trao đổi
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)
10:11 | 13/11/2025 Tin tức
Góp phần tôn vinh những tấm gương sáng vì sức khỏe cộng đồng
15:26 Tin tức
Hà Nội: Rà soát kỹ di tích, làng nghề trong dự án trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng
07:00 Tin tức
Vươn lên làm giàu từ mô hình trồng nho sữa ở xã Liên Minh
12:01 Khởi nghiệp
Đổi mới công nghệ, làng nghề truyền thống tăng sức cạnh tranh trên thị trường
08:53 Khuyến công
Hà Nội tăng tốc chuẩn hóa, kết nối, ‘làm sạch’ dữ liệu đất đai toàn thành phố
08:41 Nông thôn mới













