Hà Nội: 32°C Hà Nội
Đà Nẵng: 29°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 29°C Thừa Thiên Huế

Làng nghề trước bài toán phát triển bền vững trong kỷ nguyên khí hậu

LNV - Trước bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét và ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu toàn cầu, việc phát triển làng nghề theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường đang trở thành một yêu cầu cấp thiết.
Làng nghề trước bài toán phát triển bền vững trong kỷ nguyên khí hậu

Theo GS.TS Đặng Kim Chi, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, các làng nghề Việt Nam là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như: Sản xuất thủ công, cung ứng dịch vụ quy mô nhỏ, có sự tham gia của nhiều thành phần như hộ gia đình, hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, không ít làng nghề phát sinh lượng chất thải lớn, gây ra ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất, góp phần làm gia tăng phát thải khí nhà kính, gây nên biến đổi khí hậu.

Trước cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 của Việt Nam tại COP26, việc chuyển đổi mô hình sản xuất tại các làng nghề theo hướng xanh, tuần hoàn và tiết kiệm tài nguyên không chỉ là lựa chọn đúng đắn mà còn là đòi hỏi bắt buộc để thích ứng với xu thế toàn cầu. Mô hình sản xuất xanh sẽ giúp các làng nghề vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước lẫn quốc tế.

Sự chuyển mình tích cực

Là địa phương có số lượng làng nghề nhiều nhất cả nước, Hà Nội đã tích cực tổ chức nhiều chương trình kết nối sản xuất và tiêu dùng bền vững. Nhiều cơ sở đã chủ động đầu tư công nghệ mới, ứng dụng chuyển đổi số để giảm phát thải. Đơn cử, nhiều cơ sở sản xuất tại làng gốm Bát Tràng đã thay thế lò nung than truyền thống bằng lò khí gas hóa lỏng.

“Chi phí đầu tư lò gas cao gấp 8 lần lò than, nhưng về dài hạn, hiệu quả kinh tế và môi trường đều vượt trội. Sự thay đổi này không chỉ giúp giảm thiểu khí thải độc hại, mà còn giúp giảm đáng kể chi phí. Ước tính chi phí sản xuất một chiếc bình dùng lò nung gas rẻ hơn 20%, sản xuất một bộ bát đĩa sẽ rẻ hơn 60% so với dùng lò nung bằng than”, ông Lê Đức Trọng - Giám đốc Công ty Cổ phần Thiết kế và Sản xuất Gốm sứ Bát Tràng cho biết.

Tại làng gốm cổ Kim Lan (Gia Lâm, Hà Nội), nhờ tham gia chương trình xây dựng mạng lưới liên kết, hợp tác sản xuất và tiêu dùng bền vững do Sở Công Thương Hà Nội triển khai, nhiều doanh nghiệp đã chủ động chuyển đổi theo hướng “xanh hóa” sản xuất. Các cơ sở tại đây được hỗ trợ đổi mới công nghệ, cập nhật thường xuyên các tiêu chuẩn sản xuất xanh, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời giảm thiểu phát thải ra môi trường. Đây là bước đi quan trọng góp phần giúp làng nghề thích ứng với yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.

Không chỉ riêng Hà Nội, nhiều làng nghề khắp cả nước như: Làng chiếu cói Nam Định (nay thuộc Ninh Bình), làng giấy dó Bắc Ninh, làng nón Huế hay làng dệt thổ cẩm Tây Nguyên cũng đang tích cực chuyển đổi, áp dụng các công nghệ sạch, tận dụng năng lượng tái tạo và giảm thiểu rác thải.Những nỗ lực này là minh chứng cho khả năng thích ứng khí hậu của cộng đồng làng nghề nếu được hỗ trợ đúng hướng.

Giải quyết các khó khăn

Dù đã phần nào cho thấy sự chuyển mình tích cực, tuy vậy, hành trình “xanh hóa” làng nghề vẫn gặp nhiều rào cản đến từ việc thiếu vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và nhận thức hạn chế của người lao động. Phần lớn các cơ sở vẫn sử dụng thiết bị cũ, không có hệ thống xử lý nước thải, khí thải đạt chuẩn. Trong khi đó, việc tiếp cận tín dụng xanh, công nghệ xử lý rác thải hay tiêu chuẩn carbon còn hạn chế.

Theo Nhà giáo Ưu tú Trịnh Quốc Đạt - Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: “Cần phải thay đổi tư duy quy hoạch làng nghề theo hướng gắn chặt với bảo vệ môi trường. Những công đoạn gây ô nhiễm nặng như mạ kim loại, sấy lưu huỳnh hay kéo kén nên được di dời khỏi khu dân cư. Quy hoạch đồng bộ sẽ giúp giữ gìn không gian văn hóa truyền thống mà vẫn đảm bảo tiêu chuẩn khí hậu”.

Về mặt chính sách, PGS.TS Bùi Thị An - Viện trưởng Viện Tài nguyên, môi trường và Phát triển cộng đồng cho rằng: “Cần có cơ chế xã hội hóa nguồn lực để xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải quy mô cụm làng nghề. Nếu không có đầu tư hạ tầng môi trường và công nghệ xanh, mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu sẽ khó khả thi”.

Cả làng đã có 700 lò nung gas, giúp giảm hơn 93.161 tấn CO₂, đưa Bát Tràng phát triển theo hướng hiện đại, bền vững
Cả làng đã có 700 lò nung gas, giúp giảm hơn 93.161 tấn CO₂, đưa Bát Tràng phát triển theo hướng hiện đại, bền vững

Đặc biệt, cần nâng cao nhận thức và năng lực sản xuất xanh cho người lao động. Các chương trình đào tạo về sử dụng nguyên liệu hiệu quả, tái chế, kỹ năng sản xuất sạch hơn cần được triển khai rộng rãi. Tích hợp nội dung kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải vào chương trình giáo dục nghề cũng sẽ tạo ra thế hệ kế thừa có tư duy đổi mới và trách nhiệm với môi trường.

Trong thời đại số, công nghệ thông tin cũng là công cụ đắc lực để làng nghề tiếp cận thị trường xanh. Các nền tảng thương mại điện tử, website truy xuất nguồn gốc, mã QR minh bạch thông tin môi trường hay livestream bán hàng là những cách giúp sản phẩm thủ công tiếp cận người tiêu dùng hiện đại, những khách hàng vốn ngày càng ưu tiên yếu tố “xanh” trong lựa chọn mua sắm. Cuối cùng, vai trò điều phối của Nhà nước có ý nghĩa then chốt. Các địa phương cần xây dựng chiến lược phát triển làng nghề gắn với lộ trình giảm phát thải, đảm bảo đồng bộ chính sách, quy hoạch, tín dụng và hạ tầng kỹ thuật. Đồng thời, huy động các tổ chức xã hội, Hiệp hội nghề nghiệp cùng tham gia đào tạo, giám sát và hỗ trợ làng nghề tiếp cận các công nghệ sản xuất sạch hơn, giảm phát thải khí nhà kính, chống biến đổi khí hậu.

Làng nghề là “tế bào” văn hóa và kinh tế của nông thôn Việt Nam. Nếu được chuyển đổi đúng hướng, chúng không chỉ là nơi giữ gìn truyền thống mà còn có thể trở thành mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh, bền vững và có trách nhiệm toàn cầu.

Thanh Xuân

Tin liên quan

Tin khác

Làng nghề chuyển mình trong kỷ nguyên số

LNV - Thương mại điện tử (TMĐT) đang từng bước định hình lại cấu trúc phân phối hàng hóa, xóa bỏ các khâu trung gian truyền thống để đưa đặc sản vùng miền và sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiến thẳng từ xưởng sản xuất đến tay người tiêu dùng. Quá trình số hóa các làng nghề truyền thống không chỉ đơn thuần là việc mở rộng kênh bán hàng, mà còn là một cuộc cách mạng về tư duy kinh tế. Để duy trì sức bật này, sự dịch chuyển đòi hỏi một hệ sinh thái cộng hưởng chặt chẽ giữa nỗ lực thực chiến tại cơ sở, khung hành lang pháp lý đồng bộ và nguồn lực hỗ trợ từ các nền tảng công nghệ.
Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hà Nội dẫn đầu cả nước với 3.544 sản phẩm OCOP

Hà Nội dẫn đầu cả nước với 3.544 sản phẩm OCOP

Sau hơn 7 năm triển khai, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã từng bước khẳng định vai trò
Xã Ứng Thiên phát triển kinh tế, tạo đà xây dựng nông thôn mới

Xã Ứng Thiên phát triển kinh tế, tạo đà xây dựng nông thôn mới

LNV - Tận dụng lợi thế địa phương, nhiều hộ dân xã Ứng Thiên đã chủ động chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các mô hình nông nghiệp đa dạng. Sự đổi mới này không chỉ nâng cao thu nhập, tạo việc làm tại chỗ mà còn tạo đà vững chắc c
VỀ MIỀN DI TÍCH, ĐÓN LỘC PHÙ SA CÙNG LỄ HỘI RƯƠI VĨNH THUẬN 2026

VỀ MIỀN DI TÍCH, ĐÓN LỘC PHÙ SA CÙNG LỄ HỘI RƯƠI VĨNH THUẬN 2026

LNV - Hai ngày 31/10 và 01/11/2026, xã Vĩnh Thuận, thành phố Hải Phòng mời Nhân dân và du khách về Khu di tích lịch sử cấp Quốc gia Miếu Lác dự Lễ hội Rươi năm 2026. Với chủ đề "Về miền di tích, đón lộc phù sa", lễ hội tôn vinh nghề rươi truyền thống của
Xã Kiều Phú đưa công nghệ xuống đồng ruộng, nâng cao hiệu quả sản xuất

Xã Kiều Phú đưa công nghệ xuống đồng ruộng, nâng cao hiệu quả sản xuất

LNV - Ứng dụng thiết bị bay không người lái vào sản xuất lúa, xã Kiều Phú từng bước đổi mới phương thức canh tác, giảm chi phí, nâng cao năng suất và thu nhập cho nông dân. Kết quả bước đầu từ mô hình 15ha lúa trong vụ mùa năm 2026 mở ra triển vọng phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.
Từ ban thờ Tổ đến bàn tay người thợ: Chuyện nghề bạc Định Công

Từ ban thờ Tổ đến bàn tay người thợ: Chuyện nghề bạc Định Công

LNV - Giữa khuôn viên đình Định Công Thượng (Hà Nội), nơi thờ Tổ nghề kim hoàn, xưởng đậu bạc vẫn ngày ngày hoạt động. Nếu bàn thờ Tổ lưu giữ ký ức về cội nguồn, thì đôi tay người thợ đang tiếp nối nghề xưa bằng những sản phẩm được làm ra hôm nay.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động