Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Trong bối cảnh du khách ngày càng tìm kiếm những trải nghiệm mang đậm bản sắc bản địa, các làng nghề của Việt Nam là nguồn tài nguyên quý cho phát triển du lịch. Tuy nhiên, để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, việc gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp, hài hòa lợi ích giữa bảo tồn, khai thác là điều kiện tiên quyết. Quan trọng hơn, điều này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, người dân địa phương, cộng đồng làng nghề và doanh nghiệp lữ hành, nhằm biến giá trị thủ công của Việt Nam thành sản phẩm du lịch bền vững trong dòng chảy du lịch hiện đại.

Giàu tiềm năng phát triển du lịch làng nghề

Làng nghề không chỉ là nơi lưu giữ những kỹ năng thủ công truyền qua nhiều thế hệ, còn là không gian văn hóa phản ánh lịch sử, tập quán sinh hoạt, tư duy thẩm mỹ của cộng đồng người Việt. Mỗi sản phẩm gốm, tấm lụa, vật dụng mây tre đan, tác phẩm sơn mài, đúc đồng, tạc tượng đá, trồng hoa hay món ăn truyền thống đều chứa đựng những câu chuyện về văn hóa, con người và vùng đất. Chính chiều sâu văn hóa và tính đặc sắc, riêng có ấy đã tạo nên sức hút đặc biệt của làng nghề, của nghề và sản phẩm thủ công đối với du khách. Đặc biệt, khách quốc tế ngày càng coi trọng trải nghiệm văn hóa bản địa và giá trị di sản.

Thời gian qua, nhiều làng nghề truyền thống đã trở thành điểm đến quen thuộc trên bản đồ du lịch Việt. Làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc (Hà Nội), làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) thu hút du khách nhờ kết hợp không gian làng nghề cổ với các hoạt động trải nghiệm làm gốm, dệt lụa, làm tranh. Ở Huế, làng mây tre đan Bao La tạo dấu ấn với các sản phẩm thân thiện môi trường và mô hình du lịch trải nghiệm gắn với đời sống cộng đồng. Tại miền di sản Hội An, làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà không chỉ gìn giữ kỹ thuật nghề truyền thống, còn biến quá trình lao động thủ công thành trải nghiệm văn hóa sinh động cho du khách. Bên cạnh đó, làng rau Trà Quế mở ra không gian du lịch nông nghiệp đặc thù, nơi du khách trực tiếp tham gia trồng trọt, chế biến món ăn và cảm nhận nhịp sống làng quê Việt.

Theo thống kê của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, trong đó gần 2.000 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận, cùng hơn 260 nghề truyền thống. Nhận thấy tiềm năng ngày càng lớn của việc phát triển du lịch gắn với làng nghề, cơ quan quản lý ngành du lịch, chính quyền địa phương, doanh nghiệp lữ hành đã có sự quan tâm, đầu tư nhằm đa dạng hóa sản phẩm, thu hút khách du lịch tham quan, mua sắm và trải nghiệm. Đáng chú ý, những năm gần đây, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý và nhiều thành viên của làng nghề, cộng đồng cư dân đã chủ động tham gia nghiên cứu, đầu tư, quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm nghề truyền thống mang tính đặc trưng của từng vùng, từng địa phương.

Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu cho rằng, phát triển du lịch làng nghề không chỉ góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân và thúc đẩy kinh tế địa phương, còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Khi người dân làng nghề trở thành chủ thể của hoạt động du lịch, di sản văn hóa được bảo vệ, đồng thời mở ra cơ hội để du lịch Việt Nam khẳng định bản sắc riêng trên thị trường quốc tế.

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Giữ bản sắc làng nghề

Việc kết hợp du lịch với làng nghề là hướng đi phù hợp nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, đồng thời tạo động lực gìn giữ và phát triển các giá trị của nghề thủ công. Khi tập trung xây dựng những sản phẩm du lịch mang bản sắc riêng của từng địa phương, du lịch không chỉ mở rộng lựa chọn cho du khách, còn góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới, thúc đẩy giao lưu văn hóa và đưa tinh hoa làng nghề Việt hội nhập quốc tế.

Thực tế cho thấy, nhiều làng nghề thu hút du khách không phải nhờ quy mô lớn mà là những giá trị thủ công tinh tế được gìn giữ qua thời gian bởi chính những người địa phương, người của làng. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh, sự thay đổi của kinh tế thị trường, xu hướng nghề của lao động trẻ… khiến không ít làng nghề đứng trước nguy cơ bị mai một. Một số làng nghề phát triển du lịch còn mang tính tự phát, chạy theo lợi ích trước mắt, dẫn đến thương mại hóa sản phẩm và làm phai nhạt bản sắc nghề. Không ít du khách đến làng nghề chỉ tham quan, mua sắm trong thời gian ngắn, thiếu các trải nghiệm chiều sâu, khiến thời gian lưu trú và mức chi tiêu chưa tương xứng với tiềm năng. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường, thiếu định hướng phát triển bền vững và sự liên kết lỏng lẻo giữa làng nghề với các điểm du lịch văn hóa, sinh thái, ẩm thực cũng đang là những rào cản lớn trong việc duy trì nguồn khách ổn định đến với làng nghề.

Từ thực tiễn đó cho thấy, để du lịch làng nghề phát triển bền vững, cần đặt mục tiêu gìn giữ nghề làm nền tảng. Việc bảo tồn không gian làng nghề, hỗ trợ nghệ nhân, khuyến khích thế hệ trẻ tiếp nối nghề truyền thống chính là cách giữ gìn giá trị cốt lõi cho điểm đến. Trên nền tảng này, các sản phẩm du lịch cần được xây dựng một cách sáng tạo và chuyên nghiệp, biến quá trình sản xuất thủ công thành những trải nghiệm tương tác, để du khách được nghe kể câu chuyện nghề, trực tiếp tham gia các công đoạn và tạo ra sản phẩm mang dấu ấn cá nhân. Theo ông Phạm Hải Quỳnh, Viện trưởng Viện Phát triển du lịch châu Á, để du lịch làng nghề phát triển bền vững, cần lấy cộng đồng làm trung tâm, chú trọng gìn giữ giá trị văn hóa và cảnh quan đặc trưng của từng địa phương.

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Các hoạt động của du lịch làng nghề cũng cần được đặt trong mối liên kết với các yếu tố bổ trợ như: Ẩm thực địa phương, lễ hội dân gian, sinh hoạt cộng đồng và cảnh quan nông thôn. Việc kết nối làng nghề vào các tour, tuyến du lịch văn hóa và sinh thái, kết hợp lưu trú homestay, trình diễn nghề vào buổi tối hay tổ chức các lớp trải nghiệm ngắn ngày là những yếu tố then chốt giúp kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao mức chi tiêu của du khách, đặc biệt là khách quốc tế. Tổng Giám đốc Công ty lữ hành Travelogy Vũ Văn Tuyên cho rằng, phát triển du lịch làng nghề cần gắn với phát triển nông thôn, trong đó quan trọng nhất là công tác tuyên truyền, đào tạo và hướng dẫn người dân làm du lịch, đồng thời cập nhật các phương thức quảng bá, số hóa điểm đến và nâng cao kỹ năng “kể chuyện” làng nghề để “thổi hồn” cho sản phẩm của đội ngũ thuyết minh, hướng dẫn viên.

Ở góc độ quản lý, nhiều chuyên gia nhấn mạnh sự cần thiết của việc phối hợp đồng bộ giữa chính quyền địa phương, ngành du lịch và cộng đồng làng nghề. Quy hoạch không gian du lịch, chuẩn hóa sản phẩm, đào tạo kỹ năng làm du lịch cho người dân và ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, tiêu thụ sản phẩm là những giải pháp mang tính lâu dài. Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Trung Lương (nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch Việt Nam) cho rằng, du lịch làng nghề chỉ có thể phát triển bền vững khi có chiến lược dài hạn, đảm bảo sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế và hướng tới các mô hình du lịch xanh.

Trong dòng chảy du lịch hiện đại, du lịch làng nghề đóng vai trò như một cầu nối hiệu quả giữa bảo tồn và phát triển văn hóa. Khi được đầu tư đúng hướng, mỗi làng nghề không chỉ giữ được nghề truyền thống mà còn nâng tầm giá trị văn hóa thông qua hoạt động du lịch. Những sản phẩm thủ công không đơn thuần chỉ là hàng lưu niệm mà trở thành những “đại sứ văn hóa”, kể câu chuyện về đất nước, con người Việt Nam với du khách trong và ngoài nước.

Ngọc Bích

Tin liên quan

Tin khác

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Khuyến công Đắk Lắk : Nghiệm thu đề án hỗ trợ phòng trưng bày sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu

Khuyến công Đắk Lắk : Nghiệm thu đề án hỗ trợ phòng trưng bày sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu

Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk đã phối hợp với UBND xã Ea Phê tổ chức nghiệm thu đề án Khuyến công địa phương năm 2026
Nghệ nhân giữ gìn nghề làm khèn bè truyền thống dân tộc Thái

Nghệ nhân giữ gìn nghề làm khèn bè truyền thống dân tộc Thái

Nghệ nhân ưu tú Trương Văn Thông là một trong những nghệ nhân làm nhạc cụ người dân tộc thiểu số giỏi bậc nhất ở miền núi Nghệ An.
Nghề làm lưới xứ biển U Minh: Sinh kế bền vững cho phụ nữ nông thôn

Nghề làm lưới xứ biển U Minh: Sinh kế bền vững cho phụ nữ nông thôn

Nhiều phụ nữ tại xã ven biển U Minh đã tìm được nguồn thu nhập ổn định ngay tại quê nhà nhờ duy trì và phát triển nghề làm lưới truyền thống.
Đắk Lắk hoàn thiện cơ chế khuyến công, tạo đòn bẩy cho công nghiệp nông thôn

Đắk Lắk hoàn thiện cơ chế khuyến công, tạo đòn bẩy cho công nghiệp nông thôn

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành Quyết định số 67/2026/ QĐ-UBND quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công
Công nhận làng nghề dệt lụa Vạn Phúc là điểm du lịch của Thủ Đô

Công nhận làng nghề dệt lụa Vạn Phúc là điểm du lịch của Thủ Đô

UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 3971/QĐ-UBND ngày 3/8/2026 công nhận Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc (phường Hà Đông) là điểm du lịch.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động