Hà Nội: 31°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 32°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 32°C Thừa Thiên Huế

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Giá trị lớn về văn hóa và kinh tế

Phát triển nghề, làng nghề có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống kinh tế-xã hội của cộng đồng, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam ra với thế giới. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, không ít làng nghề có tuổi đời hàng trăm năm đang dần biến mất trong sự tiếc nuối...

Trước đó, ngày 14/10/2024, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ký ban hành quyết định thu hồi bằng công nhận làng nghề dệt chiếu An Phước (xã Duy Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam nay là xã Nam Phước, TP Đà Nẵng). Thông tin này khiến nhiều người không khỏi xót xa về số phận của một làng nghề có tuổi đời xấp xỉ 500 năm nay phải dừng hoạt động.

Theo quy định, để được công nhận là làng nghề truyền thống phải đáp ứng tiêu chí có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn; sản xuất, kinh doanh ổn định tối thiểu hai năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Nhưng từ hơn 5 năm qua tại làng dệt chiếu An Phước, các hoạt động sản xuất gần như đình trệ do không tiêu thụ được sản phẩm, dẫn đến việc nhiều người dân trong làng bỏ nghề. Thực tế, những ngành nghề không còn phù hợp, không có khả năng duy trì và phát triển, sẽ bị sàng lọc, đào thải.

Năm 2004, cùng với làng dệt chiếu An Phước, làng chiếu Bàn Thạch (xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam nay là xã An Phước, TP Đà Nẵng) cũng được công nhận là làng nghề truyền thống với hơn 350 hộ sản xuất. Song đến nay, làng nghề chỉ còn 35 hộ, và hầu như chỉ còn một số người cao tuổi vẫn còn kiên trì giữ nghề dệt chiếu truyền thống

Một nghệ nhân cao tuổi của làng không khỏi xót xa khi đưa ra một phép tính: Hai vợ chồng bà làm việc chăm chỉ thì mỗi ngày dệt được 3 tấm chiếu, trừ các chi phí, còn lại 50.000 đồng gọi là tiền công lao động. Một số hộ trong làng mạnh dạn đầu tư máy dệt để cải thiện năng suất song thu nhập cũng chỉ vào khoảng 150.000 đồng/ngày, mức thu nhập này quá thấp cho nên khó bền vững.

Tại Hà Nội, số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường, từ chỗ có 1.350 làng nghề và làng có nghề, đến nay trên địa bàn thành phố chỉ còn 806 làng nghề và làng có nghề còn đang hoạt động, 544 làng đã bị mai một và dần bị xóa sổ.

Mới đây, 29 làng nghề tiếp tục lọt vào danh sách rà soát, đề xuất đưa ra khỏi “Danh sách công nhận danh hiệu làng nghề, làng nghề truyền thống” của thành phố. Trong số đó có thể kể đến làng nghề mây tre, giang đan Yên Trường (xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ nay là xã Phú Nghĩa, TP Hà Nội) được công nhận làng nghề truyền thống năm 2009, tuy nhiên đến nay hầu hết các hộ sản xuất đều đã chuyển hướng làm ăn khác để phát triển kinh tế.

Tương tự, qua quá trình rà soát tại nhiều làng nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương cũ (nay là TP Hải Phòng) cho thấy, tỷ lệ các hộ dân giữ nghề truyền thống rất thấp, không đạt so với quy định. Như làng nghề thêu tranh, móc sợi An Dương (xã Chi Lăng Nam cũ) và làng nghề ghép trúc, thêu tranh La Ngoại (xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện cũ). Hoặc làng nghề mây tre đan ở thôn Chằm (huyện Gia Lộc cũ) chỉ có 6,2% số hộ dân còn làm nghề.

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Nguyên nhân suy thoái của các làng nghề đến từ nhiều phía

Trước hết, thị trường ngày càng khắt khe khiến sản phẩm thủ công khó cạnh tranh với hàng hóa công nghiệp giá rẻ, mẫu mã đa dạng.

Thí dụ một chiếc chiếu Định Yên dệt bằng tay, một nhân công phải mất cả ngày mới hoàn thành, giá thành cao, trong khi chiếu nhựa công nghiệp sản xuất hàng loạt, giá rẻ và tiện dụng hơn trong mắt người tiêu dùng.

Thứ hai, nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm đẩy nhiều làng nghề vào cảnh đã khó lại càng thêm khó. Đơn cử như ngành nghề mây tre đan, đang có khoảng 600 làng nghề trên cả nước phải nhập khẩu nguyên liệu. Bởi với 1,5 triệu héc-ta trồng các loại cói, tre, nứa (theo số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tổng trữ lượng cả nước đạt khoảng 9,5 tỷ cây, bình quân khai thác từ 500-600 triệu cây/năm nhưng nhu cầu tiêu thụ lại lên tới 900 triệu đến 1 tỷ cây/năm.

Do đó việc nhập khẩu nguyên liệu là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm hoạt động sản xuất không bị gián đoạn. Thứ ba, ô nhiễm môi trường từ phương pháp sản xuất thủ công lạc hậu là một rào cản lớn khác.

Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện có 46% số làng nghề trong diện điều tra bị ô nhiễm nặng về không khí, nước hoặc đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân. Bên cạnh đó, việc thiếu nguồn nhân lực, thiếu hụt đội ngũ kế cận có trình độ, tâm huyết với nghề, thiếu phương thức quảng bá, tiếp cận thị trường phù hợp,... cũng là nguyên nhân khiến các làng nghề lâm vào cảnh đình trệ.

Mặt khác, đang tồn tại một thực tế đáng lo ngại trong cộng đồng khi xem nhẹ vai trò của các làng nghề truyền thống vì cho rằng các làng nghề đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp với nhịp sống công nghiệp hóa và số hóa ngày nay.

Sự thiếu kết nối giữa các giá trị truyền thống với đời sống hiện đại, cùng với việc giáo dục và truyền thông chưa thật sự đủ sức khơi dậy niềm tự hào về di sản trong cộng đồng, nhất là giới trẻ. Hệ quả của cách nhìn nhận sai lệch ấy là những ứng xử tiêu cực đối với làng nghề: Từ việc xem nhẹ giá trị của các làng nghề truyền thống, đến sự thờ ơ trong việc bảo tồn bản sắc, hoặc áp đặt các giá trị bên ngoài để phát triển làng nghề theo lối “khai thác hủy diệt”, tận thu, làm phai nhạt bản sắc vốn có.

Sự mai một các làng nghề không chỉ làm mất đi nghề thủ công truyền thống mà còn nguy cơ kéo theo sự đứt gãy văn hóa nghề, làm tan rã cộng đồng nghề vốn gắn bó qua nhiều thế hệ. Chưa kể dòng chảy lao động bị tác động sau khi các làng nghề tan rã cũng tiềm ẩn những vấn đề bất ổn về an ninh trật tự xã hội.

Tại làng An Phước, khi nghề dệt chiếu lụi tàn, người dân lên thành phố mưu sinh, để lại những ngôi nhà vắng lặng và những con đường làng phủ đầy cỏ dại. Ở làng Đa Phước (An Giang), những bí quyết của nghề dệt thổ cẩm, vốn là sợi dây kết nối giữa các thế hệ nhưng giờ chỉ còn được lưu lại trong ký ức của những người cao tuổi, để lại khoảng trống không thể lấp đầy trong đời sống tinh thần của cộng đồng.

Nhà dân tộc học Nguyễn Đức Từ Chi từng phân tích rằng, làng là tế bào sống của xã hội Việt Nam, không chỉ là đơn vị hành chính mà còn là trung tâm kinh tế, văn hóa, định hình bản sắc nông thôn Việt. Khi làng nghề không còn nữa, cả một hệ sinh thái cộng đồng bị xáo trộn. Nếu như giai đoạn trước, từng nhịp sống nơi đây đều xoay quanh nghề truyền thống, nay nghề rơi vào cảnh khó khăn, kinh tế địa phương bị ảnh hưởng, bao gồm cả sinh kế phụ trợ, tác động đến sự bền vững của cấu trúc xã hội.

Hiện cả nước có 5.400 làng nghề, trong đó 2.000 làng nghề truyền thống, 57 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thuộc loại hình nghề thủ công truyền thống. Các làng nghề đang tạo việc làm cho khoảng gần 10 triệu lao động tại chỗ, chiếm khoảng 30% lực lượng lao động ở nông thôn và miền núi.

Sản phẩm từ các làng nghề đã xuất khẩu đến hơn 160 quốc gia, mang về kim ngạch hơn 2 tỷ USD mỗi năm. Nhiều làng nghề truyền thống tiếp tục phát huy giá trị, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế. Giá trị kinh tế và văn hóa của các làng nghề là không thể phủ nhận.

Từ đây đặt ra những yêu cầu có tính cấp bách trong việc bảo tồn, tìm cách tháo gỡ khó khăn và tạo sinh khí mới cho những di sản làng nghề để tiếp tục đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Tất nhiên, không phải mọi làng nghề đều có thể được giữ lại trong bối cảnh xã hội hiện đại không ngừng thay đổi, nhu cầu của cộng đồng ngày càng đa dạng với đòi hỏi ngày càng khắt khe hơn. Chúng ta cần một quá trình đánh giá và sàng lọc kỹ lưỡng để tập trung nguồn lực vào những làng nghề có triển vọng phát triển, thích ứng với thị trường và vẫn lưu giữ được những giá trị độc đáo, đặc sắc cần được bảo tồn, trong khi những làng nghề không còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn có thể dần bị thay thế. Việc sàng lọc này không chỉ giúp cho việc đầu tư không bị dàn trải, hình thức và kém hiệu quả, mà còn bảo đảm các chính sách hỗ trợ được tập trung đúng chỗ, mang lại giá trị bền vững về cả văn hóa và kinh tế.

Phong Điệp

Tin liên quan

Tin khác

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hà Nội có thêm 9 sản phẩm OCOP đạt 5 sao cấp quốc gia

Hà Nội có thêm 9 sản phẩm OCOP đạt 5 sao cấp quốc gia

Hà Nội có thêm 9 sản phẩm đạt chuẩn 5 sao góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ, gia tăng giá trị cho sản phẩm nông nghiệp, làng nghề và đặc sản địa phương.
Nâng giá trị chè Shan tuyết vùng cao từ liên kết và chuẩn hóa sản xuất

Nâng giá trị chè Shan tuyết vùng cao từ liên kết và chuẩn hóa sản xuất

LNV - Sự ra mắt Chi hội Chè Shan Tuyết vùng núi cao Việt Nam, trực thuộc Hiệp hội Chè Việt Nam, mở ra thêm một không gian kết nối giữa các vùng nguyên liệu, người sản xuất và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chè Shan tuyết. Từ những rừng chè cổ thụ gắn bó
Từ những làng nghề Hà Nội đến thị trường Thái Lan: Mở cánh cửa mới cho hàng Việt

Từ những làng nghề Hà Nội đến thị trường Thái Lan: Mở cánh cửa mới cho hàng Việt

LNV - Không chỉ là câu chuyện đưa hàng Việt ra nước ngoài, “Tuần lễ hàng Việt Nam tại Thái Lan 2026” đang mở thêm một không gian để doanh nghiệp Hà Nội trực tiếp gặp gỡ nhà thu mua, tìm hiểu thị hiếu và thử sức với những yêu cầu của thị trường khu vực. Vớ
Hải Phòng: Công bố Bộ nhận diện Di sản thế giới tại Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc 2026

Hải Phòng: Công bố Bộ nhận diện Di sản thế giới tại Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc 2026

Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc mùa Thu năm 2026 sẽ diễn ra trong 9 ngày, từ 26/9 đến 04/10
Hà Nội: Sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã có mặt tại 89 thị trường Quốc tế

Hà Nội: Sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã có mặt tại 89 thị trường Quốc tế

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội hiện đã được xuất khẩu sang 89 nước và vùng lãnh thổ.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động