Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.

Hạ tầng chiến lược của nền kinh tế tri thức

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: Mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã cạn kiệt dư địa. Việt Nam bắt buộc phải chuyển dịch sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phải phấn đấu để chuyển từ một quốc gia gia công sản phẩm sang một quốc gia kiến tạo sản phẩm (chuyển từ Made in Vietnam sang Made by Vietnam).

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội

Trong mô hình mới này, khoa học cơ bản không còn được xem là một lĩnh vực mang tính “học thuật thuần túy”, mà được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ. Khoa học cơ bản chính là nơi kiến tạo ra các tri thức nền tảng để giải quyết các bài toán công nghệ lõi. Nếu không dựa trên một nền tảng khoa học cơ bản vững chắc, các công nghệ lõi này sẽ nhanh chóng cạn kiệt dư địa phát triển và đánh mất sức bền nội sinh. Chính vì vậy, việc ưu tiên không gian phát triển và tập trung nguồn lực đầu tư mạnh mẽ cho khoa học cơ bản là bước đi cốt lõi mang tính chiến lược. Đây không chỉ là điều kiện tiên quyết để nâng tầm vị thế nền khoa học và công nghệ quốc gia, mà còn góp phần hình thành đội ngũ các nhà khoa học sở hữu tư duy và tầm nhìn đột phá.

Bàn về triết lý này, Giáo sư Oren Harari (Đại học San Francisco, Hoa Kỳ) từng có câu nói nổi tiếng: “Bóng đèn điện không bao giờ ra đời từ việc không ngừng cải tiến những ngọn nến”.

Trong mô hình phát triển mới cần phải định vị lại vị trí và vai trò của khoa học cơ bản. Thay vì góc nhìn truyền thống xem khoa học cơ bản là một một lĩnh vực hàn lâm độc lập, tách rời thực tiễn, mô hình phát triển mới định vị khoa học cơ bản trong mối quan hệ hữu cơ, gắn kết chặt chẽ với ba trụ cột, đó là: công nghệ chiến lược, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ công nghệ.

Trước hết, khoa học cơ bản là nguồn gốc của công nghệ chiến lược. Các công nghệ cốt lõi của cách mạng công nghiệp lần thứ tư như: trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học thế hệ mới, năng lượng xanh…. không tự nhiên hình thành. Chúng là kết quả chuyển hóa trực tiếp từ các nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học như toán học, vật lý, hóa học, sinh học và khoa học trái đất. Khoa học cơ bản được xác định là nơi tạo ra “tri thức gốc” với các nguyên lý và phát minh mới. Nếu không có tri thức gốc này, mọi hoạt động ứng dụng khoa học công nghệ thường chỉ là sự sao chép, gia công và rất dễ bị thay thế.

Khoa học cơ bản chính là nền móng cho mọi hoạt động đổi mới sáng tạo, là nguồn gốc của những công nghệ mang tính đột phá. Khoa học cơ bản tạo ra những phát kiến khoa học mới, đóng vai trò là nền tảng cốt lõi để doanh nghiệp phát triển các sản phẩm độc quyền, có hàm lượng chất xám cao và khó bị sao chép. Không dừng lại ở đó, khoa học cơ bản còn giúp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao - những người sở hữu tư duy đột phá, năng lực phản biện sắc bén và khả năng giải quyết vấn đề một cách triệt để.

Khoa học cơ bản còn bảo đảm cho việc làm chủ công nghệ, đặc biệt là các công nghệ chiến lược. Một quốc gia không thể có chủ quyền kinh tế nếu hoàn toàn phụ thuộc vào công nghệ ngoại nhập. Chính vì vậy, cần phải nâng cao năng lực hấp thụ khoa học, công nghệ.

Có thể thấy muốn chuyển giao hay tiếp nhận được công nghệ cao từ nước ngoài, nội lực khoa học trong nước phải đủ mạnh để hiểu, vận hành và tiến tới làm chủ công nghệ đó. Thiếu nền tảng khoa học cơ bản chúng ta chỉ có thể mua sắm được máy móc (phần cứng) chứ không làm chủ được công nghệ (phần mềm/bí quyết).

Bên cạnh đó cần phải bảo đảm an ninh chiến lược trong các lĩnh vực nhạy cảm như an ninh mạng, quốc phòng, viễn thông. Trong vấn đề này năng lực tự chủ công nghệ dựa trên khoa học cơ bản là tấm khiên bảo vệ quốc gia trước các biến động địa chính trị toàn cầu.

Chọn mũi nhọn đột phá để đầu tư

Trong bối cảnh nguồn lực quốc gia (ngân sách, nguồn nhân lực chất lượng cao) còn hạn chế, việc đầu tư dàn trải cho khoa học cơ bản là không khả thi. Việt Nam cần thực hiện phương châm “Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, chọn mũi nhọn đột phá”. Việc ưu tiên không phải là “bỏ rơi” các ngành khác, mà là tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực trọng yếu nhất, nơi mà nếu tạo được đột phá thì sẽ kéo theo sự phát triển của toàn bộ hệ sinh thái công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Cần xác định mục tiêu của các đề tài trong lĩnh vực khoa học cơ bản không phải là tạo ra sản phẩm có thể thương mại hóa được ngay, mà là tạo ra nguồn lực con người xuất sắc và các phát minh nền tảng để làm bệ đỡ cho khoa học ứng dụng sau này. Do vậy, cần có tầm nhìn dài hạn (5-10-15 năm), chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm; đồng thời tạo điều kiện cho các nhà khoa học theo đuổi những nghiên cứu cơ bản mang tính dài hạn và rủi ro cao đối với loại hình nghiên cứu đặc biệt này.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội (giữa) cùng các chuyên gia lắp đặt thiết bị phân tích của Nhật Bản.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội (giữa) cùng các chuyên gia lắp đặt thiết bị phân tích của Nhật Bản.

Về vấn đề này, mới đây, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2555/QĐBKHCN phê duyệt Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (Program for Excellence in Basic Research - PEBR). Chương trình PEBR được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển đột phá trong đầu tư cho nghiên cứu cơ bản theo hướng dài hạn, trọng điểm, gắn với phát triển công nghệ chiến lược quốc gia.

Nguồn ngân sách Nhà nước cần được ưu tiên phân bổ dưới hình thức đặt hàng các nhiệm vụ chiến lược cho các trường đại học và viện nghiên cứu, nhằm giải quyết các bài toán công nghệ trọng điểm gắn liền với nhu cầu thực tiễn của khối doanh nghiệp và các tập đoàn công nghệ. Bên cạnh đó, việc huy động nguồn lực tài chính tư nhân cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Về vấn đề này cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, tập đoàn lớn thành lập các quỹ đầu tư cho nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng. Trong hệ sinh thái này, doanh nghiệp chính là cánh tay nối dài giúp đưa tri thức khoa học cơ bản từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Ở Việt Nam hiện nay, dù Nhà nước đã có nhiều chính sách thúc đẩy kết nối, khoảng cách giữa khối doanh nghiệp và cộng đồng khoa học vẫn còn khá lớn. Thực trạng này xuất phát từ cả hai phía: nhiều nghiên cứu bắt nguồn từ đề xuất chủ quan của nhà khoa học thay vì nhu cầu thực tế của thị trường; ngược lại, doanh nghiệp cũng chưa mặn mà đặt hàng các trường đại học mà thường ưu tiên nhập khẩu công nghệ đã có sẵn của nước ngoài. Thời gian gần đây tình trạng này bước đầu được cải thiện, khi cơ chế tuyển chọn đề tài nghiên cứu khoa học từ ngân sách Nhà nước đã đề cao vai trò của doanh nghiệp trong việc ra đề bài và tiếp nhận sản phẩm từ các đề tài.

Sứ mệnh kiến tạo tri thức nền tảng của trường đại học

Trong các chỉ đạo mang tính chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đặc biệt là tại cuộc họp về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản và bài phát biểu tại Đại học Quốc gia Hà Nội diễn ra vào tháng 5/2026, hệ thống các trường đại học được định vị là “mắt xích trung tâm”, giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ then chốt là đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa và kiến tạo tri thức nền tảng cho các công nghệ chiến lược.

Trước hết cần phải nhận thấy, tri thức và các công nghệ cao xuất phát từ các nhà khoa học, từ các phòng thí nghiệm của các trường đại học, viện nghiên cứu, do đó giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nền tảng khoa học cho các công nghệ chiến lược.

Ở các nước phát triển, những thành tựu khoa học và công nghệ do các trường đại học tạo ra là rất lớn. Đội ngũ nghiên cứu trong các trường đại học có đóng góp quan trọng cho diện mạo khoa học của một quốc gia. Tầm quan trọng của chính sách thu hút nhân tài và đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu khoa học được thể hiện rõ nét qua sự bứt phá của các trường đại học Mỹ giai đoạn hậu chiến tranh thế giới thứ hai. Nhờ những chính sách này, các trường đại học Hoa Kỳ đã vươn lên mạnh mẽ và đạt được những bước phát triển đột phá. Hiện nay, Hoa Kỳ chiếm lĩnh tới hơn 1/3 vị trí trong bảng xếp hạng 100 trường đại học hàng đầu thế giới.

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã làm thay đổi căn bản nhận thức về vai trò của hệ thống đại học. Theo đó, trường đại học không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ truyền bá mà phải là nơi sản sinh tri thức mới; đồng thời vận hành như các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp quốc gia. Sản phẩm đầu ra của các đại học nghiên cứu không chỉ giới hạn ở nguồn nhân lực chất lượng cao từ kỹ sư, cử nhân đến Tiến sĩ, mà còn là các phát minh sáng chế và các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ do chính các nhà khoa học xây dựng và làm chủ.

GS, TS Nguyễn Văn Nội

Tin liên quan

Tin mới hơn

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Tin khác

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Cát Cát: Giữ sắc thổ cẩm, nối dài hồn văn hóa Mông

Cát Cát: Giữ sắc thổ cẩm, nối dài hồn văn hóa Mông

LNV - Giữa đại ngàn Hoàng Liên Sơn, bản Cát Cát (Sa Pa, Lào Cai) hấp dẫn du khách không chỉ bởi cảnh sắc núi rừng thơ mộng mà còn bởi những giá trị văn
Cơ sở thủ công mỹ nghệ chủ động bảo hộ sở hữu trí tuệ để vững bước trên sân chơi thương mại quốc tế

Cơ sở thủ công mỹ nghệ chủ động bảo hộ sở hữu trí tuệ để vững bước trên sân chơi thương mại quốc tế

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA (VEFTA) vừa được ký kết, mở thêm cánh cửa vào nhóm thị trường có sức mua cao và tiêu chuẩn khắt khe ở châu Âu. Với Hà Nội, nơi có hơn 1.300 làng nghề và làng có nghề, cơ hội ấy chỉ trọn vẹn khi sản phẩm thủ công
Gốm Kim Lan: Từ trầm tích nghìn năm đến tinh hoa sản phẩm làng nghề hôm nay

Gốm Kim Lan: Từ trầm tích nghìn năm đến tinh hoa sản phẩm làng nghề hôm nay

LNV - Từ những lớp trầm tích khảo cổ bên dòng sông Hồng đến những sản phẩm mang hơi thở đương đại, làng gốm cổ Kim Lan đang từng bước khẳng định giá
Quảng Ninh: Xã Đường Hoa gặp mặt kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10

Quảng Ninh: Xã Đường Hoa gặp mặt kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10

LNV - Ngày 19/10, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ xã Đường Hoa, TP Quảng Ninh tổ chức gặp mặt kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Hội LHPN xã Trung Giã gặp mặt, giáo dục truyền thống, lan tỏa niềm tự hào phụ nữ Việt Nam

Hội LHPN xã Trung Giã gặp mặt, giáo dục truyền thống, lan tỏa niềm tự hào phụ nữ Việt Nam

LNV - Nhân kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2026) và Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, ngày 19/10, Ban Thường vụ Hội LHPN xã Trung Giã tổ
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động