Hà Nội: 34°C Hà Nội
Đà Nẵng: 32°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 33°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 30°C Thừa Thiên Huế

Làng nghề sản xuất kinh doanh trong đại dịch Covid -19

LNV - Gần hai năm qua, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt trong đời sống kinh tế - xã hội nước ta. Trong tình hình ấy, các hộ kinh doanh làng nghề cũng đang phải tìm nhiều biện pháp để trụ vững song vẫn rất khó khăn. Thực trạng đang đòi hỏi những suy nghĩ mới, cách làm mới để các hộ kinh doanh cầm cự, tồn tại, tiếp tục sản xuất kinh doanh, đồng thời chuẩn bị cho bước phát triển trong thời gian tới.
Hộ kinh doanh gặp khó khăn

Cũng như các ngành nghề khác trong nền kinh tế, do tác động của đại dịch Covid-19, thời gian qua, các hộ kinh doanh làng nghề nước ta (dưới đây gọi tắt là hộ) gặp nhiều khó khăn chồng chất. Tuy khó khăn của mỗi nghề, ở mỗi địa phương có khác nhau và cũng chưa có số liệu thống kê đầy đủ, song nhìn chung, dù bản thân các hộ đã hết sức cố gắng và được sự trợ giúp của các bộ, ngành, khá nhiều hộ vẫn phải thu hẹp hoặc tạm ngừng sản xuất kinh doanh. Theo một cuộc khảo sát với trên 100 doanh nghiệp vào giữa tháng 6/2021, có đến 84% số hộ gặp khó khăn. Trong đó, 40% thiếu vốn kinh doanh; Thị trường bị ảnh hưởng, thu hẹp chiếm 80%; Phải cắt giảm lao động chiếm 52%; Bị đứt chuỗi cung ứng nguyên liệu chiếm 14%; Bị cản trở hoạt động kinh doanh do biện pháp cách ly xã hội phòng dịch chiếm trên 50%.


Thu hoạch mẻ gốm vừa ra lò


Có thể khái quát một số điểm chính về thực trạng sản xuất kinh doanh của các hộ như sau:

Một là, thị trường trong nước bị co lại, sức mua hàng thủ công giảm sút. Đại dịch bùng nổ, lây lan nhiều địa phương, nhân dân phải thực hiện các biện pháp cách ly, sức mua giảm sút dẫn đến sản xuất đình đốn, người lao động tạm nghỉ hoặc mất việc, thu nhập giảm. Do đó, chi tiêu của mỗi gia đình phải tập trung vào những nhu cầu thiết yếu nhất (như thực phẩm), chi tiêu về hàng thủ công chưa thiết yếu giảm sút.

Hai là, xuất khẩu và du lịch bị hạn chế. Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu giảm mạnh do sức mua giảm vì dịch bệnh hoành hành tại nhiều nước; Trừ một số nghề như may mặc, đồ gỗ, mây tre còn một ít thị trường nước ngoài vẫn mua, song lại gặp khó khăn về nguyên liệu (như gỗ) hoặc cước phí vận tải tăng cao. Cũng do dịch bệnh, khách du lịch nước ngoài giảm mạnh; Những điểm du lịch làng nghề vắng khách hẳn.

Ba là, sản xuất đình đốn. Do thị trường bị thu hẹp, hàng làm ra không bán được hoặc bán chậm, kể cả bán trong nước hoặc xuất khẩu, hàng tồn kho tăng. Theo thông tin trên báo chí, có những hộ, do sản phẩm vẫn bán được hoặc do nỗ lực, sáng tạo, thay đổi mặt hàng cho nên vẫn duy trì được sản xuất kinh doanh ở mức độ nhất định; Song nhìn chung, sản xuất đình đốn là phổ biến. Đã có những hộ tạm ngừng sản xuất; Nhiều hộ sản xuất cầm chừng.

Bốn là, tình hình tài chính hết sức gay go. Các hộ đang thuộc quy mô nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ, vốn liếng ít, nhiều khi phải dựa vào vốn của người đặt hàng hoặc vay ngân hàng. Đến nay, hàng không bán được, doanh thu bị thu hẹp, tài chính càng khó khăn: thiếu vốn cho sản xuất, thiếu tiền trả lương công nhân, đóng bảo hiểm xã hội, thiếu tiền nộp các loại thuế, phí, trả lãi ngân hàng, có một số hộ còn không còn tiền để trả tiền thuê kho, nhà xưởng, v.v…


Nghệ nhân làng gốm Thanh Hà đang tạo dáng cho sản phẩm


Năm là, đời sống người lao động làng nghề gặp nhiều khó khăn. Do hàng không bán được, khá nhiều hộ thu hẹp sản xuất, từ đó doanh thu giảm sút, lợi nhuận hầu như không có, hộ chịu nợ lương công nhân hoặc phải cắt giảm lao động. Nhiều lao động thiếu việc, mất việc, thu nhập không đủ sống, nhiều gia đình cầm cự qua ngày. Bản thân chủ hộ cũng không đủ sức trợ giúp người lao động. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số làng nghề vẫn chưa được khắc phục, đang ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tuổi thọ người lao động.

Thực trạng nói trên là rất đáng quan ngại. Thời gian qua, Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp như: cấp các gói tiền trợ giúp những hộ hoặc người lao động mất việc làm; Miễn, giảm, giãn, hoãn nộp các loại thuế, phí; Hoãn đóng bảo hiểm xã hội; Giảm phí giao thông, phí kho, bãi, tổ chức lại logistics, v.v… Ngân hàng cũng đã tiến hành cơ cấu lại các khoản dư nợ, thực hiện miễn, giảm lãi suất, khoan, giãn nợ, tăng tín dụng, v.v…Trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) nước ta đã ký kết với các nước trên thế giới cũng đã đề ra những ưu đãi, chủ yếu là về thuế. Tuy nhiên, các hộ được hưởng những ưu đãi nói trên không nhiều, có phần do thủ tục để được hưởng còn rườm rà, khó thực hiện; Cũng có phần do nhiều hộ không kịp thời tiếp cận các ưu đãi ấy. Trong khi nội lực có hạn, vốn liếng bị bào mòn qua thời gian chống chọi với dịch bệnh, nhiều khó khăn chồng chất vẫn đè nặng các hộ kinh doanh trong làng nghề nước ta.

Kiến nghị một số việc cần triển khai

Hiện nay, khi đại dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp khó lường, chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ kép vừa chống dịch, vừa triển khai các nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Nhưng điều chắc chắn là dịch bệnh rồi sẽ bị ngăn chặn và đẩy lùi, dất nước ta sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới, thực hiện các mục tiêu do Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Các hộ đang cần có những giải pháp theo hướng “thích nghi; cầm cự; chuẩn bị cho bước phát triển mới”. Phải thực hiện các biện pháp để thích nghi, cầm cự và khắc phục khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh, đồng thời chuẩn bị cho thời gian tới khi đại dịch bị ngăn chặn, làng nghề bước vào giai đoạn phát triển mới. Khi đó, các hộ không thể sản xuất kinh doanh như trước khi có dịch, mà phải có suy nghĩ mới, cách làm mới và ngay từ bây giờ, phải chuẩn bị mọi mặt cho bước phát triển mới ấy.


Từ thực tiễn, xin nêu lên một số điểm cần được trao đổi, suy nghĩ - có thể coi là những yêu cầu chủ yếu cần được nhất trí khi triển khai thực hiện các công việc cụ thể:

Một là, thực hiện các giải pháp với tâm thế tự lực, tự cường, với khát vọng phát triển làng nghề mạnh mẽ, góp phần xứng đáng thực hiện mục tiêu phát triển đất nước hùng cường trong thời gian tới. Chủ hộ cần có ý chí vươn lên, nghĩ lớn, làm ăn lớn, có đột phá mới, hình thành lớp doanh nhân 4.0, khắc phục tâm lý kinh doanh nhỏ lẻ, tự ti về vốn liếng, trình độ. Cần bồi dưỡng niềm tự hào phát huy di sản nghề thủ công, văn hóa làng nghề ngày thêm phong phú, rạng rỡ, tiếp nối truyền thống văn hóa hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm của dân tộc; Đồng thời tự tin trong hội nhập quốc tế, đưa văn hóa làng nghề ra thế giới, đóng góp vào sự đa dạng, phong phú của văn hóa nhân loại.

Hai là, kết hợp phát huy nội lực và tận dụng những thuận lợi từ bên ngoài. Đó là việc tiếp cận và khai thác hiệu quả hơn nữa các biện pháp hỗ trợ về tài chính, tín dụng mà các cơ quan, tổ chức đã và đang thực hiện. Đó là những ưu đãi về thuế quan đã được quy định trong các hiệp định thương mại tư do mà nước ta đã ký kết. Cần nói thêm rằng: Dù phát huy nội lực phải là chủ yếu, song khai thác các thuận lợi nói trên vẫn là nhân tố rất quan trọng; Vì vậy cần khắc phục tình trạng lâu nay: Tìm hiểu kém, tiếp cận kém, khai thác càng kém, gây ra mất thời cơ, dẫn đến thua thiệt. Việc này cũng rất cần sự trợ giúp của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội bằng các hình thức như tập huấn, phổ biến, tư vấn, v.v…

Ba là, ứng dụng rộng rãi thành tựu của công nghiệp 4.0. Trong thời đại mới, với sự bùng nổ của Cách mạng Công nghiệp 4.0, các hộ đang có thời cơ rất thuận lợi để ứng dụng, thực hiện số hóa, bảo đảm giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động, tăng lợi nhuận. Thực tế cho thấy, từ khâu thiết kế, sáng tạo mẫu mã sản phẩm, cho đến quản trị, điều hành sản xuất, xây dựng thương hiệu, ứng dụng thương mại điện tử, vận chuyển hàng hóa, v.v… tất cả đều có thể ứng dụng công nghệ mới một cách linh hoạt, thích hợp từ thấp đến cao.

Dưới đây, xin kiến nghị một số công việc cụ thể mà các hộ kinh doanh làng nghề chúng ta cần quan tâm thực hiện:

Một là, xác định sản phẩm chủ lực, thị trường chủ yếu. Đây là việc làm đầu tiên có ý nghĩa là cơ sở cho các việc tiếp theo. Lâu nay, hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của chúng ta chủ yếu gồm 5 nhóm: Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù; Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận; Hàng gốm sứ; Sản phẩm mây, tre, cói, thảm; Gỗ mỹ nghệ. Ngoài ra còn nhiều mặt hàng thời trang, quà tặng cũng được xuất khẩu tại chỗ. Trong tình hình mới, cần rà soát lại các mặt hàng này, có những dự báo về nhu cầu mới của các thị trường cũng như các chính sách mà các thị trường áp dụng. Trên cơ sở phân tích thị trường mà mỗi hộ xem lại các sản phẩm của mình, tập trung vào những sản phẩm có thế mạnh, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường, kể cả phân khúc thị trường mà mình nhằm đến.

Hai là, đẩy mạnh thiết kế sản phẩm. Hoạt động thiết kế cần được đẩy mạnh, khắc phục tình trạng mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm làng nghề lâu nay vẫn bị coi là đơn điệu, nhàm chán, sản xuất theo thói quen, theo đặt hàng của người mua hoặc sao chép, thiếu sáng tạo. Công tác thiết kế phải vừa kế thừa, phát huy vốn văn hóa dân tộc, vừa thỏa mãn nhu cầu mới của người tiêu dùng. Cần chú ý sự quan tâm của người tiêu dùng trong thời đại mới là các vấn đề liên quan đến môi trường và xã hội, trong đó đặc biệt là nguồn gốc và tính hợp pháp của nguyên liệu sử dụng, các vấn đề liên quan đến các tập quán lao động, an toàn và sức khỏe của công nhân, sản xuất sạch - thân thiện với môi trường, các sản phẩm thủ công sử dụng nguyên liệu tận dụng và tái chế.

Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhân lực, nhất là đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi là vốn quý của mỗi hộ; dù khó khăn, cũng không thể để mai một. Với nghệ nhân, phải tạo không gian đồng bộ về tinh thần và vật chất để họ thỏa sức sáng tạo, đồng thời truyền nghề cho lớp trẻ. Nghệ nhân phải được bảo vệ, được đãi ngộ xứng đáng, được tôn vinh đúng thực chất. Trong mỗi hộ, chủ hộ là người định hướng hoạt động của hộ, dùng kiến thức và vốn liếng bảo đảm sự tồn tại và phát triển của hộ, trong nhiều hộ hiện nay, họ cũng đồng thời là nghệ nhân, vì vậy chủ hộ cũng là một nhân vật rất cần được chú trọng bồi dưỡng và nâng cao về tầm nhìn, kiến thức, kịp thời bước phát triển của hộ trong giai đoạn mới.

Bốn là, củng cố tổ chức nội bộ hộ kinh doanh. Để thực hiện tốt các việc nói trên, rất cần tổ chức lại bộ máy, nhân sự, cung cách quản trị, tổ chức thống kê, kế toán, các quy chế làm việc, v.v…Đương nhiên, những việc nói trên cần được thực hiện với những mức độ khác nhau, nhất là ứng dụng công nghệ số, tùy theo quy mô, trình độ của mỗi hộ. Song điều quan trọng là bảo đảm bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hoạt động có nền nếp, nguyên tắc, không vì là “hộ gia đình” mà xuề xòa, kém hiệu quả. Những hộ có điều kiện thì nên đăng ký thành lập doanh nghiệp, từng bước lớn lên, mở rộng sản xuất kinh doanh, tự tin vươn ra thế giới.

Tóm lại, đó là những việc cần làm theo hướng “thích nghi; Cầm cự; Chuẩn bị cho bước phát triển mới” đồng thời với thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 để các hộ tham khảo, vận dụng. Rất mong các bộ, ngành và Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cùng quan tâm trợ giúp để các hộ triển khai đạt hiệu quả, vượt qua khó khăn, vững vàng bước vào giai đoạn phát triển mới.

#Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính Phủ#

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hà Nội: Khởi công xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến

Hà Nội: Khởi công xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến

Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến
Thành lập hội đồng đánh giá, phân hạng OCOP 5 sao

Thành lập hội đồng đánh giá, phân hạng OCOP 5 sao

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập Hội đồng OCOP cấp Trung ương
Mẫu mã và bao bì chìa khóa thúc đẩy thương hiệu sản phẩm nông nghiệp nông thôn

Mẫu mã và bao bì chìa khóa thúc đẩy thương hiệu sản phẩm nông nghiệp nông thôn

Chất lượng đi đôi với hình thức chuyên nghiệp, mẫu mã bắt mắt giúp sản phẩm công nghiệp nông thôn thu hút khách hàng
Ký ức gia đình, quê hương trong thơ Nguyễn Đăng Độ

Ký ức gia đình, quê hương trong thơ Nguyễn Đăng Độ

Tháng 8/2026, nhà thơ Nguyễn Đăng Độ ra mắt tập thơ “Chảy về miền ký ức” do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Tập thơ gồm 60 bài, gắn với năm sinh 1966 và tuổi 60 của tác giả, như một dấu mốc quan trọng trong hành trình sáng tác. Đại tá, nhà thơ Trần Anh Thái, Chủ tịch Hội đồng Thơ – Hội Nhà văn Việt Nam, nhận định đây là hành trình trở về với những dữ liệu, sự kiện, cảm xúc và trải nghiệm đã được lưu giữ trong ký ức; từ đó, những câu chuyện riêng mở ra tầng nghĩa rộng hơn về tình mẫu tử, tình phụ tử, quê hương, chiến tranh, tình bạn, tình yêu và thân phận con người.
Kết hợp truyền thống và công nghệ hiện đại phát triển nghề ở Nghệ An

Kết hợp truyền thống và công nghệ hiện đại phát triển nghề ở Nghệ An

Nghệ An phát triển nghề truyền thống qua ứng dụng công nghệ
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động