Những yếu tố sống còn của làng nghề

LNV - Hệ thống sản xuất trong các làng nghề mang hình thái đặc trưng và bản sắc riêng biệt của nền kinh tế, văn hóa Việt Nam từ lâu đời. Làng nghề không chỉ là một khu vực sản xuất có những đóng góp quan trọng trong việc tạo ra thu nhập, việc làm cho người dân nông thôn mà còn chứa đựng trong đó những giá trị, nét đẹp văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc.
Bảo tồn và phát triển ngành nghề

Việc bảo tồn và phát triển ngành nghề, làng nghề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Vì vậy, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về khuyến khích phát triển và bảo tồn ngành nghề, làng nghề. Trong những năm gần đây, khu vực này đã có sự phát triển nhanh chóng, và phát triển nhanh các nghề, làng nghề mới gắn với quá trình công nghiệp hóa.

Nghệ nhân dệt thổ cẩm làng Hà Ri bên khung dệt.
Nghệ nhân dệt thổ cẩm làng Hà Ri bên khung dệt.

Hiện nay, theo con số thống kê cả nước có hơn năm nghìn làng có nghề và làng nghề đã được công nhận. Đến năm 2023, xuất khẩu thủ công mỹ nghệ (TCMN) của Việt nam đạt khoảng 3,5 tỷ U SD, ngành hàng này đang phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 4 tỷ USD vào năm 2025. Lưu ý là hàng hoá TCMN xuất khẩu phần lớn xuất phát từ các làng nghề ở khắp vùng nông thôn rộng lớn của nước ta, với 813.000 cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho hơn 2,3 triệu lao động, thu nhập bình quân đạt 4-4,5 triệu đồng/người/tháng, cao hơn gấp 2 lần so với lao động thuần nông.

Làng nghề có ưu điểm đặc biệt so với các hoạt động kinh tế khác, đó là: Khơi dậy được tiềm năng của các địa phương, kể cả các tiềm năng về kinh tế, văn hóa và xã hội; Tạo ra nhiều việc làm đặc biệt phát huy và khai thác tốt lao động có tay nghề, các nghệ nhân và các vùng nguyên liệu tại chỗ; Góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, giảm bớt áp lực di cư ra thành thị; Việc phát triển ngành nghề, làng nghề phù hợp với quy mô sản xuất nhỏ tại nông thôn, các sản phẩm ngành nghề, làng nghề có giá trị văn hóa bản địa sâu sắc và mang lại giá trị kinh tế lớn cho địa phương.

Như vậy, việc phát triển nghề, làng nghề đã góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, tăng giá trị sản xuất, góp phần giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân nông thôn, đảm bảo an sinh xã hội ở nông thôn. Ngoài ra, phát triển nghề thủ công còn kéo theo sự phát triển của các ngành nghề kinh tế khác như sản xuất nguyên liệu, phát triển du lịch, dịch vụ, thúc đẩy sự phát triển đa dạng kinh tế nông thôn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.

Những thách thức to lớn đối với làng nghề

Tuy nhiên hiện nay việc bảo tồn và phát triển làng nghề đang đứng trước những thách thức to lớn. Ngoài những khó khăn cố hữu như công nghệ sản xuất lạc hậu, hạ tầng sản xuất không đảm bảo, môi trường bị ô nhiễm nặng nề…thì yếu tố bao trùm lên tất cả là những thách thức về lực lượng lao động. Yếu tố quyết định sự hình thành, tồn tại và phát triển của các làng nghề là phương thức truyền nghề “cha truyền con nối”. Thanh niên nông thôn hiện đang bị thu hút tìm việc làm tại các đô thị, khu công nghiệp với công việc và thu nhập ổn định. Chuỗi đào tạo nối nghiệp gia đình bị gián đoạn, những “bí quyết gia truyền” dần ít đi, làm giảm đi nhiều những giá trị văn hoá, di sản… Các làng nghề có nguy cơ trở thành những khu vực sản xuất quá tập trung, phá vỡ cảnh quan, năng suất lao động có thể cao hơn trước nhưng giá trị sản phẩm lại bị mai một, nguy cơ xẩy ra ô nhiễm môi trường trầm trọng…

Làng nghề bánh đa Thổ Hà, Việt Yên, Bắc Giang.
Làng nghề bánh đa Thổ Hà, Việt Yên, Bắc Giang.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì một trong những yếu điểm của hàng TCMN Việt Nam là sự nghèo nàn và chậm thay đổi của các loại mẫu mã sản phẩm. Những nghệ nhân lớn tuổi với tính bảo thủ cố hữu đã rất khó khăn khi phải tìm hiểu để tiếp nhận những yêu cầu mới của khách hàng, lực lượng lao động trẻ lại thiếu kinh nghiệm, chưa được đào tạo những kỹ năng cần thiết để tạo ra những mẫu mã mới cho phù hợp. sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo và các làng nghề còn ít và thiếu hiệu quả…Sự lặp đi lặp lại về hình thức, mẫu mã làm cho sản phẩm mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường. Công tác đào tạo, truyền nghề chưa hiệu quả, việc phong tặng, tôn vinh nghệ nhân chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát huy được vai trò của các nghệ nhân, thợ giỏi trong đào tạo, truyền nghề, vì vậy một số nghề truyền thống, nghệ nhân giỏi cùng với các kỹ năng và bí quyết nghề truyền thống có nguy cơ bị mai một, thất truyền.

Công tác quản lý nhà nước về làng nghề còn hạn chế, chưa đánh giá phân loại hoạt động làng nghề; chưa xác định nghề, làng nghề truyền thống cần bảo tồn, chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu làng nghề thống nhất để phục vụ công tác quản lý, đánh giá hiệu quả hoạt động và có giải pháp định hướng phát triển làng nghề hiệu quả, bền vững. Một số cơ chế chính sách hỗ trợ được cho là chưa đủ để thúc đẩy khuyến khích các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở nghề tập trung phát triển ngành nghề như: quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ mặt bằng sản xuất… chưa phù hợp với đặc thù của ngành nghề… Công tác quy hoạch các làng nghề, vùng nguyên liệu phục vụ phát triển ngành nghề chưa được quan tâm, nguồn nguyên liệu đang bị suy giảm. Hệ thống cơ sở hạ tầng làng nghề chưa được đầu tư đồng bộ, thiếu các công trình hạ tầng phục vụ phát triển du lịch, bảo tồn không gian văn hóa làng nghề; chưa có các trung tâm trưng bày, bảo tồn nghề có quy mô lớn. Công nghệ và thiết bị sản xuất lạc hậu gây ô nhiễm môi trường.

Khả năng xúc tiến thương mại còn nhiều hạn chế, chưa có sản phẩm mang thương hiệu quốc gia. Vai trò hỗ trợ của các hội, hiệp hội trong liên kết sản xuất, xây dựng thương hiệu còn mờ nhạt.

Cần những chính sách khuyến khích bảo tồn và phát triển làng nghề

Trước thực trạng trên, công tác đào tạo nghề cho lao động tại các làng nghề trở thành một nhu cầu cấp thiết trong chiến lược bảo tồn và phát triển làng nghề. Một mặt cần tổ chức lại và nâng cao năng lực hệ thống trường dạy nghề tại các địa phương, đặc biệt chú ý những hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa các trường dạy nghề và cơ sở sản xuất làng nghề. Rất cần những chính sách khuyến khích các hoạt động truyền nghề trong nội bộ các gia tộc, các làng nghề, khuyến khích những lao động trẻ gắn bó với nghề nhằm giữ gìn những bí quyết sản xuất, lưu giữ đầy đủ giá trị sản phẩm của mỗi nghề và làng nghề.

Nhiều thợ trẻ nhưng đã là tay kim điêu luyện
Nhiều thợ trẻ nhưng đã là tay kim điêu luyện

Những hoạt động xúc tiến thương mại cũng cần được quan tâm và hỗ trợ bằng những chính sách thích hợp, dễ tiếp cận nhằm tăng thêm thu nhập, đảm bảo đời sống của thợ thủ công, tăng cường tích luỹ để phát triển sản xuất bền vững.

Về vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam, chuyên gia cao cấp Vũ Quốc Tuấn cho rằng “văn hoá làng nghề” là một yếu tố rất quan trọng. Ông đề nghị thực hiện những giải pháp sau: Nói đến bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề, cần đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề, từ người lao động đến nhà quản lý và có thể khẳng định: Nghệ nhân là nhân vật chủ yếu viết nên lịch sử của mỗi ngành nghề thủ công mỹ nghệ, của mỗi làng nghề, vì vậy:

Cần tạo điều kiện để các nghệ nhân tiếp tục nâng cao tay nghề, thành thục trong kết hợp phong cách chế tác truyền thống và hiện đại, tiếp tục nghiên cứu những kiểu dáng, mẫu mã mới có chất lượng phù hợp yêu cầu của thị trường;

Tạo điều kiện để nghệ nhân tham gia những cuộc hội chợ, triển lãm (kể cả triển lãm cá nhân) giới thiệu và bán sản phẩm của mình (kể cả độc bản) trên thị trường, tăng thêm thu nhập; bồi dưỡng thêm kiến thức nghiệp vụ để nghệ nhân có thể làm hướng dẫn viên du lịch;

Tổ chức nhiều hình thức phù hợp với từng ngành nghề để nghệ nhân trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ thợ giỏi, hình thành đội ngũ kế thừa có trình độ cho mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh;

Quan tâm thực hiện các hình thức biểu dương, tôn vinh, khen thưởng đúng thực chất, kịp thời, đồng thời chăm lo đời sống vật chất một cách thiết thực đối với nghệ nhân cao tuổi.

Trong làng nghề, các chủ hộ sản xuất kinh doanh, giám đốc doanh nghiệp,… được gọi chung là đội ngũ doanh nhân, mà trong các làng nghề, hầu hết là thuộc khu vực kinh tế tư nhân, động lực tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà. Họ là những người đầu tư vốn liếng và trực tiếp quản lý, điều hành cơ sở sản xuất, kinh doanh; hoặc là người được nhà đầu tư thuê để quản lý, điều hành cơ sở sản xuất kinh doanh; thu nhập của họ trong cả hai trường hợp này đều gắn với kết quả hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh. Doanh nhân là nhân vật có vai trò quyết định đến bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề, Đối với đội ngũ doanh nhân, cần thực hiện các biện pháp thiết thực để nâng cao năng lực của họ, đó là:

Bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực của số người này về các mặt: kỹ năng quản lý cơ sở; văn hóa kinh doanh; ứng dụng khoa học, công nghệ; phát triển thị trường; liên doanh, liên kết, …

Luôn luôn đề cao văn hóa, đạo đức kinh doanh: tôn trong luật pháp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, khắc phục những hành vi vi phạm luật pháp, trốn thuế, lậu thuế, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, không để hàng Trung Quốc trà trộn vào hàng Việt;

Thực hiện đúng Luật Lao động, tôn trọng quyền lợi của những người lao động trong cơ sở sản xuất kinh doanh.

Trong hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng ngày nay, mỗi doanh nhân phải đặt mình vào vị thế của một doanh nhân toàn cầu, có ý thức về cạnh tranh toàn cầu và chuẩn bị giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh này. Bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự quan tâm sâu sắc của toàn thể xã hội. Những “Yếu tố sống còn”của làng nghề Việt Nam nằm trong chính nội tại của các làng nghề. Làng nghề đã tự nó hình thành qua hàng trăm, hàng ngàn năm phát triển. Nó sẽ không mất đi nếu bản thân các vẫn duy trì được ý nghĩa về sự tồn tại của nó.

TS.Tôn Gia Hoá - PCT Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

TS.Tôn Gia Hoá

Tin liên quan

Hiệp hội làng nghề TP Hải Phòng: tăng cường kết nối, mở rộng thị trường cho làng nghề

Hiệp hội làng nghề TP Hải Phòng: tăng cường kết nối, mở rộng thị trường cho làng nghề

LNV - Ngày 8/8/2026, Hiệp hội Làng nghề thành phố Hải Phòng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị tập trung đánh giá kết quả đạt được, tháo gỡ khó khăn từ thực tiễn và thống nhất các giải pháp thúc đẩy bảo tồn, phát triển làng nghề trong giai đoạn mới.
Làng nghề Hà Tĩnh trước yêu cầu bảo tồn di sản và khẳng định vị thế trong nền kinh tế hiện đại

Làng nghề Hà Tĩnh trước yêu cầu bảo tồn di sản và khẳng định vị thế trong nền kinh tế hiện đại

LNV - Từng nổi tiếng với những làng nghề làm nước mắm, nón lá, mộc mỹ nghệ, rèn, mây tre đan hay chế biến hải sản, Hà Tĩnh hôm nay vẫn đang bền bỉ gìn giữ những giá trị truyền thống giữa nhịp phát triển của nền kinh tế hiện đại.
Tái hiện ký ức làng nghề giữa không gian phố cổ Hà Nội

Tái hiện ký ức làng nghề giữa không gian phố cổ Hà Nội

LNV - Chiều 19/4, tại không gian cổ kính của Đình Hà Vĩ (11 Hàng Hòm, Hoàn Kiếm, Hà Nội), tọa đàm “Dấu ấn Hà Vĩ – Ký ức phố cổ, hơi thở làng trong phố cổ” đã diễn ra trong không khí ấm cúng, mở ra một cuộc đối thoại giàu chiều sâu về lịch sử, văn hóa và tương lai của nghề sơn trong lòng đô thị Thăng Long – Hà Nội.

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

LNV -Sáng 22/8, tại Chùa Đại Bi, thuộc Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc, xã Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu năm 2026 trong không khí trang nghiêm, thành kính, thu hút đông đảo tăng ni, phật tử, Nhân dân và du khách thập phương tham dự.
Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

LNV - Trường THPT Bạch Đằng (Hải Phòng) luôn chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động giáo dục đạo đức, kỹ năng và trải nghiệm cho học sinh. Nhà trường đã đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó có thành tích tại các k
Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026

Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026

Từ ngày 21 - 26/8/2026, tại Quảng trường Trần Phú (phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh) diễn ra Hội chợ Triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2026. Sự kiện do Bộ Công Thương và UBND tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo; Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công phối hợp với Sở Công Thương Hà Tĩnh tổ chức. Đây là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại trọng điểm thuộc Chương trình khuyến công quốc gia năm 2026.
Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV

Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV

Ngày 21/8, tại Hà Tĩnh, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương Hà Tĩnh tổ chức Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV năm 2026.
Hà Nội công nhận 13 sản phẩm OCOP đợt 1 năm 2026

Hà Nội công nhận 13 sản phẩm OCOP đợt 1 năm 2026

LNV - Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Bùi Duy Cường vừa ký ban hành Quyết định số 4325/QĐ-UBND ngày 16-8-2026 về công nhận kết quả đánh giá, phân hạng và cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm OCOP thành phố Hà Nội năm 2026 (đợt 1).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động