Hội thảo Lý luận và Thưc tiễn về chính sách phát triển Làng nghề thủ công mỹ nghệ

LNV - Ngày 6/12 tại Hà Nội, Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã tổ chức Hội thảo Lý luận và Thực tiễn về chính sách phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ. Tham dự Hội thảo có TS Lưu Bình Nhưỡng, Phó Trưởng Ban Dân nguyện của Quốc hội, đại biểu Quốc hội khóa XIV; TS Lê Hải Đường, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp; Đại diện Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học quan tâm đến đề tài…
Hội thảo nằm trong khuôn khổ của Đề tài khoa học "Định hướng chính sách xây dự Luật về làng nghề-Lý luận và thực tiễn" do TS Lưu Bình Nhưỡng làm chủ nhiệm. Đề tài này là tiền đề để kiến nghị Quốc hội cho xây dựng Luật về làng nghề Việt Nam.


TS. Lưu Bình Nhưỡng, Phó Trưởng Ban Dân nguyện của Quốc hội tham luận tại Hội thảo.


Tại Hội thảo, nhiều tham luận của các nhà khoa học như: TS Nguyễn Anh Sơn, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Công Thương); TS Tôn Gia Hóa, Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam; TS Nguyễn Vi Khải, Phó chủ tịch HĐTV Hiệp hội Làng nghề Việt Nam; TS Lê Việt Trường; Luật sư Trương Quang Cẩn hay những ý kiến đóng góp của Bà Lê Thị Nguyệt, Phó Trưởng Ban Dân nguyện Quốc hội; TS Lê Thanh Vân, TSKH Bạch Quốc Khang, Ông Nguyễn Văn Vũ, Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam… đã góp những tiếng nói về sự cần thiết phải xây dựng cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống trong thời kỳ mới.

Tham luận tại Hội thảo, TS Lưu Bình Nhượng đã chia sẻ một số vấn đề lý luận về làng nghề và chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn, phát triển làng nghề nước ta.


Ông Nguyễn Văn Vũ, Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam, Tổng Biên tập
Tạp chí Làng nghề Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

Làng nghề nói chung và làng nghề thủ công truyền thống được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Đó là, một thực thể kinh tế, văn hóa, xã hội; Làng cổ truyền lâu đời, mà ở đó các hộ nghề, tộc nghề chuyên sản xuất, chế tác, sinh sống bằng nghề và sản phẩm thủ công truyền thống; Trung tâm sản xuất, chế tác và kinh doanh hàng thủ công… Làng nghề có vai trò rất lớn. là một trung tâm sản xuất kinh doanh đặc thù; Là nơi tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần độc đáo cho xã hội; Là một trong những cái nôi sản sinh các đơn vị kinh tế; Làng nghề còn là một quần cư mang tính truyền thống, là đơn vị văn hóa đặc thù. Làng nghề nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng có vai trò trong đối ngoại và hợp tác quốc tế. Nhiều sản phẩm của làng nghề truyền thống cũng như làng nghề hiện đại đã trở thành hàng hóa xuất khẩu quan trọng như: May tre đan, gốm sứ, lụa tơ tằm, đồ đồng, đồ trang sức bằng vàng, bạc… đã mang lại thu nhập cao cho các nghệ nhân, doanh nghiệp, người lao động, góp phần phát triển kinh tế xã hội.


TS Tôn Gia Hóa, Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam tham luận tại Hội thảo.


TS Lưu Bình Nhưỡng cho biết, hiện Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương về nông nghiệp- nông dân- nông thôn như vấn đề “tam nông” trong chính sách phát triển kinh tế- xã hội. Tuy nhiên, đến nay Nhà nước đã triển khai xây dựng và thực hiện Chương trình “Xây dựng nông thôn mới” bằng việc xây dựng và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia “Xây dựng nông thôn mới” mà chưa thực hiện riêng rẽ, độc lập Chương trình “Bảo tồn và phát triển làng nghề”. Nó chỉ thực hiện lồng ghép thành một nội dung thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Điều này đã dẫn tới sự bất cập rất lớn về chính sách, đó là: Không triển khai thực hiện được chính sách toàn diện về “Bảo tồn và phát triển làng nghề”. Việc lồng ghép, xác định bảo tồn và phát triển làng nghề trong Chương trình mục tiêu quốc gia như vậy sẽ chỉ quan tâm đến phát triển làng nghề khu vực nông thôn, gắn với nông thôn, mà không đề cập bảo tồn và phát triển làng nghề ở khu vực đô thị hoặc đã đô thị hóa thời gian qua. Do đó, để bảo tồn, phát triển các làng nghề giữa trung tâm đô thị cần một sự nghiên cứu, định hướng chính sách và giải pháp đặc thù so với làng nghề ở khu vực nông thôn.

Làng nghề là một hiện tượng kinh tế xã hội tự nhiên nhưng luôn có vị trí, vai trò đặc biệt trong xã hội, xét cả yếu tố văn hóa, con người và lịch sử… Vì vậy, để làng nghề trở thành đối tượng của chủ trương, chính sách bảo tồn và phát triển cho hôm nay và mai sau, rất cần được luật hóa để tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hành động hiệu lực, hiệu quả.


TS Nguyễn Vi Khải, Phó chủ tịch HĐTV Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tham luận tại Hội thảo.


Tiến sĩ Tôn Gia Hóa cũng đã có tham luận đánh giá về tình hình hoạt động và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển của làng nghề Việt Nam.

Theo ông, sự hình thành và phát triển các làng nghề Việt Nam gắn với lịch sử văn hóa dân tộc. Trong đó, có yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến xu hướng phát triển và đặc trưng làng nghề ở mỗi vùng, miền; Văn hóa làng nghề là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của bản thân làng nghề… Đặc biệt, yếu tố “thể chế” rất quan trọng . Đảng và Nhà nước ta đang tập trung xây dựng thể chế phát triển đất nước đồng bộ, hiện đại và tiếp thu những tinh hoa của thế giới, theo đó làng nghề Việt Nam chắc chắn sẽ phát triển mà vẫn bảo tồn được các giá trị văn hóa quý báu của mình.

Các nghị quyết của Đảng về thay đổi và hoàn thiện các thể chế về quản lý Nhà nước, quản lý kinhh tế đã tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của các làng nghề Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập như: Sự phát triển của làng nghề Việt Nam đến giai đoạn này đã bộc lộ rõ những vấn đề cần được phát huy, cũng như nhiều vấn đề chưa được giải quyết thích đáng. Luật về làng nghề ra đời sẽ điều chỉnh mối quan hệ giữa phát triển và gìn giữ, bảo tồn trên quan điểm hài hòa lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia. Luật làng nghề sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các làng nghề Việt Nam.

TS Nguyễn Vi Khải, Phó chủ tịch HĐTV Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cũng đã chia sẻ về vai trò của các tổ chức, xã hội nghề nghiệp trong việc phát triển làng nghề. Ông cho rằng, các tổ chức xã hội ngành nghề đã hiện diện khá đông đủ và góp phần quan trọng phát triển làng nghề. Sự phát triển của làng nghề gắn với sự lớn mạnh của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam là một hiện tượng “cộng sinh tất yếu”. Sự phát triển làng nghề là điều kiện, là tiền đề cho sự ra đời của Hiệp hội và ngược lại. Đóng góp của Hiệp hội không chỉ là góc độ kinh tế mà là nâng cao các giá trị vật thể và phi vật thể…

Hiệp hội làng nghề Việt Nam có hội đồng tư vấn, Hội đồng liên lạc các CLB nghệ nhân, Viện nghiên cứu, Tạp chí Làng nghề Việt Nam in và điện tử, có ấn phẩm OCOP in và điện tử, 7 văn phòng đại diện, 15 Trung tâm, 10 ban chuyên môn. Đặc biệt, Hiệp hội làng nghề Việt Nam đã được Chủ tịch nước CHXHCNVN tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Bên cạnh đó còn là tham luận về “Thực trạng phát triển làng nghề trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay, những kiến nghị và đề xuất” của LS Lê Việt Trường hay tham luận “Thực trạng phát triển của làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay, những ưu điểm, tồn tại, đề xuất, kiến nghị” của TS Nguyễn Anh Sơn; “Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay, những đề xuất, kiến nghị” của LS Trương Quang Cẩn… rất có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, góp phần đắc lực vào việc phát triển làng nghề, giữ gìn các giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa…

Theo thông tư 16/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn thì nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.

Tuy nhiên, TS Bạch Quốc Khang cho rằng, hiện nay vấn đề nhận diện về nghề và làng nghề còn rất mờ nhạt. Do đó, không có số liệu chính xác về nghề và làng nghề trên cả nước cũng như số liệu về lao động làng nghề, kim ngạch xuất khẩu hàng năm và không có định danh trong danh sách ngành nghề của Việt Nam. Ngành thủ công mỹ nghệ bao trùm nhiều ngành nghề nhưng chưa được hưởng nhiều chính sách. Do đó, phát sinh ra nhiều hệ lụy như chính sách chưa được quan tâm, chưa thu hút được nguồn lực cả xã hội, doanh nghiệp, chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước nhưng khó tiếp cận…
Theo TS Lê Thanh Vân, để làng nghề phát triển cần có chính sách của Nhà nước về tiền tệ và tài khóa. Về tiền tệ như chính sách ưu tiên cho phát triển làng nghề, đó là cho vay tín dụng với lãi suất ưu đãi. Và chính sách tài khóa đó là những ưu đãi về thuế, phí cả về xuất khẩu và nhập khẩu. Đồng thời phát triển hạ tầng cơ sở, vì nếu không có giao thông tốt, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa sẽ làm đổ vỡ chuỗi cung ứng; Bảo tồn và phát triển nguồn nhân lực như phát triển nghề, truyền nghề; Đảm bảo tính ổn định của đầu vào nguyên liệu và thị trường đầu ra cho sản phẩm, thay đổi hình thức xúc tiến thương mại không còn phù hợp với thời đại công nghệ 4.0; Sắp xếp thứ tự ưu tiên quy mô phát triển làng nghề. Bộ Công thương, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cần tư vấn cho Chính phủ để ưu tiên bảo tồn và phát triển làng nghề; Nâng cao ý thức của người dân làng nghề về vấn đề bảo vệ môi trường.

Làng nghề là cả một môi trường kinh tế- xã hội và văn hóa. Mỗi làng nghề là một lĩnh vực sản xuất kinh doanh đặc thù, là nơi tạo ra giá trị tinh thần độc đáo cho xã hội. Làng nghề nói chung và ngành nghề thủ công mỹ nghệ nói riêng có vai trò rất lớn trong giải quyết việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; Giữ gìn văn hóa, đặc biệt là phong tục, tập quán tốt đẹp như hương ước, kỷ cương làng xã. Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công là rất cần thiết và cần có những chính sách ưu tiên và hành lang pháp lý rõ ràng.

Bài, ảnh: Đài Thanh

Theo Bộ Công thương, cả nước hiện nay có 1.951 làng nghề, trong đó có 1.062 làng nghề và 899 làng nghề truyền thống được công nhận theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn. Trong số 1.951 làng nghề có 156 làng nghề công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, chiếm 84,8% tổng số làng nghề. Số lượng “nghề truyền thống” của cả nước là 165 nghề.

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề chuyển mình trong kỷ nguyên số

LNV - Thương mại điện tử (TMĐT) đang từng bước định hình lại cấu trúc phân phối hàng hóa, xóa bỏ các khâu trung gian truyền thống để đưa đặc sản vùng miền và sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiến thẳng từ xưởng sản xuất đến tay người tiêu dùng. Quá trình số hóa các làng nghề truyền thống không chỉ đơn thuần là việc mở rộng kênh bán hàng, mà còn là một cuộc cách mạng về tư duy kinh tế. Để duy trì sức bật này, sự dịch chuyển đòi hỏi một hệ sinh thái cộng hưởng chặt chẽ giữa nỗ lực thực chiến tại cơ sở, khung hành lang pháp lý đồng bộ và nguồn lực hỗ trợ từ các nền tảng công nghệ.
Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.

Tin khác

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Bản Bút: Đưa nghề dệt thổ cẩm Trăm năm vào du lịch cộng đồng

Bản Bút: Đưa nghề dệt thổ cẩm Trăm năm vào du lịch cộng đồng

Từ những khung cửi truyền thống, đồng bào Thái ở bản Bút, xã Nam Xuân (tỉnh Thanh Hóa) đang biến nghề dệt thổ cẩm lâu đời thành sản phẩm du lịch độc đáo, vừa gìn giữ bản sắc văn hóa
Bộ Công Thương ban hành Thông tư mới về quản lý kinh phí và hoạt động khuyến công quốc gia

Bộ Công Thương ban hành Thông tư mới về quản lý kinh phí và hoạt động khuyến công quốc gia

Thông tư mới thiết lập một hành lang pháp lý toàn diện, bám sát các chủ trương phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, quy hoạch quốc gia, đồng thời gắn liền với xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Thái Nguyên : Đồng Phúc đánh thức tiềm năng vùng chè Shan tuyết Bằng Phúc

Thái Nguyên : Đồng Phúc đánh thức tiềm năng vùng chè Shan tuyết Bằng Phúc

Từ những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi đến làng nghề được công nhận, xã Đồng Phúc (Thái Nguyên) đang tìm hướng nâng tầm chè Shan tuyết Bằng Phúc
Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu năm 2026 tại Thanh Hóa

Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu năm 2026 tại Thanh Hóa

Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Thanh Hóa tổ chức lễ khai mạc Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu năm 2026
Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Đan Phượng phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2026

Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Đan Phượng phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2026

LNV - Sau khi kiện toàn tổ chức, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Đan Phượng từng bước ổn định bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động trên các lĩnh vực văn hóa, thể thao, thông tin, truyền thông và khuyến nông, góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động