Hà Nội: 32°C Hà Nội
Đà Nẵng: 26°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế

Trường tồn văn hóa làng nghề

LNV - Hội nghị Văn hóa toàn quốc họp ngày 24/11/2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì từ 75 năm nay, sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (ngày 24/11/1946), lần này mới lại có Hội nghị toàn quốc về văn hóa với quy mô lớn như thế. Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm nay được tổ chức nhằm khơi dậy khát vọng của toàn dân tộc tập trung phát triển nhanh và bền vững đất nước, đánh dấu một bước rất có ý nghĩa trên con đường chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.
Tại Hội nghị, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định ý nghĩa sâu sắc của văn hóa: “Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hóa còn thì Dân tộc còn” (Báo Nhân Dân điện tử ngày 24/11/2021). Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong 35 năm đổi mới vừa qua đã tạo nên thế và lực mới, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Cộng đồng làng nghề chúng ta vinh dự và tự hào về những thành tựu và đóng góp của văn hóa làng nghề vào công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong những năm qua, đồng thời cũng nhận thức sâu sắc thêm về nhiệm vụ bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề trong thời kỳ mới, với ý nghĩa văn hóa làng nghề trường tồn cùng dân tộc, “văn hóa còn thì dân tộc còn”.


Hiệp hội Làng nghề Việt Nam nhận Huân chương Lao động Hạng Ba (Ảnh: ST)


Về khái niệm “Văn hóa”, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc, Tổng bí thư Nuyễn Phú Trọng đã khái quát ngắn gọn, xin ghi lại để làng nghề chúng ta nghiên cứu: “Chung quy có thể hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng: Văn hóa là trình độ phát triển về tinh thần và vật chất của nhân loại trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định (thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ đồng,... văn hoá Đông Sơn, văn hoá lúa nước,...). Nghĩa hẹp: Văn hóa là những hoạt động tinh thần của một xã hội, gồm có những lĩnh vực: giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật, đạo đức (lối sống, cách cư xử, ứng xử giữa người với người,...). Văn hóa cũng bao gồm cả văn hóa vật thể (các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, di sản văn hóa, những sản phẩm văn hóa: Kim tự tháp, đình, chùa, miếu thờ,...) và phi vật thể (ca dao, dân ca, hò vè, lễ hội; các phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc, mỗi địa phương...). Văn hóa chúng ta bàn ở đây chủ yếu là theo nghĩa hẹp. Nhưng dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì khi đã nói đến văn hóa là nói đến những gì là tinh hoa, tinh tuý nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ (một con người có văn hóa, một gia đình có văn hóa, một dân tộc có văn hóa; lối sống văn hóa, nếp sống văn hóa, cách ứng xử có văn hóa,...) (Báo Nhân dân điện tử ngày 24/11/2021).

Thực tế cho thấy công cuộc bảo vệ và phát huy văn hóa làng nghề là một sự nghiệp lâu dài, mỗi thời kỳ lại được bổ sung những kiến giải mới. Nhân dịp Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm nay, từ thực tiễn các làng nghề, xin gợi ra một số ý kiến để các làng nghề tham khảo, thực hiện.

Một là, thực hiện khát vọng phát triển bằng văn hóa. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy sức mạnh và tinh thần của mọi người Việt Nam, mà quan trọng nhất là phát huy cao độ những giá trị văn hóa nhằm tạo nguồn lực nội sinh và động lực để thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất nước đến các năm 2030, 2045 mà Đảng đã đề ra. Với chúng ta, đây là khát vọng bảo vệ và phát huy văn hóa làng nghề với quan điểm văn hóa làng nghề là nền tảng, trụ cột, là mục tiêu, động lực, sức mạnh tinh thần đưa làng nghề chúng ta phát triển lên những tầm cao mới. Khát vọng này phải được thấm sâu, quán xuyến trong toàn bộ hoạt động của mỗi cơ sở, mỗi làng nghề, mỗi tổ chức xã hội-nghề nghiệp liên quan đến làng nghề. Cơ sở làng nghề phải nuôi dưỡng khát vọng phát triển với quy mô lớn hơn, sản phẩm đạt chất lượng cao với sức cạnh tranh mạnh hơn, thu nhập tăng lên và đời sống của dân cư ngày càng được cải thiện, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phồn vinh của đất nước. Tổ chức xã hội-nghề nghiệp hoạt động trong lĩnh vực làng nghề phải coi bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt mọi hoạt động của tổ chức mình.

Hai là, xây dựng con người làng nghề có văn hóa. Xây dựng con người có văn hóa là một trọng tâm của xây dựng và phát triển văn hóa. Đối với làng nghề, con người có văn hóa phải là những con người phong phú về tâm hồn trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Đó là những con người khát khao bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống hiện hữu trong mỗi cơ sở, mỗi làng nghề, với những hành động cụ thể để gìn giữ truyền thống và phát huy bằng những sáng tạo mới. Chúng ta xây dựng con người làng nghề có văn hóa là nhằm: (1) Giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lý, tập quán, nhất là ý thức cộng đồng gắn kết “cá nhân - gia đình – làng xã – Tổ quốc” đã trở thành bản sắc dân tộc trên địa bàn làng nghề; (ii) xác lập và phát huy quyền làm chủ trực tiếp, ý thức tự quản của công dân, thu hút mọi người tham gia xây dựng làng nghề; (iii) xây dựng con người mới của làng nghề với hai phẩm chất chủ yếu: Con người có văn hóa của người làng nghề và có văn hóa của công nghệ hiện đại, từng bước hình thành “người làng nghề 4.0” và “làng nghề 4.0”.

Ba là, phát huy các di sản văn hóa của làng nghề. Trong làng nghề, Di sản văn hóa phi vật thể là công nghệ chế tác hàng thủ công, thể hiện trí tuệ của nghệ nhân, bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác; là các sinh hoạt văn hóa của làng nghề, như lễ thờ Tổ nghề, lễ thờ Thành hoàng làng, ca múa hát, v.v... Di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã đạt mức độ tinh xảo, hoàn mỹ, có giá trị lịch sử,văn hoá, được sản sinh và lưu truyền trong các làng nghề truyền thống qua nhiều thế hệ, biểu trưng của nền văn hoá xã hội, mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của vùng, miền và của cả dân tộc; Một số đã được công nhận là di sản, bảo vật quốc gia. Đó cũng là những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, cách mạng gắn với làng nghề trong cả nước, trở thành những điểm du lịch đặc sắc khác biệt của làng nghề nước ta. Chúng ta tự hào về những di sản đã tồn tại từ hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm. Đề cao, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cũng như di sản văn hóa vật thể trong làng nghề bằng những hoạt động thiết thực, có hiệu quả cũng chính là tạo nền tảng, điểm tựa khơi nguồn sáng tạo cho làng nghề trong thời kỳ mới ngày nay.

Bốn là, ứng xử có văn hóa với con người làng nghề. Đây là một yêu cầu quan trọng đối với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức dịch vụ cũng như các tổ chức xã hội-nghề nghiệp liên quan đến làng nghề. Nhiệm vụ đặt ra là phát huy vai trò vừa là trung tâm vừa là chủ thể của người thợ thủ công trong làng nghề, cũng là đặt họ vào vị trí vừa là mục tiêu vừa là động lực trong sáng tạo và thụ hưởng thành tựu của làng nghề. Điều đã được khẳng định là sức sáng tạo của thợ thủ công là không giới hạn. Trong thời đại ngày nay, khi máy móc đã thay sức lao động thủ công, cơ bắp trong nhiều ngành nghề, thế nhưng nghề thủ công vẫn có chỗ đứng quan trọng, người tiêu dùng vẫn ưa chuộng sản phẩm “làm bằng tay”, chính là vì sản phẩm thủ công, nhiều khi là “độc bản” thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của mỗi nghệ nhân. Như vậy, vai trò của nghệ nhân cần được đề cao và nghệ nhân cần được chăm sóc chu đáo hơn nữa: Phải tiếp tục bồi dưỡng họ về những kiến thức hiện đại như công nghệ 4.0 để họ vận dụng trong hoạt động của mình; Phải tạo điều kiện cho nghệ nhân trưng bày và bán sản phẩm, mang lại thu nhập cho họ; đưa họ ra tiếp xúc với khách du lịch, vừa giới thiệu sản phẩm, vừa trình diễn các thao tác nghề thủ công; Và cũng rất cần chăm lo họ khi ốm đau, ...

Năm là, xây dựng văn hóa công vụ. Đó là xây dựng văn hóa ứng xử trong quản trị cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề và trong hoạt động của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp liên quan đến làng nghề, đặc biệt là đạo đức công vụ. Xin gợi ra một số ý kiến như sau. (i) Văn hóa trong cơ sở sản xuất kinh doanh (trong làng nghề, đó là các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ sản xuất, hộ kinh doanh): Mục tiêu của các cơ sở này là lợi nhuận; Mỗi cơ sở có phương pháp quản trị khác nhau, do đó văn hóa quản trị cũng khác nhau; Song điểm chung nhất, vẫn là tạo sự đoàn kết, thống nhất, thương yêu lẫn nhau; Là động viên mọi sáng kiến, thu hút mọi người tham gia vào công việc chung của tổ chức; Là bảo đảm thu nhập của mỗi người tương xứng với mức đóng góp của họ; Là thực hiện đầy đủ các biện pháp an sinh xã hội; Đồng thời là tuân thủ luật pháp, làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước và trách nhiệm với xã hội... (ii) Văn hóa trong quản trị tổ chức xã hội-nghề nghiệp (các hội, hiệp hội ...) liên quan đến làng nghề: đây là vấn đề liên quan đến nguyên tắc “ba tự” (tự nguyện, tự quản, tự trang trải về tài chính) của tổ chức, vì vậy, đồng thuận trong quản trị là chủ yếu. Văn hóa trong quản trị ở đây là: Phát huy mọi sáng kiến của các thành viên; lắng nghe, tôn trọng mọi ý kiến, dù là trái chiều; Thu hút được ý kiến của chuyên gia, nhà nghiên cứu... Điều quan trọng cần nhấn mạnh là người đứng đầu tổ chức phải thực sự nêu gương về ứng xử văn hóa.

Sáu là, tham gia phát triển công nghiệp văn hóa. Theo các nhà nghiên cứu, nội dung chủ yếu của công nghiệp văn hóa là: Phát huy sáng tạo, tìm ra cách làm khác biệt; Ứng dụng công nghệ hiện đại; Từ đó tạo nên những sản phẩm văn hóa có giá trị; Góp phần thỏa mãn nhu cầu về văn hóa tinh thần của nhân dân; có giá trị về kinh tế đóng góp vào GDP của đất nước. Hiện nay, Công nghiệp văn hóa tuy còn mới đối với nước ta song đã phát triển tại nhiều nước trên thế giới, được coi như “sức mạnh mềm” của đất nước, điển hình là Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi đã tập trung sức phát huy văn hóa truyền thống, gắn truyền thống với hiện đại, mang lại nhiều hiệu quả cả về văn hóa và kinh tế. Ở nước ta, Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8-9-2016 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định 12 nhóm ngành công nghiệp văn hóa. Đó là: (1) Quảng cáo; (2) Kiến trúc; (3) Phần mềm và trò chơi giải trí; (4) Thủ công mỹ nghệ; (5) Thiết kế; (6) Điện ảnh; (7) Xuất bản; (8) Thời trang; (9) Nghệ thuật biểu diễn; (10) Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; (11) Truyền hình và phát thanh; (12) Du lịch văn hóa. Có thể thấy: Làng nghề chúng ta có khả năng đóng góp vào khá nhiều nhóm ngành công nghiệp văn hóa nói trên, song chủ yếu là hai nhóm ngành “Thủ công mỹ nghệ” và “Du lịch văn hóa”. Về thủ công mỹ nghệ, như đã nói ở trên, sức sáng tạo của nghề thủ công là vô hạn, luôn sáng tạo đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, nhất là khi đại dịch Covid-19 tác động, thị hiếu tiêu dùng thay đổi; Đồng thời đáp ứng yêu cầu mới của khách hàng về bảo vệ môi trường, như nguồn gốc, xuất xứ, sản xuất xanh. Về du lịch văn hóa, làng nghề chúng ta không chỉ có những sản phẩm du lịch thể hiện giá trị văn hóa vùng, miền, mà còn những điểm du lịch gắn với các di tích lịch sử, cách mạng của dân tộc. Trong các hoạt động nói trên, cần thể hiện nổi bật giá trị văn hóa, những điểm mới, khác biệt về nội dung và hình thức mang tính chất sáng tạo đặc thù của nghề thủ công từng vùng, miền và từng làng nghề; đặc biệt là mức độ đóng góp về kinh tế vào công nhiệp văn hóa.

(Bài viết nhân dịp Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021)

Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Bài tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ



Tin liên quan

Tin mới hơn

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tinh tế cơm quan họ

Tinh tế cơm quan họ

Cơm quan họ là nét đẹp trong văn hóa ẩm thực
Sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu: Nâng tầm giá trị và vươn xa

Sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu: Nâng tầm giá trị và vươn xa

Phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu không chỉ góp phần gia tăng giá trị nông sản và nâng cao thu nhập cho người dân, mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế
Cốm tươi Minh Hằng vươn xa nhờ chứng nhận OCOP 4 sao

Cốm tươi Minh Hằng vươn xa nhờ chứng nhận OCOP 4 sao

Từ nghề làm cốm được gìn giữ qua nhiều thế hệ, Cốm tươi Minh Hằng đã từng bước chuẩn hóa sản xuất, xây dựng thương hiệu và được công nhận OCOP 4 sao
Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

Những làng quê miền Trung giữ lửa nghề bánh tráng

Qua bao đổi thay, những bếp lửa vẫn đỏ, những mẻ bánh tráng vẫn đều đặn ra lò, gìn giữ một nghề truyền thống và hương vị quen thuộc của làng quê miền Trung.
Trống và di sản văn hóa trong Festival Thăng Long 2026

Trống và di sản văn hóa trong Festival Thăng Long 2026

Sự kiện tại Văn Miếu quy tụ nghệ nhân và hiện vật, tạo không gian kết nối giữa truyền thống và hiện đại qua âm thanh và nghề thủ công
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động