Bình Định: Vai trò hợp tác xã trong phát triển kinh tế tập thể

LNV - Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể (KTTT) và 10 năm thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012, tình hình KTTT ở Bình Định trong thời gian qua đang có những chuyển biến tích cực.
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng xác định, kinh tế nhà nước cùng với KTTT ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Trong đó, KTTT tuy có nhiều hình thức đa dạng, nòng cốt vẫn là phát triển theo mô hình HTX. Theo phương hướng đó, tỉnh Bình Định đã thực hiện củng cố, phát triển KTTT với nhiều tổ hợp tác và HTX, góp phần thúc đẩy kinh tế trên địa bàn tỉnh bằng nhiều hình thức, quy mô khác nhau.

Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, từ trước năm 2001, toàn Bình Định chỉ có 288 HTX; trong đó chỉ 8 HTX hoạt động hiệu quả (chiếm tỉ lệ 0,03%). Đến cuối năm 2021, tất cả các HTX đã chuyển đổi hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 2012, tỉnh có 745 tổ hợp tác và 250 HTX, với khoảng 278.583 thành viên; trong đó 95 HTX hoạt động hiệu quả (chiếm tỉ lệ 38%), bao gồm 188 HTX nông nghiệp, 19 HTX tiểu thủ công nghiệp, 16 HTX vận tải và 27 Quỹ tín dụng nhân dân. Tổng số vốn hoạt động của các HTX trên đạt ngưỡng 3.334 tỷ đồng, tăng hơn 292% so với năm 2001. Doanh thu bình quân dao động khoảng 2,9 tỷ đồng/hợp tác xã, cũng tăng 126,2% so với năm 2001. Số lao động thường xuyên làm việc trong khu vực HTX ước tính khoảng 2.623 người, thu nhập bình quân của mỗi lao động đạt 52,84 triệu đồng/người, tăng hơn 29 triệu đồng so với năm 2001.

Hiện nay, địa phương có khoảng 57 HTX đã tổ chức liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp trong, ngoài tỉnh; 17 HTX ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất; 7 HTX với 11 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP cấp tỉnh. Các sản phẩm được công nhận đánh giá bao gồm: bánh tráng dừa, dầu dừa tinh khiết các loại của HTX nông nghiệp Ngọc An; mắm ruốc, cơm cá khô, ruốc khô, mực một nắng của HTX sản xuất kinh doanh hải sản Hương Thanh - Nhơn Lý; gạo sản xuất theo hướng hữu cơ của HTX nông nghiệp Ân Tín; Dưa các loại của HTX nông nghiệp II Nhơn Thọ, sản phẩm rau an toàn của HTX Nông nghiệp; HTX Nông nghiệp Mỹ Hòa Dầu Lạc; nước mắm của HTX sản xuất kinh doanh Hương Thanh.

Vườn canh tác dưa của HTX nông nghiệp II Nhơn Thọ

Sản phẩm OCOP bánh tráng dừa Tam Quan từ HTX nông nghiệp Ngọc An


Cũng trong Hội nghị ngày 9/11, tại thành phố Quy Nhơn, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, ông Nguyễn Phi Long cho biết, KTTT Bình Định đã bước đầu thoát ra khỏi tình trạng trì trệ, yếu kém kéo dài. Hoạt động của các thành viên trong HTX được xác định lại, phù hợp nhu cầu phát triển riêng biệt, loại bỏ những dịch vụ không hiệu quả, chú trọng đầu tư có chiều sâu, mang lại lợi ích thiết thực cũng như chú trọng kinh tế hợp tác. Một số HTX đã mạnh dạn nghiên cứu thị trường, tiếp nhận sự hỗ trợ từ các chương trình, dự án phát triển, từ đó tạo ra các dịch vụ, ngành nghề mới phục vụ nhu cầu sản xuất. Đặc biệt, khi tham gia vào OCOP, hầu hết các sản phẩm đạt chứng nhận của tỉnh đều khẳng định được chỗ đứng trên thị trường, đồng thời góp phần nâng cao lợi ích kinh tế cho các tổ hợp tác, HTX thành viên. Đến nay, các HTX nông nghiệp, dịch vụ trên địa bàn đều thực hiện mô hình vừa quản lý, vừa điều hành. Đội ngũ cán bộ quản lý ngày càng trẻ hóa và được tổ chức theo hướng tinh gọn, giảm lượng, tăng chất. Phương thức hoạt động của các HTX ngày càng trở nên thiết thực, đa dạng và có hiệu quả.

Mộc góc gian hàng trưng bày sản phẩm OCOP của các địa phương tại Bình Định.


Tuy nhiên, cũng theo ông Long, quá trình phát triển KTTT tại địa bàn tỉnh vẫn gặp nhiều hạn chế, các HTX vẫn còn rập khuôn, máy móc theo lối tư duy cũ. Số lượng HTX tuy nhiều nhưng quy mô nhỏ, đặc biệt nguồn vốn hoạt động sản xuất, kinh doanh còn thấp, cơ sở vật chất ngày càng xuống cấp, lạc hậu. Bên cạnh đó, việc khôi phục các nghề truyền thống và du nhập, mở mang các ngành nghề mới, đẩy mạnh sản xuất nhằm giải quyết việc làm, cải thiện chất lượng đời sống, tăng thu nhập cho người dân còn nhiều bấp cập.

Để thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật nhà nước, hưởng ứng Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/4/2021 về phát triển kinh tế tập thể, HTX giai đoạn 2021 - 2025, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, ông Hồ Quốc Dũng cũng cho biết, các tổ chức, chính quyền, đoàn thể sẽ tiếp tục tăng cường đổi mới tuyên truyền, quán triệt, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương. Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo quyền tự chủ, không can thiệp vào hoạt động hợp pháp của tổ chức KTTT, HTX, các cấp ủy, tổ chức Đảng cũng sẽ rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính sách mới, quy định liên quan đến KTTT, HTX; tạo môi trường thuận lợi, ổn định, bình đẳng giữa KTTT với các loại hình kinh tế khác. Ngoài ra, trong thời gian tới, Bình Định sẽ tập trung đẩy mạnh việc đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao liên doanh, liên kết của HTX thành viên, cải thiện hiệu quả trong phương thức quản lý, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Bài, ảnh: Quỳnh Hoa

Tin liên quan

Tin mới hơn

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.

Tin khác

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Viện Nghiên cứu, Tư vấn Kiến trúc và Bảo tồn phát triển Làng nghề chính thức đi vào hoạt động

Viện Nghiên cứu, Tư vấn Kiến trúc và Bảo tồn phát triển Làng nghề chính thức đi vào hoạt động

LNV - Ngày 8/8/2026, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu, Tư vấn Kiến trúc và Bảo tồn phát triển Làng nghề (RICACVCD) tổ chức Lễ công bố chính thức đi vào hoạt động, mở ra hướng đi mới trong nghiên cứu, tư vấn quy hoạch, kiến trúc, bảo tồn và phát triển bền vững
Nho Lâm - Cái nôi nghề rèn truyền thống của Nghệ An

Nho Lâm - Cái nôi nghề rèn truyền thống của Nghệ An

Làng Nho Lâm, xã Tân Châu, tỉnh Nghệ AN nổi tiếng với nghề rèn truyền thống, lưu giữ di sản văn hóa, gắn với truyền thuyết Thánh tổ Cao Lỗ.
Sinh viên tham gia "Đánh thức"  Di sản Làng nghề Hà Nội

Sinh viên tham gia "Đánh thức" Di sản Làng nghề Hà Nội

Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2026 trở nên sôi động hơn bao giờ hết với sự xuất hiện của hơn 100 sinh viên đến từ nhiều trường đại học
Hội chợ công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026 tại Hà Tĩnh

Hội chợ công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026 tại Hà Tĩnh

Hội chợ công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026 quy tụ 250 gian hàng
Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết 57

Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết 57

LNV - Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 2/8/2026).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động