Hà Nội: 36°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 32°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế

Kim hoàn xứ Huế - hơn 200 năm rực rỡ vàng mười

LNV - Sử cũ kể rằng, nghề kim hoàn xứ Huế ra đời vào cuối thế kỷ 18, do các nghệ nhân từ Thanh Hóa di cư vào truyền nghề. Trải qua hơn 200 năm thăng trầm cùng thế sự, nghề kim hoàn đất Cố đô có thời kỳ tưởng như mai một, may nhờ ơn tổ nghiệp và sự chăm chỉ gầy dựng của lớp lớp cháu con, nên nghề xưa không những được bảo tồn mà còn phát triển rộng khắp hơn so với trước.


Bộ trầu cau bằng vàng.


Chuyện kỳ nhân xứ Thanh khai mở nghề xứ Huế

Cuối thế kỷ 18, các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong trong quá trình khai khẩn mở đất đã nắm giữ được nhiều mỏ vàng, đặc biệt là mỏ vàng Bồng Miêu ở tỉnh Quảng Nam, nhờ đó mà các đồ trang sức, ngự dụng trong phủ chúa đều làm bằng vàng. Ngặt một nỗi, thời ấy nghề kim hoàn ở nước ta còn kém, trong dân gian cũng chưa có thợ lành nghề nên các thứ ấy người phủ chúa đều phải thuê thợ kim hoàn người Trung Hoa chế tác. Họ thường giấu nghề độc quyền này rất kỹ nên người Việt khó bề học hỏi.

Nghệ nhân Nhân dân Duy Mong (phía sau), người giữ lửa nghề kim hoàn truyền thống Huế (ảnh chụp lúc chưa xảy ra dịch COVID-19).


Thời ấy ở làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa có ông Cao Đình Độ sinh năm Giáp Thìn (1744), vốn xuất thân trong một gia đình nông dân nhưng ham học và được học hành đến nơi đến chốn, lớn lên ông làm nghề bịt đồng, tức chuyên hàn khay, ấm chén bị vỡ. Với ham muốn học nghề kim hoàn nên ông quyết chí học tiếng Hoa, rồi cải trang thành người Hoa xin vào giúp việc cho một chủ tiệm vàng ở Thăng Long (Hà Nội). Với bản tính thông minh, chịu thương chịu khó và trung thực nên ông nhanh chóng chiếm được cảm tình của chủ tiệm, từ đó lén học được những ngón nghề của họ. Dần dà ông học thành tài, tay nghề trở nên điêu luyện không thua kém bất cứ ai.

Đồ nghề của thợ kim hoàn xưa trưng bày tại Tịnh Tâm kim cổ.


Năm Quý Mão (1783), quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân, Cao Đình Độ đưa vợ con men theo đường biển tìm đường vào Nam kiếm nơi lập nghiệp. Trên đường đi, đến địa phận làng Kế Môn nằm bên phá Tam Giang (nay thuộc xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) không may gặp nạn và được dân làng cứu giúp. Cảm công đức của dân làng, gia đình ông quyết định dừng chân lập nghiệp ở đây. Tại đây, ông đã truyền nghề cho con trai mình là Cao Đình Hương và một số học trò là người thuộc hai họ Huynh Công và Trần Mạnh ở trong làng. Về sau, hai họ Huynh, Trần tiếp tục truyền nghề lại cho con cháu, từ đó biến làng Kế Môn trở thành làng thợ kim hoàn lớn vào bậc nhất ở xứ Đàng Trong.

Một góc không gian trưng bày của Tịnh Tâm kim cổ Huế.


Dưới thời nhà Tây Sơn, vua Quang Trung cũng là người quan tâm đến nền thủ công nghiệp nước nhà. Năm 1790, nghe danh cha con Cao Đình Độ và những người thợ làng Kế Môn, vua cho triệu vào triều rồi giao cho lập đội Cơ vệ Ngân tượng để chuyên lo việc chế tác, chạm trổ vàng bạc và đồ trang sức, ngự dụng cung đình. Trước công đức và những đóng góp lớn lao đó, ông Cao Đình Độ được triều đình phong chức Lãnh binh, còn con ông là Cao Đình Hương giữ chức phó Lãnh binh.

Đến khi Nguyễn Ánh chiếm lại đất Thuận Hóa - Phú Xuân, lập nên vương triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, hai cha con ông Cao Đình Độ và Cao Đình Hương cũng như nhóm thợ làng Kế Môn vẫn được vua Gia Long trọng dụng, cấp bổng lộc và giữ nguyên tước cũ để tiếp tục bảo tồn và phát triển nghề kim hoàn trong kinh thành. Từ đây, nghề kim hoàn xứ Huế, đặc biệt là kim hoàn cung đình bắt đầu có bước phát triển rực rỡ, nhiều sản phẩm tinh xảo nổi tiếng xuất hiện như: Ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng, cành vàng lá ngọc, đồ ngự dụng bằng vàng, bạc...

Vào ngày 27 tháng 2 năm Canh Ngọ (28.2.1810), ông Cao Đình Độ qua đời, hưởng thọ 66 tuổi, được nhà vua và triều đình truy phong tước hiệu: “Đệ nhất tổ sư” và ban đất xây lăng mộ như các quan đại thần tại ấp Trường Cởi (nay là phường Trường An, thành phố Huế).

Lo sợ nghề nghiệp sẽ bị mai một theo thời gian nếu chỉ quẩn quanh trong chốn cung đình nên ông Cao Đình Hương quyết định từ quan về quê để tìm người nối nghiệp. Thấy được cái tài và hoài bão của ông, quan Thượng thư Bộ Lại ở Thuận Hóa lúc bấy giờ là Trần Minh đã mời ông về phủ dạy nghề cho 3 người con là Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền và 3 người cháu là Huynh Quang, Huynh Bảo, Huynh Nhật.

Ngày 7 tháng 2 Âm lịch (8.2.1821), ông Cao Đình Hương qua đời, hưởng thọ 48 tuổi, được vua Minh Mạng phong tước hiệu: “Đệ nhị tổ sư”, phần mộ được an táng bên cạnh mộ phần tổ phụ tại ấp Trường Cởi.

Gần 100 năm sau khi hai ngài qua đời, đến triều Khải Định thứ 9 (năm 1924), nhân dịp lễ Tứ tuần Đại khánh tiết, xét hai ngài có nhiều công lao trong việc truyền bá nghề kim hoàn nên vua Khải Định đã ban chiếu sắc phong: “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần” vào ngày 25.7.1924. Đến đời vua Bảo Đại thứ 13 (năm 1938), hai ông tiếp tục được sắc phong cho người có công khai sáng ngành kim hoàn Việt Nam và khu lăng mộ được kiến tạo, trùng tu đạt giá trị nghệ thuật cao. Hiện nay, tại từ đường họ Kim hoàn tọa lạc số 7 chùa Ông, phường Phú Cát, thành phố Huế còn lưu giữ một số bản sắc phong của các vua triều Nguyễn cho hai vị tổ nghề.

Nghệ nhân Duy Mong - người phát huy nghiệp tổ

Ngày nay, đến thăm lăng nghệ nhân Cao Đình Độ, người ta vẫn còn thấy đôi câu đối bằng chữ Hán tán thán công đức của ông: “Kim hoàn triệu thỉ tam kỳ tổ; Ngọc bảo khai tiên thiên cổ sư” (Tạm dịch: Sáng lập nghề kim hoàn, làm tổ sư ba miền; Ngọc quý mở đầu, ngàn đời làm thầy). Năm 1990, hệ thống khu lăng mộ tổ nghề kim hoàn ở Huế đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia.

Sản phẩm cây vàng lá ngọc của nghệ nhân Duy Mong.


Riêng làng Kế Môn nay được xem như cái nôi của nghề kim hoàn xứ Huế. Hơn 200 trăm năm qua, hàng ngàn người làng Kế Môn đã rời làng ra đi mang theo nghiệp tổ truyền bá khắp nơi trong và ngoài nước. Hiện ở tiểu bang Texas của Mỹ có 40 cơ sở cầm vàng của người Kế Môn.

Ngay tại Huế bây giờ, nghề kim hoàn cũng phát triển rất mạnh. Đặc biệt, Nghệ nhân Nhân dân Trần Duy Mong, ông chủ nổi tiếng của chuỗi hệ thống 6 cơ sở chế tác, kinh doanh vàng bạc, đá quý của doanh nghiệp kim hoàn Thuận Thành - Duy Mong ở Huế được xem là bàn tay vàng, là người giữ lửa cho nghề kim hoàn xứ Huế hiện hay.

Sự tinh xảo của đôi hài nhung thêu chỉ bạc.


Nghệ nhân Trần Duy Mong là hậu duệ của dòng họ Trần Duy làng Kế Môn, theo nghề kim hoàn từ năm lên 15 tuổi, đến nay đã gần 50 năm theo nghiệp tổ. Suốt mấy chục năm theo nghề, tuy đã là tay lão luyện trong nghề nhưng ông vẫn không ngừng học tập, rèn giũa nâng cao tay nghề, nhờ đó mà ông liên tục giành nhiều giải thưởng lớn tại các kì thi uy tín, điển hình như tác phẩm: “Quạt cung đình Huế” (Giải Ba Hội thi sản phẩm lưu niệm và quà tặng năm 2008), “Hài cung đình Huế xưa” (Giải Ba Hội thi sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2009), “Tranh hộp 3D Lầu Ngũ Phụng - Đại Nội Huế” (Giải Nhất cuộc thi sản phẩm hàng lưu niệm và quà tặng Huế 2017), và nhiều giải thưởng tại các kì Festival nghề truyền thống Huế...

Chén ngọc khảm vàng.


Nghệ nhân Trần Duy Mong cho biết, trong bối cảnh ngành công nghệ chế tác trang sức phát triển mạnh như hiện nay, nghề kim hoàn truyền thống phải chịu một sức ép không hề nhỏ, nhưng ông tin rằng với vẻ đẹp và sự độc đáo riêng có, kim hoàn truyền thống vẫn sẽ có chỗ đứng riêng, nếu ta biết phát huy thế mạnh của nó.

Với nỗi lòng đau đáu với nghề, nghệ nhân Trần Duy Mong đã phát triển thành công chuỗi cơ sở kinh doanh vàng bạc đá quý của mình, góp phần tạo cơ hội công ăn việc làm cho người dân, đào tạo nghề cho lớp thợ kế cận. Đặc biệt, ông đã dày công xây dựng cơ sở Tịnh Tâm kim cổ thành điểm đến tham quan, du lịch, mua bán, chế tác kim hoàn lớn và độc đáo nhất ở miền Trung.

Sản phẩm kim hoàn xứ Huế nổi tiếng cả nước nhờ chất lượng đảm bảo, nguyên liệu hoàn hảo, không bị pha tạp; sản phẩm tinh xảo, cầu kì trong từng đường nét thiết kế, đặc biệt là luôn mang dáng dấp sang trọng, quý phái nhờ thừa hưởng phong cách chế tác kim hoàn cung đình Huế.

Đến với Tịnh Tâm kim cổ du khách sẽ được chiêm ngưỡng một kiệt tác không gian nhà vườn truyền thống Huế với những ngôi nhà rường mái ngói cột gỗ cổ kính và những khoảnh vườn mát rượi bóng cây xanh. Trong không gian đậm màu hoài cổ ấy là cả một thế giới đồ kim hoàn lung linh, huyền ảo. Ở đó có hàng nghìn mẫu hàng trang sức bằng vàng, bạc, đá quý, và nhiều mẫu hàng lưu niệm được chế tác tinh xảo bằng vàng, bạc, đồng...

Kiềng bạc khảm ngọc.


Đáng chú ý, ở đây còn có một bảo tàng thu nhỏ về nghề kim hoàn xứ Huế. Ở đó gia chủ bài trí khá nhiều hiện vật quý và có giá trị như các bản sao sắc phong của vua nhà Nguyễn dành cho nghề kim hoàn Huế; các dụng cụ cổ dùng chế tác kim hoàn như búa, kìm, kẹp, dùi, giũa, khuôn, đèn khò, cân tiểu li... Không gian chế tác, nơi làm việc của thợ cũng được sắp đặt, bài trí mang hơi hướng cổ, khiến cho khách tham quan như cảm nhận được môi trường, không khí làm việc của thợ kim hoàn xưa.

Với Tịnh Tâm kim cổ, nghề kim hoàn xứ Huế như được sống lại với thời hoàng kim xưa. Bởi ở đó, đời sống kim hoàn truyền thống Huế được tái tạo, phục dựng và phô diễn một cách công phu, chân thực và sống động, đủ để cho những ai yêu Huế đến rồi sẽ chẳng thể nào quên...

Theo Thái Hoàng/Báo Lao động

Tin liên quan

Tin mới hơn

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hội sách Mùa Thu Độc Lập: Khi lịch sử bước ra từ trang sách

Hội sách Mùa Thu Độc Lập: Khi lịch sử bước ra từ trang sách

LNV - Hòa chung không khí chào mừng 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2026), Phố Sách Hà Nội trở thành điểm hẹn văn hóa với Hội sách Mùa Thu Độc Lập 2026 với thông điệp "Mở trang sách - Tự hào Việt Nam".
Chiến dịch 500 ngày đêm: Cuộc hành quân trong thời bình tìm kiếm, xác định danh tính liệt sĩ

Chiến dịch 500 ngày đêm: Cuộc hành quân trong thời bình tìm kiếm, xác định danh tính liệt sĩ

Quốc khánh 2/9 là dịp cả dân tộc cùng nhìn lại chặng đường đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước và tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc. Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, một “cuộc hành quân trong thời bình” vẫn đang tiếp tục, kết nối hồ sơ lịch
Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại

Giữ hồn làng nghề trong nhịp sống hiện đại

LNV - Trong dòng chảy lịch sử và văn hóa Việt Nam, các làng nghề truyền thống không chỉ là nơi sản xuất ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, mà còn là không gian lưu giữ ký ức cộng đồng, tri thức dân gian và bản sắc văn hóa vùng miền. Mỗi làng nghề đều ma
Hà Nội tổ chức nhiều chương trình  nghệ thuật   kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9

Hà Nội tổ chức nhiều chương trình nghệ thuật kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9

LNV - Nhiều chương trình miễn phí tại các xã, phường, mang nghệ thuật đến gần hơn với người dân nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Ban Bí thư ban hành chỉ thị về công tác xây dựng Đảng   trong khu vực kinh tế tư nhân

Ban Bí thư ban hành chỉ thị về công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân

LNV -Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ký ban hành chỉ thị của Ban Bí thư về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân (Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 19/8/2026).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động