Hà Nội: 26°C Hà Nội
Đà Nẵng: 26°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế

Sơn Đồng làng nghề

LNV - Làng Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ nay thuộc thành phố Hà Nội, xưa kia thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, xứ Đoài. Làng Sơn Đông cách Cầu Giấy - Hà Nội khoảng 15 km về phía Tây, là một làng nghề điêu khắc gỗ truyền thống, làm tượng Phật và đồ thờ Phật giáo nổi tiếng ở Việt Nam.
Đây là một làng cổ ở trung châu Bắc bộ. Dân chúng định cư từ thời Bắc thuộc, đã hơn hai nghìn năm nay. Làng hiện có 6 di tích lịch sử văn hoá được Nhà nước xếp hạng: Đình Sơn Đồng, đền Thượng, chùa Diên Phúc, chùa Kỳ Đà, nhà thờ họ Nguyễn và nhà Cúng Hậu.

Theo Thần phả truyền lại rằng: Vào đời Tiền Lê, có một cặp vợ chồng trẻ rất thương yêu nhau. Cụ ông huý là Nguyễn Đào Vượng cụ bà huý là Nguyễn Thị Tín, quê gốc ở Nghệ An. Họ rất đảm đang, tháo vát. Trên đường đi làm ăn nơi tha hương, các cụ đã lập ấp tại miền Bạch Hạc - Phong Châu (Phú Thọ). Cụ ông chăm chỉ làm ruộng, chăn nuôi. Cụ bà tần tảo buôn bán tơ lụa. Gia sản ngày một sung túc nhưng niềm vui chưa trọn vẹn vì họ chưa có lấy một mụn con.

Nghe nói đền Sài Sơn là nơi cầu tự rất linh thiêng, hai cụ không quản đường xa, đã dong thuyền xuôi sông Thao, ngược sông Hát về đền cầu tự. Cầu được ước thấy, trời sai sứ giả báo tin cho cụ ông rằng sẽ có một vị sao sáng - Một thiên thần giáng sinh làm con họ, để rồi giúp dân cứu nước. Cụ bà thì mơ thấy đã có một ngôi sao sa xuống và mình đã nuốt vào bụng. Sau 12 tháng, một hài nhi khôi ngô, tuấn tú hơn người chào đời, được cha mẹ đặt huý danh là Nguyễn Đào Trực. Ngài lớn lên trong tình yêu thương và dạy dỗ của cha nghiêm, mẹ hiền, lại được các bậc thầy đạo cao đức trọng, trong đó có cả Tiên ông, truyền dạy cho tinh thông cả văn lẫn võ. Khi trưởng thành, ngài là một trang nam tử văn vũ toàn tài, ân đức truyền tụng ngày càng lan xa. Khi cha mẹ lần lượt qua đời, ngài đem chia hết tài sản, tiền bạc, ruộng đồng cho dân chúng.


Nghệ nhân làng nghề Sơn Đồng


Lòng lạnh như tro tàn, không màng danh lợi, ngài đi ngộ thu sợi thuỷ khắp nơi, cuối cùng tìm được đất lành Sơn Đồng, chính với dựng đền thờ ngày nay. Nơi đây cao ráo, địa khí rất vượng, thể đất dồi dào, thanh long bạch hổ đều chầu về, cây cối tốt tươi, dân sinh thuần hậu, thật hiểm có nơi nào được như thế.

Đẹp lòng, ngài thu nhận đệ tử, mở trường dạy học. Ngôi trường được dựng theo hình chữ Nhị. Tiền đường là nhà giảng, hậu đường là thư phòng và sinh hoạt. Phong cách rất phong lưu, nho nhã.
Có kẻ xấu bụng, muốn dâng công kiểm lợi, đã ton hót về triều đình, vu cho Ngài tội xây trường hình chữ Nhị, âm mưu phản nghịch. Do thần lực tiên truyền rất thâm hậu nên ngài đã biết trước. Khi quan quân triều đình sắp kéo tới, ngài bèn sai đệ tử xin rước tượng Phật tử chùa Ma (tên rất lạ?) gần đó về trường, lập đàn tràng lễ Phật, tạm thời biến trường học thành nhà chùa. Quan quân tới nơi, thấy vậy, liền trị tội tên tiểu nhân vu cáo, “sinh sự sự sinh”.


Mấy năm sau, nhà Tống kéo đại quân sang xâm lược nước ta, vận nước lâm nguy. Vua kêu gọi anh tài cùng toàn dân đứng lên cứu nước.

Nhà giáo Nguyễn Đào Trực cùng đệ tử trường Sơn Đồng và toàn dân đã đứng lên, dùng sức người và sức trời giúp vua phá giặc, chém tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo bắt sống hai phó tướng, đuổi giặc chạy dài về bên kia ải Chi Lăng.

Thiên hạ thái bình, vua phong công hầu cho ngài, nhưng ngài xin không nhận mà tâu rằng: “Bản dân Sơn Đồng, Quốc Oai lành hiền, chất phác, thuần hậu, nhưng còn dốt nát, vụng về lắm. Thần xin trở về tiếp tục khai trường dạy dân làm ăn. Khi nào nước cần thì thần và dân chúng lại xin hết sức phò vua giúp nước.”


Vua chuẩn tấu, ban thưởng rất hậu, cho ngài lui về dạy học như trước, khai hoá dân sinh cả một vùng rộng lớn.

Có lẽ nghề làm tượng Phật cũng do ngài truyền cho dân chúng, từ sự tích mượn tượng Phật chùa Ma?

Qua nhiều biến thiên của lịch sử nước nhà, hàng ngàn năm dân ta phải chịu cảnh cơ hàn từ Bắc thuộc đến Pháp thuộc. Song vẫn là một làng có truyền thống hiếu học và đôi bàn tay tài hoa. Thế nên thời nào cũng có nhiều người đỗ đạt khoa | bảng lừng danh như Thượng thư lưỡng quốc, bảng nhãn thám hoa, Quận công, Tiến sỹ, Cửu phẩm văn giai, Bá Hộ kỹ nghệ. Đời nào cũng có nghệ nhân nối tiếp phát hay nghề tổ tiêu biểu huấn nghiệp như: Cụ Bộ Túc, cụ Bá Đấu, cụ Bá Bơ, cụ Bá Đề, Bả Sáu, Bá Dậu, cụ Kim, cụ Truyền, cụ Chủ Mộ, cụ Hán, Cụ Tường, cụ Thạc, cụ Khẩn, cụ Nhung Thuý...

Các nghệ nhân lớp trẻ tiêu biểu cấp nhà nước như: Nghệ nhân Nguyễn Viết Thạnh, Chủ tịch Hội nghệ nhân, thợ giỏi Tthành phố Hà Nội, Ủy viên thường trực Hiệp hội làng nghề Việt Nam, người đã đào tạo ra nhiều nghệ nhân trẻ cho làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng. Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam Nguyễn Trung Nghị, Nguyễn Viết Thắng, Nguyễn Danh Sơn, Nguyễn Trí Dần, Trần Quang Hùng, Nguyễn Viết Huân và còn rất nhiều nghệ nhân, thợ giỏi của làng nghề không sao kể hết. Bao giờ và lúc nào người dân Sơn Đồng cũng tự hào là làng ven đô bách nghệ nghìn năm văn hiến.

Nói đến tượng Sơn Đồng, nhất là tượng Phật - không những vang danh cả nước mà còn vang xa đến nhiều nước trên thế giới. Đến đây, người ta nghe tiếng đục đẽo lách cách khắp làng. Không giống như những làng nghề khác, chỉ toàn người già cố giữ nghề Tổ, Sơn Đồng quy tụ được những lớn thì lớp trẻ kế thừa với tay nghề ngày càng tinh xảo, có em bé mới 3 tuổi đã tập tành các cụp. Thợ Sơn Đồng quanh năm suốt tháng miệt mài tạo nên những pho tượng, họa phẩm từng ăn sâu trong thế giới tâm linh con người: những pho tượng A-di-đà, Di lặc, thần tài, những bức hoành phi câu đối,... Nhìn những sản phẩm của họ, ta dễ liên tưởng đến nét tài hoa của các nghệ nhân đã tạo nên các pho tượng La Hán ở chùa Tây Phương, tượng Phật Bà ở chùa Keo có một không hai...

Năm 1956, hợp tác xã thủ công nghiệp Sơn Đồng ra đời, ứng với 5 nghề truyền thống. Hai nhóm nghề chạm khắc gỗ, sơn mài phải trải nhiều bước thăng trầm nhất. Thời bao cấp, với quan niệm chống mê tín dị đoan, nghề gần như không phát huy được, thậm chí còn bị lãng quên. Những nghệ nhân, thợ giỏi có tâm huyết trong làng thực sự băn khoăn lo lắng. Làm thế nào để nghề truyền thống đã tồn tại trên 1.000 năm nay không bị mai một là một “câu hỏi lớn không lời đáp”, dù họ đã phải trăn trở rất nhiều. Phải mãi sau này, tới năm 1983, gần thời kỳ đổi mới, ông phải Nguyễn Đức Dậu, nghệ nhân từ thời thuộc Pháp mới làm được một việc có tính nhất quyết định. Ông đứng ra tổ chức lớp học nghề chạm khắc gỗ và sơn mài, cốt truyền nghề cho con cháu. 34 học viên ngày đó, bây giờ người là thợ giỏi, người là giáo viên, đang tiếp tục truyền nghề cho lớp trẻ trong làng, trong xã.

Đội ngũ thợ và nghệ nhân của Sơn Đồng chủ yếu trưởng thành được là nhờ vừa làm vừa học. Các thế hệ thầy trò trực tiếp truyền nghề cho nhau. Nhưng phương thức này hạn chế ở chỗ khó mở rộng quy mô và thời gian để trưởng thành khá lâu. Tới nay nhìn lại, gần 30 năm đã trôi qua, từ khóa học này, đa số các học viên đã trở thành các nghệ nhân chủ chốt, các chủ sản xuất lớn ngày nay.
Những năm 1998 - 2002, làng đã mở liền 2 lớp, mỗi lớp có 50 học viên, học trong 18 tháng. Tới nay cũng đã có rất nhiều người trưởng thành. Song kinh phí mở những lớp như thế khá tốn kém. Chi phí cho 1 học viên trong 18 tháng khoảng 10 triệu, tổng kinh phí mở 2 lớp này tới 1 tỷ đồng.

Hiệp hội làng nghề Sơn Đồng đã được thành lập từ năm 2.000, nhưng tới nay hoạt động ít hiệu quả, mới dừng lại ở hình thức. Theo các nghệ nhân và cán bộ của xã, sắp tới, cần kiện toàn và nâng cao năng lực của tổ chức này. Có như vậy mới có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong thời đại gia nhập WTO.

Năm 2007, làng Nghề mỹ nghệ Sơn Đồng được công nhận làng nghề tiêu biểu Việt Nam, được Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bộ Văn hóa Thể thao và Du Lịch và nhiều Bộ, ngành tặng nhiều Bằng khen, Giấy khen và qua các cuộc triển lãm (gắn với việc xúc tiến thương mại du lịch làng nghề) các nghệ nhân làng nghề Sơn Đồng được tặng thưởng hàng trăm Danh hiệu, Cúp vàng, Huy chương vàng, Tinh hoa Việt Nam và các giải thưởng cao quý khác.

Mấy năm gần đây do phong trào khuyến học, khuyến tài nở rộ ông Nguyễn Nghiêm Đạt dạy và học chữ Hán Nôm thư pháp miễn phí cho con em trong họ ngoài làng với hàng trăm sĩ tử, những ông đồ nhí biết đọc, biết viết và biết nghĩa lí của những con chữ trên hoành phi câu đối. Mang hồn cốt bản sắc tinh hoa văn hoá Việt với hai mục đích là “học để làm người và học để làm nghề”. Nói về Nghệ nhân làng nghề Sơn Đồng thật là:"Mất người chưa thấy dung nhan Phật mà tự tay người Phật hiện ra”.

Bởi các tích về kiến trúc trang trí mỹ thuật của các đạo Tam giác đồng nguyên đã ngấm vào máu thịt người dân Sơn Đồng từ bao đời và hơn thế nữa dân làng nghề người Sơn Đồng có duyên với Phật, được Phật, Thánh khai sáng nghề nghiệp cho biết các thủ tướng tốt, vẻ đẹp của Người, rồi các Nghệ nhân dùng ngôn ngữ điêu khắc thổi hồn vào tác phẩm. Nhà thơ Giang Quân về thăm làng nghề Sơn Đồng tức cảnh viết ...

Gỗ mít vàng ươm trắng ngà lồng ngực
Miệng rộng tại to là ông Di Lạc
Gầy võ Tuyết Sơn đang trầm mặc điều chi
Tựa gối mai già Hiệp Tôn Giả nghĩ suy
Có phải các ông từ chùa Tây mới đến...

Từ thuở sơ khai, các nghệ nhân làng nghề Sơn Đồng đã tham gia thi công nhiều công trình văn hóa thành Đại La, nghề điêu khắc tạc Tượng và đồ thờ sơn son thếp vàng, bạc Sơn Đồng phát triển mạnh từ khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long cùng với sự phát triển văn hoá Tam giác đồng nguyên Đạo lão, đạo Thích, Đạo Khổng. Đến nay làng nghề có tới trên 4.000 lao động thường xuyên, thu hút khoảng hơn 1000 lao động ở các địa phương trong cả nước đến học nghề và làm các công đoạn phụ cho làng nghề, ước đạt thu nhập thủ công nghiệp 65% toàn xã, thị phần sản đồ thờ sơn son thếp vàng, bạc phục vụ mảng văn hóa tâm linh của làng phẩm tượng, nghề Sơn Đồng ước chiếm 60% trên toàn quốc, thích ứng với Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, đô thị hoá công nghiệp hoá nông thôn những lao động nhỡ nhàng có công ăn việc làm “ly nông chứ không ly hương”. Tạo việc làm góp phần thiết thực ổn định xã hội và xây dựng quê hương đất nước.

Ngày nay, đến Sơn Đồng vào bất kể thời gian nào trong năm, du khách cũng cảm thấy không khí náo nức như đang lạc bước vào một hội chợ xuân của nghệ thuật điêu khắc gỗ. Chỉ tính riêng tượng nhà Phật đã có bao nhiêu kiểu dáng đa dạng, phong phú được làm tại đây. Ngoài ra còn có vô số các tượng thành, thần, tổ, mẫu,... Rồi câu đối, hoành phi, án thờ, đồ thờ, hạc, ngựa, không biết bao nhiêu chủng loại mà kể, Tất cả đều ánh len màu vàng, tía, hồng, lộng lẫy, rực rỡ trong nắng nhạt nhiều xuân Mỗi sản phẩm vừa mang nét hài hoà, chuẩn mực của cái phổ biến, vừa khắc hoa sinh động những điểm nhấn tài hoa riêng biệt làm nên bản sắc không thể lẫn được của tượng gỗ và đồ thờ Sơn Đồng - một phong cách nghệ thuật đặc sắc, thuần chất của cái nôi văn hoá Mẹ Bắc Việt.

Nghề làm tượng thờ đòi hỏi phải có kỹ nghệ tinh xảo. Tượng thờ Sơn Đồng chuẩn được chế tác từ gỗ mít. Gỗ mít, ngoài chất liệu mềm, dai, dẻo, bền, đẹp, phải chăng ở đây còn có liên quan đến nguồn gốc của cây mít - Ba la mật, từ Tây Trúc theo các nhà sư đi truyền đạo đến đất này? Chùa nào ở đất Bắc chả trồng vài cây mít: vừa tạo cảnh vừa lấy bóng mát; lá dùng làm đế oản cúng Phật, dùng làm bồ kề cúng cháo chúng sinh; quả chín ngon ngọt; thân gỗ già làm tượng, ý nghĩa hơn người đời tưởng nhiều.

Khi thiết kế tượng, người thợ cả cần tính toán kỹ lưỡng làm sao cho khỏi lãng phí gỗ. Từ khâu đẽo phác thảo đến khi lượn những đường soi tinh xảo là cả một công phu tâm huyết, vắt tâm, vắt sức của người thợ - nghệ sỹ làng nghề.

Đến khâu sơn son thiếp bạc, thiếp vàng cũng vậy. Mỗi sản phẩm làm kỹ phải qua gần chục nước sơn. Sơn thế nào cho không gợn, sao cho nhẵn, cho đều, lông nhu kinh nghiệm. Rồi thợ thiếp cũng vậy, làm sao cho gọn, cho sắc nét, không được làm mất, mà còn phải tôn thêm độ tinh xảo của người thợ đục là cả một sự phối hợp nan giải. Không yêu nghề, không tài hoa làm sao có thể làm được điều đó!

Giờ đây về với làng nghề Sơn Đồng người ta sẽ thấy vẻ rộn ràng tấp nập của một làng nghề ăn nên làm ra. Sản phẩm của làng nghề này đã tạo được tiếng vang khắp cả nước, được nhiều người ưa chuộng, nhất là những bức tượng đặt trong các đền chùa, miếu mạo... Đâu đâu cũng thấy người ta ca ngợi nghệ nhân của Sơn Đồng - những bàn tay cần cù, đã cố gìn giữ nghề của cha ông để lại.

Sư cô Thích Giác Ấn
Ban Văn hóa trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Rượu ngô Mù Tráng Phìn: men say của núi rừng và bản sắc người Mông

Rượu ngô Mù Tráng Phìn: men say của núi rừng và bản sắc người Mông

LNV - Giữa núi non hùng vĩ của Si Ma Cai (Lào Cai), làng nghề nấu rượu ngô ở thôn Mù Tráng Phìn từ lâu đã trở thành điểm nhấn văn hóa – ẩm thực đặc sắc. Từ hạt ngô trên nương và nguồn nước suối tinh khiết, người Mông nơi đây đã tạo nên thứ rượu thơm nồng, đậm đà, không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn lưu giữ bản sắc truyền thống của cộng đồng.
Giữ hồn nghề truyền thống để tạo lực tăng trưởng mới

Giữ hồn nghề truyền thống để tạo lực tăng trưởng mới

LNV - Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, Phú Thọ hiện có hơn 110 làng nghề được công nhận, mang lại doanh thu hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm và tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Đây không chỉ là nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế nông thôn mà còn là động lực để địa phương bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh mới.
Về Tam Hải nghe gió kể chuyện làng chài

Về Tam Hải nghe gió kể chuyện làng chài

LNV- Giữa tháng Ba, chúng tôi có mặt tại xã đảo Tam Hải (TP. Đà Nẵng). Trưa nắng trải dài trên bãi cát vàng óng. Gió biển thổi nhẹ, luồn qua những rặng dừa xanh rì rào. Khung cảnh mở ra bình yên, mộc mạc. Một vùng đảo nhỏ nhưng mang vẻ đẹp riêng, khó trộn lẫn.
Làng sơn mài Tương Bình Hiệp: Tinh hoa thủ công giữa nhịp sống đô thị

Làng sơn mài Tương Bình Hiệp: Tinh hoa thủ công giữa nhịp sống đô thị

LNV - Từng được biết đến là một trong những cái nôi của nghề sơn mài Nam Bộ, làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp (phường Chánh Hiệp, TP Hồ Chí Minh) không chỉ lưu giữ những giá trị thủ công truyền thống lâu đời mà còn đang nỗ lực thích ứng với nhịp sống hiện đại để tiếp tục phát triển.
Làng dệt khăn choàng Long Khánh: Gìn giữ nghề truyền thống, mở hướng phát triển mới

Làng dệt khăn choàng Long Khánh: Gìn giữ nghề truyền thống, mở hướng phát triển mới

LNV - Làng nghề dệt khăn choàng Long Khánh (Đồng Tháp) đang từng bước khẳng định vị thế không chỉ bằng giá trị truyền thống lâu đời mà còn nhờ sự thích ứng linh hoạt với thị trường hiện đại. Từ những khung dệt thủ công, sản phẩm khăn choàng nơi đây đã vươn ra nhiều thị trường, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.
Bộ phim Ngược đường ngược nắng:  Câu chuyện  về hành trình giữ nghề hương truyền thống

Bộ phim Ngược đường ngược nắng: Câu chuyện về hành trình giữ nghề hương truyền thống

LNV - Bộ phim “Ngược đường ngược nắng” đang chiếu trên truyền hình VTV, khắc họa đời sống làng nghề hương, đan xen câu chuyện tình yêu và khát vọng gìn giữ, đổi mới nghề truyền thống trong bối cảnh hiện đại

Tin khác

Nghề ươm cây giống cây ăn quả và cây cảnh tại Hưng Yên

Nghề ươm cây giống cây ăn quả và cây cảnh tại Hưng Yên

LNV - Người dân các xã như Châu Ninh, Tiên Hưng (tỉnh Hưng Yên) tận dụng đất trống, kỹ thuật cao để phát triển nghề ươm cây, đáp ứng thị trường trong và ngoài nước.
Nón lá Trường Văn Mạch ngầm văn hóa và khát vọng sinh kế bền vững

Nón lá Trường Văn Mạch ngầm văn hóa và khát vọng sinh kế bền vững

Giữa dòng chảy hối hả của nhịp sống hiện đại, làng nghề nón lá Trường Giang (nay là xã Trường Văn, Thanh Hóa) vẫn bền bỉ tồn tại. Thu nhập không cao, nhưng nghề thủ công đang níu giữ sinh kế cho hàng nghìn lao động nông thôn
Nghệ An: Cá trích nướng Hải Châu thu hút du khách

Nghệ An: Cá trích nướng Hải Châu thu hút du khách

LNV - Món cá trích nướng tươi ngon, bình dân từ vùng biển Nghệ An trở thành điểm hẹn ẩm thực hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách và giới trẻ.
Những người giữ lửa làng nghề truyền thống giữa cơn lốc đô thị hóa

Những người giữ lửa làng nghề truyền thống giữa cơn lốc đô thị hóa

LNV - Các nghệ nhân làng nghề truyền thống như dệt lụa tơ sen, guốc mộc, đàn đàn, rèn… đang nỗ lực truyền nghề để giữ gìn nét đẹp văn hóa xưa cũ.
Thái Nguyên: Trao quyết định công nhận Làng nghề Chè Shan Tuyết

Thái Nguyên: Trao quyết định công nhận Làng nghề Chè Shan Tuyết

LNV- Ngày 26/3, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên tổ chức công bố quyết định công nhận làng nghề chè Shan tuyết Bằng Phúc, một trong những vùng thuộc"ngũ đại danh trà" của tỉnh
Vị thế của làng nghề  trong cấu trúc kinh tế hiện đại

Vị thế của làng nghề trong cấu trúc kinh tế hiện đại

Làng nghề truyền thống Việt Nam từ lâu đã không còn đơn thuần là không gian sản xuất hàng hóa mà là một “bảo tàng sống”, nơi lưu giữ tri thức bản địa và bản sắc dân tộc.
Bắc Ninh đón nhận Bằng UNESCO ghi danh nghề làm tranh dân gian Đông Hồ

Bắc Ninh đón nhận Bằng UNESCO ghi danh nghề làm tranh dân gian Đông Hồ

LNV - Tối 27/3, tại Quảng trường 3/2 (phường Bắc Giang), tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp; công bố Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản văn hóa thế giới; khai mạc Festival “Về miền di sản Bắc Ninh - 2026”
Hơi thở làng nghề giữa không gian Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Hơi thở làng nghề giữa không gian Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

LNV - Nằm trên phố Nguyễn Thái Học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam không chỉ trưng bày các tác phẩm mỹ thuật mà còn lưu giữ tinh hoa làng nghề truyền thống. Từ lớp sơn mài óng ánh đến những chi tiết điêu khắc gỗ tinh xảo, từng tác phẩm đều phản ánh kỹ thuật, sự khéo léo và tâm huyết của các nghệ nhân, mang đến cái nhìn đầy đủ về giá trị văn hóa và mỹ thuật Việt Nam.
Cao khô Vạn Linh - Làng nghề truyền thống mở lối làm du lịch

Cao khô Vạn Linh - Làng nghề truyền thống mở lối làm du lịch

LNV - Từ một làng nghề truyền thống của đồng bào Nùng, Vạn Linh (Lạng Sơn) đang từng bước chuyển mình khi đưa sản xuất cao khô gắn với phát triển du lịch trải nghiệm. Hướng đi này không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn mở ra mô hình phát triển mới, kết nối làng nghề với không gian Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.
Ra mắt ban vận động CLB Doanh Nhân Họ Nguyễn Tp. Hồ Chí Minh

Ra mắt ban vận động CLB Doanh Nhân Họ Nguyễn Tp. Hồ Chí Minh

LNV - Sáng ngày 31/03/2026, trong không gian trang trọng tại Bảo tàng – Siêu thị Đá quý Thiên Vạn (TP.HCM), Ban vận động thành lập Câu lạc bộ (CLB) Doanh nhân họ Nguyễn TP. Hồ Chí Minh đã chính thức ra mắt.
Quốc tửu Bàu Đá: Từ làng nghề trăm tuổi đến sản phẩm OCOP trứ danh

Quốc tửu Bàu Đá: Từ làng nghề trăm tuổi đến sản phẩm OCOP trứ danh

LNV - Giữa núi rừng An Nhơn Tây, nghề nấu rượu Bàu Đá vẫn âm thầm lưu giữ bí quyết thủ công truyền đời. Không máy móc hiện đại, không sản xuất đại trà, từng giọt rượu đều được hun đúc từ nguồn nước tinh khiết, men lá gia truyền và ngọn lửa liu riu suốt nhiều giờ liền. Chính sự tỉ mỉ này đã tạo nên hương vị trứ danh, làm say lòng người suốt hơn 200 năm qua.
Lễ hội làng gốm Bát Tràng tiếp nối sứ mệnh gìn giữ văn hóa làng cổ

Lễ hội làng gốm Bát Tràng tiếp nối sứ mệnh gìn giữ văn hóa làng cổ

LNV - Sáng 31/3, tiếng trống khai mạc Lễ hội truyền thống làng gốm Bát Tràng chính thức vang lên, mở ra không gian mang đậm dấu ấn văn hóa di sản dân tộc

'Xanh hóa' làng nghề

LNV - Theo thời gian, làng nghề Thủ đô không chỉ đơn thuần là danh lam thắng cảnh và không gian văn hóa đặc sắc, mà đang dần trở thành một trong những mũi nhọn kinh tế, góp phần gia tăng sức hút cho Hà Nội.
Tơ sen nâng tầm sản phẩm làng nghề dệt lụa Phùng Xá

Tơ sen nâng tầm sản phẩm làng nghề dệt lụa Phùng Xá

LNV - Nằm kế bên dòng sông Đáy, làng nghề dệt lụa Phùng Xá (xã Hồng Sơn, Hà Nội) vẫn miệt mài giữ nhịp thoi đưa hàng trăm năm qua. Từ những sản phẩm dệt truyền thống, bằng sự sáng tạo và khéo léo, nghệ nhân Phan Thị Thuận đã làm mới sản phẩm truyền thống với lụa tơ sen
Phù Yên: Làng mộc chuyển mình nâng tầm giá trị kinh tế

Phù Yên: Làng mộc chuyển mình nâng tầm giá trị kinh tế

Làng mộc Phù Yên (xã Phú Nghĩa, TP. Hà Nội) đang từng bước đẩy mạnh cơ giới hóa, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, qua đó nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Đồng thời, các cơ sở sản xuất trong làng mở rộng thị trường tiêu thụ, đa dạng hóa mẫu mã, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, hướng tới phát triển bền vững và khẳng định vị thế của làng nghề mộc truyền thống Phù Yên trong bối cảnh mới.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Cồn Cỏ: Đánh thức “viên ngọc xanh” theo hướng kinh tế biển bền vững

Cồn Cỏ: Đánh thức “viên ngọc xanh” theo hướng kinh tế biển bền vững

Đặc khu Cồn Cỏ - Cơ hội, tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn biển, sinh kế bền vững, OCOP miền biển.
Rượu ngô Mù Tráng Phìn: men say của núi rừng và bản sắc người Mông

Rượu ngô Mù Tráng Phìn: men say của núi rừng và bản sắc người Mông

LNV - Giữa núi non hùng vĩ của Si Ma Cai (Lào Cai), làng nghề nấu rượu ngô ở thôn Mù Tráng Phìn từ lâu đã trở thành điểm nhấn văn hóa – ẩm thực đặc sắc. Từ hạt ngô trên nương và nguồn nước suối tinh khiết, người Mông nơi đây đã tạo nên thứ rượu thơm nồng,
Phát huy nội lực cộng đồng Đa Nhinh 1 chung sức xây dựng nông thôn mới

Phát huy nội lực cộng đồng Đa Nhinh 1 chung sức xây dựng nông thôn mới

LNV - Không trông chờ, ỷ lại, người dân thôn Đa Nhinh 1 (xã Đam Rông 4, Lâm Đồng) đã chủ động góp công, góp của sửa chữa kênh mương, khắc phục hạ tầng thiết yếu, bảo đảm sản xuất. Từ những việc làm cụ thể, tinh thần chủ thể của người dân đang trở thành nề
Giữ hồn nghề truyền thống để tạo lực tăng trưởng mới

Giữ hồn nghề truyền thống để tạo lực tăng trưởng mới

LNV - Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, Phú Thọ hiện có hơn 110 làng nghề được công nhận, mang lại doanh thu hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm và tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Đây không chỉ là nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế nông thôn
Về Tam Hải nghe gió kể chuyện làng chài

Về Tam Hải nghe gió kể chuyện làng chài

LNV- Giữa tháng Ba, chúng tôi có mặt tại xã đảo Tam Hải (TP. Đà Nẵng). Trưa nắng trải dài trên bãi cát vàng óng. Gió biển thổi nhẹ, luồn qua những rặng dừa xanh rì rào. Khung cảnh mở ra bình yên, mộc mạc. Một vùng đảo nhỏ nhưng mang vẻ đẹp riêng, khó trộn lẫn.
Giao diện di động