Hà Nội: 25°C Hà Nội
Đà Nẵng: 26°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 26°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 25°C Thừa Thiên Huế

Gốm cổ Quảng Đức di sản văn hóa tiêu biểu

LNV - Gốm cổ Quảng Đức là một trong những di sản văn hóa tiêu biểu của tỉnh Phú Yên. Trong suốt hơn 400 năm chiều dài lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Phú Yên thì gốm cổ Quảng Đức đã có tuổi gốm trên 300 năm, xứng đáng được gọi là “báu vật” của miền đất Phú Yên.
Gốm cổ Quảng Đức được xem là “báu vật”

Làng Quảng Đức nay thuộc xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Đây là một ngôi làng tiếp giáp với làng Ngân Sơn, gần tỉnh lỵ Phú Yên xưa nên có nhiều làng nghề phát triển, nhưng nổi tiếng nhất là gốm Quảng Đức và lụa, lãnh Ngân Sơn.

Trong làng Quảng Đức bây giờ vẫn còn ngôi miếu thờ có đắp nổi 4 chữ Hán “Quang Điếm, Lưu, Phước”, tưởng niệm tiền nhân có công lao lập làng, hình thành nên nghề làm gốm với hai câu đối: Đức thừa tiên tổ thiên niên vĩnh; Phước ấm nhi tồn bách thế vinh.

Các nhà nghiên cứu, sưu tập chiêm ngưỡng hiện vật gốm cổ Quảng Đức
Các nhà nghiên cứu, sưu tập chiêm ngưỡng hiện vật gốm cổ Quảng Đức

Cũng từ Quảng Đức theo sông Cái về thượng nguồn sẽ đi vào vùng đất rộng lớn phía Tây Phú Yên, vùng Tây Sơn thượng đạo và một số tỉnh Tây Nguyên. Sự thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thủy góp phần đưa sản phẩm gốm Quảng Đức đến nhiều vùng miền khác nhau để tiêu thụ, đồng thời cũng là nhân tố thúc đẩy nghề làm gốm ở Quảng Đức xưa có điều kiện phát triển rực rỡ một thời.

Tháng 1 và tháng 3 năm 2003, các nhà nghiên cứu, sưu tầm cổ vật Trần Đình Sơn, Nguyễn Đình Chúc, Trần Thanh Hưng thực hiện hai chuyến điền dã về làng gốm Quảng Đức để chuẩn bị tư liệu cho đề tài nghiên cứu về làng nghề và Phật giáo ở Phú Yên. Dịp này các nhà nghiên cứu gặp gỡ 2 nghệ nhân cuối cùng biết về gốm cổ Quảng Đức là cụ Nguyễn Dần và cụ Nguyễn Thịnh.

Theo các cụ thì làng gốm Quảng Đức có lịch sử trên 300 năm hình thành và phát triển, khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Khai sinh ra dòng gốm này chính là dòng họ Nguyễn ở Bình Định mang nghề vào Phú Yên lập nghiệp.

Theo cụ Nguyễn Thịnh, gốm Quảng Đức được làm bằng đất sét ở An Định, sử dụng sò huyết đầm Ô Loan trong quá trình nung như một “phụ gia”, đốt chủ yếu bằng củi mằng lăng trong vùng và chở từ Kỳ Lộ thuộc huyện Đồng Xuân xuống bằng đường sông Cái. Gốm Quảng Đức là sự kết hợp của đất và lửa nhưng được làm bằng những nguyên liệu và kỹ thuật nung độc đáo hiếm thấy của di sản văn hóa tiêu biểu trên vùng đất Phú Yên.

Các nhà nghiên cứu, sưu tập chiêm ngưỡng hiện vật gốm cổ Quảng Đức
Các nhà nghiên cứu, sưu tập chiêm ngưỡng hiện vật gốm cổ Quảng Đức

Các nghệ nhân làm gốm cổ Quảng Đức cho biết, củi nung gốm được mua ở Xuân Quang, Xuân Phước huyện miền núi Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, chuyển về bằng cách làm bè cho xuôi dòng sông Cái. Quanh núi A Mang ven làng gốm cổ Quảng Đức xưa có khá nhiều củi mằng lăng, nhà thờ mang tên Mằng Lăng cách không xa làng gốm cổ Quảng Đức cũng đặt tên theo đặc trưng cây cối của vùng này. Gốm cổ Quảng Đức đã và đang khẳng định giá trị của nó như một thương hiệu của vùng đất Phú Yên xưa trên con đường giao thương với các nước trong khu vực.

Bảo tồn di sản văn hóa gắn với du lịch

Gốm Quảng Đức là một trong những di sản văn hóa tiêu biểu, có tuổi gốm trên 300 năm so với quá trình hình thành, phát triển vùng đất Phú Yên hơn 400 năm. Hiện nay, những nghệ nhân cuối cùng biết về kỹ thuật chế tác gốm cổ Quảng Đức không còn nữa, làng gốm Quảng Đức bên dòng sông Ngân Sơn, huyện Tuy An cũng chỉ còn vài gia đình làm nghề với nguyên liệu, kỹ thuật chế tác hiện đại, nhưng khâu tiêu thụ rất khó khăn nên nhiều gia đình tiếp tục bỏ nghề.

Phòng trưng bày gốm cổ Quảng Đức tại số 6 đường An Dương Vương, phường 9, thành phố Tuy Hòa.
Phòng trưng bày gốm cổ Quảng Đức tại số 6 đường An Dương Vương, phường 9, thành phố Tuy Hòa.

Phú Yên là một trong những tỉnh ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên sớm thành lập CLB UNESCO Nghiên cứu - Bảo tồn cổ vật, trực thuộc Hiệp hội UNESCO Việt Nam. Phòng trưng bày gốm cổ Quảng Đức tại số 6 đường An Dương Vương, phường 9, thành phố Tuy Hòa là kết quả của cuộc hội ngộ giữa những người đam mê di sản văn hóa Phú Yên. Nơi đây, hơn 200 hiện vật gốm Quảng Đức (tráng men và gốm đất nung) gồm các kiểu chóe lớn nhỏ, vò, hũ, bình vôi, nậm rượu, thống, chác, chậu hoa, khuôn in được trưng bày trong không gian trang nhã. Bên cạnh đó là một số hiện vật thuộc văn hóa Chăm Pa, gốm Việt, một số hiện vật độc bản có giá trị lịch sử rất đặc biệt, liên quan đến vùng đất và con người Phú Yên.

Nhà nghiên cứu cổ vật Trần Thanh Hưng - Chủ nhiệm CLB UNESCO Nghiên cứu - Bảo tồn cổ vật Phú Yên chia sẻ: Gốm Quảng Đức có sự tiếp nối dòng gốm Gò Sành (Bình Định) nổi tiếng dưới vương triều Vijaya Champa, vùng đất Bình Định ngày nay. Bảo tồn theo cách xây dựng Quảng Ðức thành một địa chỉ du lịch, nằm trong quần thể du lịch của địa phương gồm những di tích và thắng cảnh được xếp hạng quốc gia rất gần nhau như: Thành cổ An Thổ (nơi sinh đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú), đầm Ô Loan, Gành Ðá Dĩa, chùa Ðá Trắng, mộ và đền thờ chí sĩ Lê Thành Phương, địa đạo Gò Thì Thùng.

Hơn 200 hiện vật gốm cổ Quảng Đức được trưng bày tại Phòng trưng bày gốm cổ Quảng Đức
Hơn 200 hiện vật gốm cổ Quảng Đức được trưng bày tại Phòng trưng bày gốm cổ Quảng Đức

Ông Trần Thanh Hưng cho biết: Du khách đến làng gốm cổ Quảng Đức, các nghệ nhân ngày nay vẫn có thể sản xuất một số mặt hàng lưu niệm để phục vụ cho hoạt động du lịch, tăng thêm thu nhập cho người dân làng nghề. Nghề cũ đã lụi tàn, nhưng hào quang dĩ vãng thì vĩnh viễn không phai nhạt. Đúng như ý

nghĩa của câu đối cổ “Phúc ấm của hậu thế được bồi đắp bởi đức sáng tổ tiên” đã tạo nên một dòng gốm độc đáo, xứng đáng là “báu vật” của miền đất Phú Yên. Chúng tôi mong muốn một ngày nào đó gốm cổ Quảng Đức sẽ được

nghiên cứu một cách đầy đủ hơn, góp phần vào công tác bảo tồn vốn văn hóa trên vùng đất Phú Yên hơn 400 năm hình thành và phát triển.

Bình Dương

Tin liên quan

Gìn giữ nghề mây tre đan truyền thống

Gìn giữ nghề mây tre đan truyền thống

LNV - Từ bao đời nay, hình ảnh cây tre đã gắn liền với làng quê Việt Nam, đặc biệt ở các vùng quê phía Đông của Đắk Lắk. Những lũy tre xanh không chỉ là biểu tượng văn hóa mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho các làng nghề thủ công truyền thống, trong đó có làng nghề mây tre đan.
Di sản gốm Chăm Bàu Trúc: Bảo tồn để phát triển

Di sản gốm Chăm Bàu Trúc: Bảo tồn để phát triển

LNV - Nghệ thuật làm gốm của người Chăm ở làng Bàu Trúc (Ninh Thuận) đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào năm 2022. Đây không chỉ là niềm tự hào của cộng đồng Chăm mà còn là động lực để các cấp chính quyền, nghệ nhân và người dân địa phương cùng chung tay bảo tồn, phát huy giá trị di sản, từng bước đưa gốm Bàu Trúc vươn ra thị trường và trở thành điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo của vùng đất nắng gió.
Lạng Sơn: Biến di sản thành tài sản

Lạng Sơn: Biến di sản thành tài sản

LNV - Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa không chỉ tạo ra lợi ích kinh tế mà còn là "chìa khóa" cho phát triển du lịch bền vững. Với kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú, những năm qua, ngành du lịch tỉnh đã và đang nỗ lực biến những giá trị văn hoá truyền thống này thành tài nguyên quý giá. Qua đó, không chỉ thu hút du khách mà còn góp phần xây dựng thương hiệu cho du lịch Xứ Lạng.

Tin mới hơn

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Tin khác

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Vượt rào cản EVFTA: Minh bạch pháp lý và quy tắc xuất xứ cho sản phẩm mây tre đan xuất khẩu

Vượt rào cản EVFTA: Minh bạch pháp lý và quy tắc xuất xứ cho sản phẩm mây tre đan xuất khẩu

Thông tư số 14/2026/TT-BCT về quy tắc xuất xứ trong EVFTA ra đời đúng lúc hiệp định bước sang năm thứ bảy thực thi, khi EU hoàn tất lộ trình mở cửa cho hàng hóa Việt Nam. Từ tầm vóc của một hiệp định thế hệ mới đến cơ hội cụ thể của các làng nghề mây tre
Sản phẩm OCOP Tây Ninh đến Hội chợ Làng nghề Việt Nam

Sản phẩm OCOP Tây Ninh đến Hội chợ Làng nghề Việt Nam

Tỉnh Tây Ninh mang sản phẩm OCOP đến Hội chợ Làng nghề Việt Nam 2026.
Khuyến công "tiếp sức" cho miến dong Bình Liêu vươn xa

Khuyến công "tiếp sức" cho miến dong Bình Liêu vươn xa

Miến dong Bình Liêu từ lâu đã nổi tiếng với hương vị thơm ngon, dai dẻo đặc trưng của vùng cao biên giới Quảng Ninh
Nghiệm thu Đề án khuyến công tại Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc

Nghiệm thu Đề án khuyến công tại Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc

Đề án “Hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn có sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại cơ sở năm 2026”
Đông Khê (Cao Bằng): Năm chị em giữ gìn văn hoá dân tộc qua làn điệu dân ca

Đông Khê (Cao Bằng): Năm chị em giữ gìn văn hoá dân tộc qua làn điệu dân ca

Năm chị em truyền lại những giá trị văn hóa dân tộc như Then, lượn Slương, hát Sli và múa chầu cho thế hệ trẻ tại Đông Khê, tỉnh Cao Bằng
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động