Hà Nội: 26°C Hà Nội
Đà Nẵng: 27°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 30°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Độc đáo tranh làng Sình xứ Huế

LNV - Từng có một thời thịnh hành khắp dải đất miền Trung, nói đến dòng tranh dân gian làm nên một phần bản sắc văn hóa Việt không thể không nhắc tới tranh Làng Sình xứ Huế. Trải qua nhiều thăng trầm của thời cuộc, tranh dân gian làng Sình, huyện Phú Vang (Thừa Thiên - Huế) vẫn chứng tỏ được sức sống bền bỉ của một nét văn hóa độc đáo đất cố đô.
Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước hiện được cho là người cuối cùng biết chế tác và khắc nét tranh đúng theo lối làm tranh dân gian làng Sình cổ.
Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước hiện được cho là người cuối cùng biết chế tác và khắc nét tranh đúng theo lối làm tranh dân gian làng Sình cổ.

“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Dân gian có câu hò "Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá, thuyền từ Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình". Cách TP. Huế khoảng 10 km² về phía đông Bắc, làng Sình được biết tới là một trong những địa danh có bề dày lịch sử lâu đời ở mảnh đất cố đô Huế. Là làng thuần nông, làng Sình có những đặc điểm văn hóa đa dạng, độc đáo như có chùa thờ Phật và nhà thờ Thiên chúa, có cộng đồng một số dân tộc sống xen kẽ, có lễ hội vật truyền thống đã đi vào ca dao:

“Dù ai đi đó đi đây

Ngày mười hội vật nhớ quay về Sình”.

Theo thời gian, làng Sình vẫn bảo tồn được những giá trị văn hóa đặc trưng nhất, nhộn nhịp với kẻ tô, người vẽ, giấy tranh phơi phủ kín lối vào. Làng Sình có thời từng được gọi là làng Hồ Điệp, cũng là từ một công đoạn của nghề làm tranh truyền thống nức tiếng ("hồ điệp" có nghĩa là dùng bột điệp quấy với hồ rồi phết lên giấy dó).

Tranh làng Sình được biết tới là một trong những nhân chứng sống có bề dày lịch sử lâu đời ở xứ kinh kỳ
Tranh làng Sình được biết tới là một trong những nhân chứng sống có bề dày lịch sử lâu đời ở xứ kinh kỳ.

Tranh dân gian làng Sình tồn tại đã hơn 400 năm chứa vẻ đẹp văn hóa làng xã xưa. Thuở đầu, khi mới xuất hiện, tranh thường được sản xuất để phục vụ nhu cầu thờ cúng, tín ngưỡng, cầu an lành cho một năm mưa thuận gió hòa. Trải qua nhiều thế kỷ, chứng kiến bao thay đổi của mảnh đất cố đô. Tranh làng Sình ngày nay còn được sử dụng rộng rãi hơn để chơi Tết, quà biếu tặng, trang trí ở nhiều lễ hội truyền thống.

“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”, có khoảng 50 đề tài được thể hiện trong tranh làng Sình, chia thành ba nhóm chủ đề chính là tranh nhân vật, tranh đồ vật và tranh súc vật. Trong đó, tranh nhân vật gồm hai bộ thế mạng và bổn mạng, chủ yếu là tranh tượng bà (tượng đế, tượng chùa, tượng ngang) thường dùng dán trên bàn thờ quanh năm. Ngoài ra còn có tranh con ảnh (vẽ hình đàn ông, đàn bà), tranh ông Điệu, ông Đốc và Tờ bếp dùng để hóa như hóa vàng. Tranh đồ vật chủ yếu vẽ hình áo quần, tiền, dụng cụ... để đốt cho người cõi âm. Tranh súc vật gồm một bộ gia súc, gia cầm và riêng một bộ 12 con giáp. Người ta cúng tranh để cầu cho người yên, vật thịnh, phụ nữ sinh nở được mẹ tròn con vuông, trẻ em chóng lớn, người ốm chóng khỏi...

Độc đáo tranh làng Sình xứ Huế
“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.

Tranh làng Sình được làm hoàn toàn bằng thủ công. Để làm ra một bức tranh hoàn chỉnh phải trải qua đủ 7 công đoạn từ xén giấy, quét điệp, in tranh trên mộc bản, phơi tranh, pha màu, tô màu, cuối cùng là điểm nhãn. Giấy dó được quét điệp cho dai, giữ màu. Vỏ điệp được nhập từ phá Tam Giang rồi người làm tranh phải tỉ mẩn ngồi giã, nghiền thật nhỏ, trộn với lớp bột gạo thành một lớp mịn quét đều lên giấy.

Mỗi bức tranh là một khuôn gỗ hoàn chỉnh, người làm tranh dùng mực màu đen phết lên bản mộc, rồi dùng giấy in thành một bức tranh thô. Đem phơi tranh cho khô mực, rồi dùng các loại màu tô lên tranh.

Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, gam màu sử dụng trên Tranh làng Sình gần giống với gam màu được sử dụng trên tranh pháp lam tại các kiến trúc kinh thành Huế: hoà sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hoả hoàng, phí thuỷ với hổ phách. Tranh làng Sình sau khi hoàn thành sẽ lấp lánh bởi vỏ điệp, nền nã bởi chất màu thô mộc, quyến rũ và quan trọng hơn cả là khi bức tranh đến tay người sử dụng đã ẩn chứa một cái gì đo thiêng liêng của cõi tâm linh.

Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Du khách đến từ Hà Nội đứng ngắm nghía những bức tranh thật kĩ, chạm tay vào từng chi tiết phải thốt lên rằng, tôi như được ngắm nhìn cả một nền văn hóa đầy đủ, vẹn tròn nhất về đất và người miền Trung thông qua những bức tranh. Tranh mặc dù có bố cục không cầu kì, nhiều chi tiết nhưng rất sống động, sắc nét. Nét độc đáo là ở màu sắc, mỗi bức tranh mang một nét riêng, gắn liền với cảm xúc của nghệ nhân trong quá trình làm tranh. Màu sắc tươi sáng cộng với vẻ thô mộc gần gũi đã làm nên vẻ đẹp của dòng tranh dân gian đất Huế.

Người “hồi sinh” tranh làng nghề độc đáo đất cố đô

Sự tồn tại của làng nghề Sình trải qua nhiều giai đoạn biến đổi khác nhau. Thời điểm trước năm 1945, lúc ấy nhà ai cũng làm tranh. Rồi từ những năm 1970-1975, nghề bắt đầu lụi tàn do chiến tranh. Sau năm 1975, tình hình kinh tế đất nước khó khăn, vẽ tranh bị cho là lãng phí.

Chẳng mấy ai dùng tranh làng Sình nữa. Thậm chí, nhiều người hò nhau đốt tranh, phá bỏ bản khắc. Không chịu để mất nghề, ông Kỳ Hữu Phước đã bọc ni-lông tất cả những bản khắc quý rồi chôn giấu kỹ. Sau này, ông mới đào những bản khắc lên, rồi ngày ngày ngồi vẽ, kiên trì đi đến từng nhà mời họ mua tranh.

Đến nửa cuối thập niên 90 của thế kỉ trước, đất nước đổi mới, mở cửa, có chủ trương, chính sách khôi phục các làng nghề truyền thống, trong đó có tranh làng Sình. Lúc đó, nghề làm tranh chỉ có ông Phước nắm rõ.

Mộc bản hình 12 con giáp được khắc thủ công
Mộc bản hình 12 con giáp được khắc thủ công.

“Một cánh én nhỏ chẳng làm nên mùa xuân”, nghĩ vậy, ông vận động người dân cùng làm. Những gì ông biết, ông học được, ông truyền lại hết chẳng giữ lại gì. Ông còn làm khuôn để bà con mượn dùng, thậm chí là tặng luôn.

Ông Phước chia sẻ, chỉ mình tôi làm thôi thì đâu phải làng nghề, cha ông mình làm rồi tới mình thì mình còn muốn đời con, đời cháu của mình làm mãi, làm mãi. Làm sao để sau này, chúng không những làm nghề để bảo tồn cái gọi là bản sắc của dân tộc mà còn phải “sống khỏe” bằng nghề. Vậy nên phải phổ biến để càng nhiều người biết làm càng tốt.

Nghệ nhân già đau đáu khi làng tranh đã được khôi phục nhưng vẫn chỉ có mình ông làm được các bản khắc gỗ. Vì vậy, ông đã cất công tìm học trò để truyền nghề khắc bản mộc.

Để giữ gìn, bảo tồn những giá trị được xem là “hồn cốt” của làng quê, cả năm người con cả trai lẫn gái của ông Phước đều được ông truyền cảm hứng để theo nghề. Ông Kỳ Hữu Phước được chính thức công nhận là Nghệ nhân dân gian vào năm 2011 và đạt nhiều giải thưởng, chứng nhận khác, trong lẫn ngoài tỉnh. Sản phẩm của ông được trưng bày tại nhiều hội chợ, triển lãm và các kỳ Festival Huế.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đưa tranh làng Sình đến nhiều nơi và đã được cấp nhiều giấy chứng nhận
Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đưa tranh làng Sình đến nhiều nơi và đã được cấp nhiều giấy chứng nhận.

Cùng với ông Phước, làng Sình vẫn cố gắng truyền nghề, nhân cấy nghề cho các thế hệ trẻ. Chính quyền địa phương tạo điều kiện bằng cách mở lớp tập huấn nông dân làm du lịch, triển khai mô hình du lịch sinh thái đi thuyền trên sông Hương kết hợp tham quan làng nghề. Vào mùa cao điểm du lịch, mỗi ngày làng Sình có thể đón năm đến bảy đoàn khách tham quan, chưa tính du khách đi nhóm lẻ.

Là một người thích tìm hiểu về văn hoá Việt Nam, đặc biệt là các làng nghề trên đất nước Việt Nam. Bạn Võ Trung Thiên chia sẽ, đến tham quan tranh làng Sình, mình được tham quan, hiểu về quy trình sản xuất tranh và tự tay vẽ một bức tranh riêng dưới sự hưỡng dẫn của các nghệ nhân. Đó là một trải nghiệm độc đáo và mang nhiều cảm xúc, trải nghiệm mà trước đây mình chưa từng có được.

Tranh làng Sình mang nhiều dấu ấn đặc trưng, giá trị văn hóa, lịch sử của cộng đồng làng xã. Những bức tranh không đơn thuần mang yếu tố tâm linh, phản ánh tín ngưỡng cổ xưa của người Việt mà còn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, khát vọng về cuộc sống bình yên, tốt đẹp của con người. Vì vậy, bảo tồn và phát huy tranh làng Sình là bảo tồn trọn vẹn cả một nền văn hóa lâu đời.

Quỳnh Thơ - Hà Phượng

Tin liên quan

Tranh Hàng Trống từ truyền thống tới đương đại

Tranh Hàng Trống từ truyền thống tới đương đại

LNV - Tranh Hàng Trống là một dòng tranh dân gian được làm chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống của Hà Nội xưa. Hội tụ những nét đặc trưng, bản sắc của người Hà thành từ màu sắc đến họa tiết, tranh Hàng Trống đã được các nghệ sĩ đương đại ứng dụng nhiều trong thiết kế, hội họa, thời trang...
Chợ tranh Tết làng Đông Hồ

Chợ tranh Tết làng Đông Hồ

LNV - Chợ tranh tết làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) tồn tại đến giữa những năm 40 của thế kỷ trước thì lụi tàn, nhưng âm hưởng của nó đến nay vẫn được nhắc đến. Và những năm gần đây, người dân mua tranh Đông Hồ dịp Tết đã ngày một nhiều hơn. Để tái hiện lại ký ức một thời huy hoàng, rực rỡ về phiên chợ đặc sắc ngày xưa. Vừa qua Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh đã phục dựng phiên chợ tranh truyền thống tại Trung tâm Bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ.

Tin mới hơn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

LNV - Sáng 30/9, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện trọng điểm gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.
Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

LNV - Ngài Nguyễn Đại Năng làm quan phụng sự trong triều nhà Hồ (1400-1407).
Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

Hà Nội: 397 sản phẩm tranh tài tại Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ 2026

LNV - Với 397 sản phẩm, bộ sản phẩm của 185 tổ chức, cá nhân và nghệ nhân tham gia, Cuộc thi Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới Hà Nội năm 2026 đang cho thấy sức sáng tạo và khả năng thích ứng ngày càng rõ nét của các cơ sở, nghệ nhân làng nghề Thủ đô. Từ những chất liệu quen thuộc, nhiều mẫu sản phẩm đã được làm mới bằng tư duy thiết kế hiện đại, hướng tới thị trường và phát triển bền vững.
Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

Xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội phát triển du lịch nông nghiệp

LNV - Nhiều sản phẩm OCOP có chất lượng, mang đậm bản sắc địa phương nhưng chưa được khai thác hiệu quả trong hoạt động du lịch. Kết nối không gian sản xuất với trải nghiệm, dịch vụ và thị trường được xem là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng đầu ra và tạo sinh kế bền vững cho người dân nông thôn.
Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ

Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc Tôn vinh di sản và nghệ nhân làng cổ

LNV - Ngày 6/10, UBND xã Ninh Phước (tỉnh Khánh Hòa) cho biết công tác chuẩn bị cho Lễ hội gốm Chăm Bàu Trúc lần thứ I năm 2026 đang được gấp rút hoàn thiện. Sự kiện được tổ chức với quy mô cấp xã mở rộng, có sự phối hợp và tham gia của nhiều địa phương lân cận.
Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch

Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22: Kết nối tinh hoa nghề Việt với thị trường và du lịch

Tối 8/10, tại Hà Nội, Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026 chính thức khai mạc, mở đầu chuỗi hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và tôn vinh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiêu biểu. Sự kiện tiếp tục khẳng định vai trò của hội chợ làng nghề trong việc đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với thị trường, người tiêu dùng và du khách.

Tin khác

Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề

Lan tỏa tinh hoa thủ công mỹ nghệ, nâng tầm sản phẩm làng nghề

Hội chợ Làng nghề Việt Nam năm 2026 là dịp giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm làng nghề truyền thống, sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và nhiều sản phẩm đặc trưng vùng miền.
Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại

Khảm trai Chuôn Ngọ: Giữ hồn nghề truyền thống giữa nhịp sống hiện đại

LNV - Giữa những đổi thay của đời sống hiện đại, nghề khảm trai ở làng Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, TP. Hà Nội) vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, kết tinh trong từng đường nét chạm khắc tinh xảo. Tuy nhiên, trước sức ép của thị trường và nguy cơ thiếu hụt lao động kế cận, làng nghề đang đứng trước yêu cầu vừa bảo tồn những giá trị truyền thống, vừa đổi mới sản phẩm, mở rộng thị trường để tạo động lực phát triển bền vững.
Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

Hanoi Giftshow 2026: Mở rộng không gian giao thương, nâng tầm giá trị hàng thủ công mỹ nghệ

LNV - Sáng 8/10, tại Cung Triển lãm Kiến trúc, Quy hoạch xây dựng Quốc gia, Hội chợ quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội năm 2026 (Hanoi Giftshow 2026) chính thức khai mạc. Với quy mô 500 gian hàng của 230 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất đến từ Hà Nội và 15 tỉnh, thành phố, Hội chợ tiếp tục khẳng định vai trò là điểm kết nối quan trọng giữa nghệ nhân, làng nghề, doanh nghiệp với thị trường trong nước và quốc tế.
Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây

Làng nghề Xuân Lai Giữ dấu ấn từ kỹ thuật hun tre nguyên cây

LNV - Trải qua hơn 200 năm hình thành và phát triển, làng nghề tre trúc Xuân Lai, xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh vẫn gìn giữ kỹ thuật hun tre nguyên cây như một bí quyết riêng. Từ ngọn lửa, làn khói và kinh nghiệm của người thợ, những thân tre xanh được khoác lên sắc nâu trầm đặc trưng, tạo nên dấu ấn khó trộn lẫn của sản phẩm Xuân Lai trên thị trường.
Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống

Nón lá Việt Nam Biểu tượng văn hóa và hành trình giữ nghề truyền thống

LNV - Nghề làm nón lá truyền thống không chỉ là nghề mưu sinh mà còn là biểu tượng của nét đẹp văn hóa, đang đổi mới để phù hợp với thời đại.
Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

Tranh Khúc: Giữ hồn nghề, mở lối phát triển

LNV - Từ những nếp nhà ven sông Hồng, nghề làm bánh chưng ở Tranh Khúc, xã Nam Phù, Hà Nội, đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Hôm nay, trước yêu cầu mới của thị trường, làng nghề không chỉ cần giữ hương vị truyền thống mà còn phải nâng chất lượng, xây dựng thương hiệu, bảo tồn không gian sản xuất và từng bước mở hướng phát triển gắn với du lịch trải nghiệm.
Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

Người giữ "hồn" mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer

LNV - Gần 30 năm qua, ngôi nhà của Nghệ nhân ưu tú Kim Mạnh tại ấp Kos Sla, xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long luôn rộn ràng với công việc chế tác mão và mặt nạ truyền thống của đồng bào Khmer
Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

Nón lá Đan Du giữa dòng chảy thời gian

LNV - Từ những chiếc lá lụi đơn sơ, những thanh tre chẻ nhỏ dẻo dai, qua đôi bàn tay khéo léo của người dân thôn Đan Du (xã Kỳ Khang, tỉnh Hà Tĩnh), những chiếc nón lá mộc mạc, thanh thoát đã được tạo nên. Trải qua bao thăng trầm và đổi thay của thời đại, người dân Đan Du vẫn ngày đêm cần mẫn bên khung nón, vành tre và đường kim quen thuộc. Từ nếp nhà nhỏ bình dị, mỗi chiếc nón ra đời không chỉ che mưa che nắng cho biết bao người, mà còn mang theo vẻ đẹp duyên dáng, tình yêu sâu nặng và niềm tự hào về một làng nghề truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới  từ thị trường và trải nghiệm

Làng nghề truyền thống tìm sức sống mới từ thị trường và trải nghiệm

LNV - Trước sức ép cạnh tranh và sự thay đổi nhanh của thị hiếu tiêu dùng, nhiều làng nghề truyền thống đang chủ động tìm hướng thích ứng bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, gắn sản xuất với du lịch trải nghiệm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Thực tế tại Đà Nẵng và TP Huế cho thấy, khi nghề truyền thống được đặt trong một không gian phát triển mới, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở công năng sử dụng mà còn được bồi đắp từ câu chuyện văn hóa, trải nghiệm và bản sắc của mỗi vùng đất.
Tinh hoa làng nghề Hà Nội  Tinh hoa làng nghề Hà Nội   trong dòng chảy sáng tạo

Tinh hoa làng nghề Hà Nội Tinh hoa làng nghề Hà Nội trong dòng chảy sáng tạo

LNV - Gần 300 sản phẩm, bộ sản phẩm của 183 tác giả đã hội tụ tại Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026. Từ những kỹ thuật được gìn giữ qua nhiều thế hệ đến tư duy thiết kế, thương mại và hội nhập mới, hội thi cho thấy sức sống của làng nghề Thủ đô đang được tiếp nối bằng cả bàn tay tài hoa và khát vọng đổi mới
Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

Hội chợ làng nghề Việt Nam 2026: Đẩy mạnh quảng bá, số hóa và kết nối thị trường

LNV - Sáng 30/9, tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện xúc tiến, quảng bá làng nghề năm 2026, gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.
Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

Tôn vinh bàn tay tài hoa, tiếp sức để sản phẩm làng nghề Hà Nội vươn xa

LNV - Chiều 28/9, tại Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức Lễ trao giải Hội thi sản phẩm làng nghề và tôn vinh nghệ nhân thành phố Hà Nội lần thứ nhất năm 2026
Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

Làng nghề Thượng Quán tăng tốc sản xuất đón mùa cao điểm cuối năm

LNV - Do nhu cầu của người dân những tháng cuối năm tăng cao, hàng loạt xưởng mộc điêu khắc sản xuất các sản phẩm tượng và con linh vật bằng gỗ… ở làng nghề thôn Thượng Quán, xã Thường Tín (Hà Nội) lại tất bật để kịp có hàng phục vụ khách.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

Bảo hộ sở hữu trí tuệ: Nền tảng nâng tầm thương hiệu lụa Vạn Phúc

LNV - Sáng 24/9, tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc, Hà Nội, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội phối hợp với Hội Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc tổ chức chương trình “Tập huấn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Làng nghề Dệt lụa Vạn Phúc”. Chương trình nhằm hướng dẫn các tổ chức, cá nhân xác định đối tượng, lựa chọn hình thức bảo hộ phù hợp và thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu hoa văn; đồng thời cung cấp thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ trong bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ
Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

Hơn 60 năm, ba thế hệ giữ lửa nghề bánh Trung thu ở Xuân Đỉnh

LNV - Từ khi còn nhỏ, ông Phạm Duy Dũng (sinh năm 1964) đã quen với mùi thơm của những mẻ bánh Trung thu trong căn nhà ở Xuân Đỉnh, Hà Nội. Nối nghiệp cha là cụ Phạm Duy Hùng (sinh năm 1937, đã mất), ông Dũng tiếp tục gìn giữ nghề và truyền lại cho thế hệ thứ ba - con trai Phạm Duy Sĩ (sinh năm 2004). Qua hơn 60 năm, nghề bánh của gia đình không chỉ được tiếp nối bằng một công thức, mà còn bằng cách làm nghề và mong muốn giữ lại hương vị Trung thu truyền thống giữa những đổi thay của thị trường.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Khuyến công Quảng Ninh “Vốn mồi” tiếp sức cho công nghiệp nông thôn

Khuyến công Quảng Ninh “Vốn mồi” tiếp sức cho công nghiệp nông thôn

Nguồn kinh phí khuyến công tại Quảng Ninh đã phát huy vai trò như một dòng “vốn mồi” quan trọng
Lai Châu phát huy sức mạnh cộng đồng xây dựng nông thôn mới

Lai Châu phát huy sức mạnh cộng đồng xây dựng nông thôn mới

hong trào tại Lai Châu ghi nhận thành công nhờ sự đồng thuận và huy động nguồn lực của nhân dân, thúc đẩy phát triển bền vững vùng quê.
Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam - Mở rộng không gian kết nối và phát triển kinh tế nông thôn

Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 năm 2026, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026
Từ mô hình chăn nuôi đến sản phẩm đặc trưng địa phương

Từ mô hình chăn nuôi đến sản phẩm đặc trưng địa phương

Từ đàn chim cút thương phẩm quy mô tại Quảng Trị đến việc khôi phục giống vịt bản địa ở Sơn La, các mô hình chăn nuôi phù hợp địa phương đang giúp nâng cao thu nhập cho người dân
Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

Nguyễn Đại Năng: Ông tổ nghề châm cứu ở Việt Nam

LNV - Ngài Nguyễn Đại Năng làm quan phụng sự trong triều nhà Hồ (1400-1407).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động