Hà Nội: 33°C Hà Nội
Đà Nẵng: 29°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 30°C Thừa Thiên Huế

Cơ hội mới để phát triển nghề, làng nghề

LNV - Thời gian gần đây, do tác động của đại dịch Covid-19, nhiều lao động các khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ đã trở về địa phương; Một số lao động sẽ trở lại nơi làm việc nhưng cũng có một số ở lại quê hương. Đây là một cơ hội mới để các làng nghề chúng ta phát triển thêm nghề, làng nghề, đồng thời cũng là dịp để suy nghĩ về những vấn đề cơ bản trong phân công lao động xã hội nước ta.
Dịch chuyển lao động thời công nghiệp hóa

Theo Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung tại phiên họp ngày 10/11/2021 kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XV, thời gian qua, do tác động của đại dịch Covid-19, đã có 1,3 triệu lao động từ các địa phương miền Đông Nam Bộ, chủ yếu là từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An trở về miền Trung, Tây Nguyên và một số địa phương miền Bắc. Trong số lao động này, có khoảng 30% sẽ quay trở lại làm việc ở doanh nghiệp cũ, khoảng 30% chuyển sang nơi khác và khoảng 40% sẽ ở lại quê hương. Hiện nay, các tỉnh và thành phố nói trên đang thực hiện nhiều biện pháp để thu hút lao động trở lại làm việc; Tình hình đang chuyển biến tốt.

Nhân dịp này, xin bàn về một vấn đề rất cơ bản cần được đặt ra: Đó là việc phát triển nghề thủ công ở nông thôn, phát triển làng nghề để người lao động có thể làm giàu ngay tại quê hương, trong quá trình phân công lại lao động xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Theo quy luật, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phân công lại lao động xã hội sẽ diễn ra như sau: (i) Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần; (ii) Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động công nghiệp và xây dựng tăng lên; (iii) Tỷ trọng và số lao động trong các trong các ngành dịch vụ tăng nhanh, do tốc độ tăng lao động trong các ngành này nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành. Cùng với sự dịch chuyển về số lượng, do sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật trong Cách mạng 4.0, cũng sẽ diễn ra sự chuyển biến về chất lượng của nhân lực: Từ lao động giản đơn sang lao động có tay nghề, có kiến thức ngày càng cao; Năng suất lao động toàn xã hội cũng sẽ tăng lên. Sự phân công lại lao động xã hội nếu được diễn ra đúng quy luật, sẽ mang lại thịnh vượng cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân.

Ở nước ta, từ một nước nông nghiệp đi lên, trong những năm gần đây, xu hướng dịch chuyển lao động xã hội đang diễn ra mạnh mẽ: dân số thành thị ngày càng tăng, trong khi dân số nông thôn có xu hướng giảm. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ đô thị hóa cả nước đã tăng nhanh từ 30,5% năm 2010 lên khoảng 40,4% năm 2021, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, đô thị hóa và phát triển kinh tế đô thị nước ta diễn ra không đồng đều giữa các vùng, miền; Tỷ lệ đô thị hóa còn thấp so với mức trung bình của các nước trong khu vực; Quá trình đô thị hóa phát triển theo chiều rộng và phân tán, gây lãng phí về đất đai, hạn chế tích tụ kinh tế.

Từ thực tiễn, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, lại gặp lúc đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến toàn bộ đời sông kinh tế - xã hội, phải thực hiện nhiệm vụ kép vừa khôi phục và phát triển sản xuất vừa phòng, chống dịch, vì vậy, việc thực hiện cơ cấu lại lao động xã hội cần phải xem xét trên nhiều mặt. Đó là: (i) Cơ cấu lại lao động phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; (ii) Phải quán triệt quan điểm người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của phát triển đất nước, để người dân “an cư, lạc nghiệp”, chất lượng sống được nâng cao; (iii) Việc đô thị hóa, phát triển hệ thống đô thị cần hài hòa, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương; Chú ý phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp tại các vùng, miền trong cả nước, không quên vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người; (iv) Cần phát triển các đô thị vệ tinh, hạn chế xu hướng tập trung quá mức vào các đô thị lớn, gây ra những vấn đề về an sinh xã hội, nhất là nhà ở rất khó giải quyết; (v) Chú trọng gắn kết phát triển đô thị với phát tiển nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

Làm giàu ngay tại quê hương

Theo số liệu thống kê, dân số nước ta năm 2021 là 98 triệu người (tính số tròn); Trong đó 36 triệu người đang sống ở thành thị và 62 triệu người sống ở nông thôn. Như vậy, vẫn còn khoảng gần 70% số dân đang sống trong nông thôn, sức ép về việc làm, thu nhập và đời sống đang rất gay gắt.


Chúng ta không phủ nhận thực tế là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở các thành phố lớn, thu nhập của người lao động khá hơn nhiều so với làm nông nghiệp; Điều này, đang hấp dẫn lao động các địa phương dồn về các thành phố lớn. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy cuộc sống của lao động nhập cư đang có rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Vẫn còn những trường hợp chỗ ở của người lao động quá chật chội, dễ sinh bệnh tật, có những gia đình ngoài vợ chồng, còn có các con, lại có bà nội hoặc ngoại cùng ở để trông cháu trong một diện tích quá hẹp. Bên cạnh đó, khám chữa bệnh khó khăn; trẻ em đi học vất vả; sinh hoạt văn hóa rất hạn chế... Khi đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực thời gian qua, nhiều lao động buộc phải rời bỏ nơi làm việc, trở về quê hương, mặc dù con đường hồi cư cũng nhiều bất trắc đã phơi bày rất rõ thực trạng rất đáng quan tâm này.

Thực tế đã cho thấy việc tập trung quá nhiều cơ sở công nghiệp tại các đô thị lớn sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề về đời sống của người lao động rất khó giải quyết. Vì thế, xu hướng chung trên thế giới ngày nay là không tập trung công nghiệp vào các thành phố quá lớn mà phân tán các cơ sở ra các đô thị vệ tinh ở vùng nông thôn gần thành phố với các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng lao động tại chỗ sản xuất các linh kiện, phụ tùng hoặc thực hiện các dịch vụ cho các doanh nghiệp lớn. Đây cũng là một phương thức tạo việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, tránh được tình trạng phải đưa lao động từ xa đến, gây ra nhiều hệ lụy như trên đã nói.

Xin nói thêm về việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài thường được gọi là “xuất khẩu lao động”. Trong toàn cầu hóa ngày nay, việc người lao động di chuyển từ nước này sang nước khác là lẽ đương nhiên theo sự tự nguyện của họ, nếu như người lao động tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập hợp lý với các nhu cầu về an sinh xã hội được bảo đảm. Trong thời gian qua, đã có nhiều lao động được cơ quan chức năng đưa đi xuất khẩu lao động, thu về một số ngoại tệ. Tại một số địa phương, đã có những ngôi nhà mới nhiều tầng được xây lên bằng số tiền này, các tiện nghi trong đời sống của dân khá lên rõ rệt.

Vấn đề cần suy nghĩ là nhiều người đi xuất khẩu lao động đang phải làm những công việc nặng nhọc, ảnh hưởng đến sức khỏe mà người bản xứ không muốn làm; Thậm chí đã có thảm cảnh như tình trạng 39 người đã chết trong một container đông lạnh khi đi lao động chui ở Anh hồi cuối năm 2019. Vì vậy, rất cần những chính sách để người lao động có thể làm giàu ngay tại quê hương; phải chăng chỉ nên đưa ra nước ngoài hợp tác lao động những người có trình độ học vấn cao, những công nhân kỹ thuật bậc cao, không nên đưa đi những lao động phổ thông. Đây cũng là dịp để thể hiện trình độ, kiến thức của lao động nước ta, đề cao vị thế của đất nước ta trên thế giới.

Để người lao động làm giàu ngay trên quê hương, cần thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế gắn với cơ cấu lao động một cách hài hòa giữa các vùng, miền, các loại hình doanh nghiệp: Giữa những địa phương trọng điểm có sức lan tỏa với những địa phương khác; Giữa các doanh nghiệp quy mô lớn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình... Như vậy, cũng tức là tạo việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân ở các vùng, miền một cách hài hòa, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giảm dần chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư.

Cơ hội mới để phát triển nghề, làng nghề

Thực tiễn đã khẳng định nông nghiệp là “trụ đỡ” của nền kinh tế; Ngay trong thời gian đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội nước ta, nông nghiệp vẫn khắc phục khó khăn, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện nhiều giải pháp thích hợp bảo đảm an ninh lương thực cho xã hội, đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, góp phần rất có ý nghĩa vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Khi sản xuất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và các doanh nghiệp ở các đô thị lớn gặp khó khăn, nhiều lao động trở về quê thì nông nghiệp, nông thôn sẵn sàng là nơi đón nhận.

Nếu như nông nghiệp, nông thôn là “trụ đỡ” của nền kinh tế, thì làng nghề chúng ta rất xứng đáng là một cột trong trụ đỡ đó. Thực tiễn đã chứng minh những giá trị to lớn của làng nghề về các mặt văn hóa, kinh tế, xã hội; Trong tình hình hiện nay, đó là tiềm năng giải quyết việc làm và đời sống của người dân, góp phần xây dựng nông thôn mới. Làm được như vậy, sẽ tạo môi trường cho thanh niên lập nghiệp, làm giàu ngay tại quê nhà, khắc phục tình trạng đáng buồn trong nông thôn một số vùng hiện nay: Thanh niên đến tuối lao động đi tìm việc tại các đô thị, trong nông thôn chỉ còn người già và trẻ nhỏ; Ruộng đồng không có người canh tác, đời sống trầm lắng.

Hiện nay, nông thôn đang tiếp nhận lao động từ nhiều nguồn cần giải quyết việc làm: (i) Nước ta đang trong thời kỳ “dân số vàng” (69% số dân ở trong độ tuổi lao động) cần tận dụng; (ii) Trong nông thôn, mỗi năm, nông thôn có trên 1 triệu người đến tuổi lao động; (iii) Người lao động từ các đô thị trở về và có ý định ở lại quê nhà; (iv) Do ứng dụng Công nghệ 4.0, lao động trong các ngành sử dụng nhiều lao động sẽ giảm bớt, làm tăng thêm số lao động cần tìm nơi làm việc mới. Giải bài toán lao động ở đây phải dựa vào phát triển đồng bộ các ngành nghề: Từ công nghiệp, thủ công nghiệp đến dịch vụ. Đối với các làng nghề chúng ta, đây chính là cơ hội mới để mở mang nghề thủ công, phát triển làng nghề. Có thể phân ra các nhóm và biện pháp giải quyết như sau.

-Đối với những người đã có nghề, làm việc trong các doanh nghiệp nay trở về, có thể tìm những doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh làng nghề cùng nghề thích hợp ở địa phương để giới thiệu họ vào làm việc;

-Đối với những người đã có nghề, nay trở về quê nhưng chưa tìm được nơi làm việc đúng nghề, có thể tìm và giới thiệu vào làm việc ở nơi có một nghề gần với nghề họ có sẵn; Nếu không, có thể giúp họ học nghề mới hoặc khởi nghiệp, lập cơ sở sản xuất kinh doanh thích hợp;

-Đối với người chưa có nghề, cần tổ chức đào tạo nghề cho họ và sau đó, giúp họ vào làm việc tại các cơ sở hiện có hoặc khởi nghiệp, lập cơ sở mới. Có thể đào tại tại trường của địa phương hoặc tại các lớp do làng nghề tổ chức, do các nghệ nhân hướng dẫn. Tuy nhiên, phương thức đào tạo cần thiết thực, hiệu quả, có thể miễn phí hoặc trợ giúp phí đào tạo.

Như vậy, làng nghề có thể giúp người lao động: Hoặc là vào làm việc tại các cơ sở có sẵn, hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới, theo đúng yêu cầu làm giàu ngay tại quê hương, không phải “tha phương cầu thực”, vừa bảo đảm thu nhập và đời sống của bản thân và gia đình, vừa góp phần xây dựng quê hương. Từ đó, quy mô làng nghề hiện có sẽ được mở rộng, làng nghề mới sẽ dần hình thành. Vai trò của Nhà nước ở đây là rất quan trọng như: Quy hoạch ngành nghề theo nhu cầu của thị trường và của địa phương; Đẩy mạnh các hoạt động khuyến công; Xây dựng kết cấu hạ tầng (đường, điện, nước); Có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp ở nông thôn; Xây dựng các cơ sở văn hóa, giáo dục, y tế; Giúp đỡ ứng dụng công nghệ số; Xúc tiến thương mại, tạo thuận lợi về đất đai, các loại thuế, phí, tín dụng... Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, với chức năng, nhiệm vụ của mình, đang có không gian rất rộng rãi để tham gia quá trình cơ cấu lại lao động nông thôn, phát triển nghề và làng nghề, xây dựng làng nghề văn hóa, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng nông thôn mới.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Bài tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Nghề nuôi ong ở Cẩm Thủy gìn giữ hương rừng đất cấm

Nghề nuôi ong ở Cẩm Thủy gìn giữ hương rừng đất cấm

HTX ong mật Cẩm Thủy phát triển đàn ong lớn, nâng cao chất lượng mật, mở rộng thị trường
Đắk Lắk: Khuyến công tạo lực đẩy cho chế biến sâu và mở rộng thị trường

Đắk Lắk: Khuyến công tạo lực đẩy cho chế biến sâu và mở rộng thị trường

LNV - Từ hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ đến xây dựng điểm trưng bày, kết nối giao thương, hoạt động khuyến công tại Đắk Lắk đang từng bước đi vào chiều sâu. Nguồn lực khuyến công quốc gia và địa phương không chỉ góp
Sắp diễn ra giải Marathon Quốc tế Hà Nội Techcombank mùa thứ 5

Sắp diễn ra giải Marathon Quốc tế Hà Nội Techcombank mùa thứ 5

LNV - Ngày 13/8/2026, tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, cùng sự đồng hành của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) và Công ty Sunrise Events Vietnam, Giải Marathon Quốc tế Hà Nội Te
Giá trị làng nghề miền Tây qua dự án nghệ thuật

Giá trị làng nghề miền Tây qua dự án nghệ thuật

LNV - Lấy cảm hứng từ những làng nghề truyền thống dọc dòng Mê Kông, nhóm sinh viên Trường Cao đẳng FPT Polytechnic TP.HCM tri TP.HCM triển khai dự án tốt nghiệp bằng việc thực hiện dự án nghệ thuật “Xuôi dòng phù sa”.
Viện nghiên cứu làng nghề kỳ vọng mở ra hướng phát triển mới cho làng nghề

Viện nghiên cứu làng nghề kỳ vọng mở ra hướng phát triển mới cho làng nghề

Viện Nghiên cứu, tư vấn kiến trúc và bảo tồn phát triển làng nghề được thành lập
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động