Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
![]() |
Thực trạng
Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các làng nghề làng nghề có thể nói về hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là các doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, tuy nhiên chủ yếu vẫn là các hộ gia đình (98,73%), những hộ gia đình này có quy mô sản xuất rất nhỏ. Lao động tại các làng nghề phần lớn chưa qua đào tạo, việc học nghề thông qua truyền nghề và được dạy nghề trong quá trình sản xuất nên làng nghề hiện đang thiếu lao động có kỹ thuật và mỹ thuật trình độ cao, thu nhập của các lao động làng nghề hiện nay mặc dù cao hơn lao động thuần nông, nhưng vẫn còn thấp, đạt 3,5-4,5 triệu đồng/người/tháng. Năng lực, kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh của các chủ hộ, cơ sở sản xuất còn hạn chế, có gần 70% chủ hộ chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, kiến thức quản lý (đối với chủ doanh nghiệp là trên 40%). Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đây thực sự là khó khăn lớn để sản xuất ở các làng nghề đáp ứng được những chuẩn mực quốc tế.
Thực trạng về các vùng nguyên liệu và cung ứng nguyên liệu: Nguồn nguyên liệu đang bị suy giảm do việc khai thác quá mức, thiếu tổ chức dẫn đến cạn kiệt các nguồn nguyên liệu tự nhiên. Các vùng nguyên liệu nuôi trồng tập trung thiếu quy hoạch tổng thể và bị thu hẹp do phải cạnh tranh với các loại cây trồng khác. Vì vậy nhiều cơ sở sản xuất, làng nghề không mở rộng được quy mô sản xuất, sản xuất cầm chừng; lao động thiếu việc làm, thu nhập thấp không ổn định, công việc tại làng nghề dần trở thành một công việc thời vụ thay vì việc mang tính chuyên môn hóa tay nghề cao.
Địa điểm hoạt động và hạ tầng làng nghề: Hầu hết các xưởng sản xuất thường xen kẽ với khu dân cư trong các làng nghề. Tình trạng phổ biến của các hộ, cơ sở sản xuất nghề ở nông thôn là sử dụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất, mặt bằng sản xuất chật hẹp, không có khả năng mở rộng. Hệ thống cơ sở hạ tầng làng nghề nhìn chung còn hạn chế, chưa được đầu tư đồng bộ: Hệ thống giao thông, thoát nước xuống cấp, thiếu các công trình hạ tầng phục vụ phát triển du lịch như: các khu trưng bày giới thiệu sản phẩm, bãi đỗ xe, khu vệ sinh, bãi thu gom rác thải, nhà hàng, hệ thống chiếu sáng.., điều này đã và đang trở thành rào cản lớn đối với sự phát triển của các làng nghề nói chung, đến việc phát triển, bảo tồn làng nghề truyền thống gắn với du lịch nói riêng.
![]() |
Việc xây dựng các CCN làng nghề không những giữ được các làng nghề, làng nghề truyền thống mà còn phát triển mạnh mẽ các sản phẩm làng nghề, mang lại giá trị cao cho người dân ở nông thôn. Đến nay tại một số địa phương các CCN làng nghề đã góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, giải quyết việc làm, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực nông thôn.
Tuy nhiên, quá trình phát triển nhiều CCN đang bộc lộ những khó khăn, vượt khả năng đáp ứng của CSSX về tiền thuế đất, xây dựng nhà xưởng, đầu tư trang thiết bị. Trong khi đó hầu hết các cơ sở sản xuất tại làng nghề có quy mô nhỏ, tài chính hạn chế. Việc vay vốn ngân hàng cũng gặp khó khăn, vốn vay bình quân thấp, thời hạn vay ngắn chưa đáp ứng được chu kỳ sản xuất đặc thù của hàng thủ công.
Công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu: Các hoạt động xúc tiến thương mại nhìn chung còn yếu, sự hỗ trợ đồng hành của nhà nước còn hạn chế, hiện chủ yếu do sự nỗ lực của các doanh nghiệp. Các hội chợ tổ chức trong nước, bên cạnh việc thiếu địa điểm tổ chức chuyên nghiệp, nhìn chung có rất ít hiệu quả. Các hội chợ chưa định hướng được phân khúc thị trường, khách hàng, không có các hoạt động marketing chuyên nghiệp,… nên không thu hút được doanh nghiệp và khách hàng.
![]() |
Công tác xúc tiến thương mại quốc tế theo từng nhóm ngành hàng sản phẩm thủ công chưa được triển khai. Hiện nay việc tham gia các hội chợ quốc tế đem lại cơ hội rất tốt để tìm kiếm khách hàng mới, tuy nhiên do chi phí rất cao nên cũng còn ít doanh nghiệp có thể tham gia. Các làng nghề chưa có chiến lược phát triển sản phẩm một cách bền vững, chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho sản phẩm đặc trưng của mình. Do vậy, không tạo được nhãn hiệu để quảng bá tới người tiêu dùng. Bên cạnh đó các sản phẩm gắn với du lịch còn ít, việc triển khai chương trình du lịch gắn với phát triển làng nghề mới chỉ tập trung ở một số làng nghề nhất định.
Công tác đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ: Công tác đào tạo nghề, truyền nghề thực hiện chưa hiệu quả, còn thiếu sự liên kết với các doanh nghiệp và không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp; chưa có chính sách khuyến khích hỗ trợ các nghệ nhân, thợ giỏi, các nhà nghiên cứu, các trường đại học, các trường đào tạo nghề tham gia liên kết đào tạo, nên chất lượng đào tạo nghề, truyền nghề chưa cao, số lượng lao động có tay nghề giỏi, kỹ năng nghề cao còn ít. Lao động trong làng nghề chủ yếu là thủ công, chưa được đào tạo kỹ thuật cơ bản, phần lớn là do truyền nghề và kèm cặp tại chỗ nên chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều nội dung về phát triển nghề thủ công chưa được đưa vào nội dung chương trình đào tạo như thiết kế, tạo dáng, vẽ hoa văn sản phẩm.., trong khi số lượng nghệ nhân, thợ giỏi tham gia truyền nghề còn ít, vì vậy một số nghề truyền thống, làng nghề cùng với các kỹ năng và bí quyết nghề truyền thống có nguy cơ bị mai một, thất truyền.
Do thiếu vốn đầu tư nên việc ứng dụng máy móc thiết bị cơ giới hóa trong quá trình khai thác, sơ chế nguyên liệu và chế biến sản phẩm còn kém phát triển dẫn đến lãng phí nguyên liệu, chất lượng nguyên liệu không cao, môi trường bị ô nhiễm. Điều này đang ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm thủ công mỹ nghệ nước ta so với các nước khác trên thế giới.
Thị trường thủ công mỹ nghệ toàn cầu được định giá 1,007 tỷ USD vào năm 2023, và hướng đến con số 1,107 tỷ USD vào năm 2024 và 2,394 tỷ USD vào năm 2032. Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nhờ sự đa dạng ngành nghề và giàu tài nguyên.
Hiện nay, Việt Nam có hơn 5.400 làng nghề và làng nghề truyền thống với nhiều mô hình sản phẩm khác nhau, ví dụ như: mây tre đan, gốm sứ, thêu dệt, đúc đồng, trạm khắc gỗ, trang sức, đá quý. Doanh thu của các làng nghề này rơi vào khoảng 75 nghìn tỷ đồng. Quy mô thị trường thủ công mỹ nghệ Việt Nam được dự đoán sẽ có tốc độ tăng trường vào khoảng 8.70% trong giai đoạn 2024 – 2032. Đây là con số thấp hơn mức tăng trưởng ngành toàn cầu, cho thấy ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam còn sơ khai và nhiều dư địa phát triển.
Trong nhiều năm gần đây, hàng thủ công mỹ nghệ luôn nằm trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất của Việt Nam với rất nhiều sản phẩm đa dạng, có giá trị gia tăng cao, biên độ lợi nhuận lớn hơn so với nhiều mặt hàng xuất khẩu khác. Theo thống kê, cứ 1 triệu USD xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ mang lại lợi nhuận gấp 5-10 lần so với nhiều mặt hàng xuất khẩu khác, giá trị thực thu từ việc xuất khẩu mặt hàng này lại rất cao, hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập ước tính chỉ khấu hao từ 3-3,5% giá trị xuất khẩu. Sản xuất hàng thủ công ở Việt Nam chủ yếu dựa vào tiềm năng của hàng ngàn làng nghề trong cả nước. Những làng nghề này đã tạo việc làm cho trên năm triệu lao động nông thôn. Mặc dù có kim ngạch xuất khẩu không cao so với một số ngành hàng khác nhưng hàng thủ công mỹ nghệ lại mang về cho đất nước nguồn ngoại tệ với tỉ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu.
Phát triển ngành hàng TCMN là hướng đi đúng đắn trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng ngành ở mức ổn định. Theo đánh giá của đại diện Cục Xuất nhập khẩu, việc thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) như: EVFTA, CPTPP, RCEP… đang mở ra rất nhiều cơ hội xuất khẩu cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đến nay, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm gần 10% nhu cầu của thị trường toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam giai đoạn 2015-2019 tăng trung bình 9,5%/năm, từ 1,62 tỉ USD (2015) lên đến 2,23 tỉ USD (2019), Phấn đấu đạt 4 tỉ USD năm 2025.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới thị trường thủ công mỹ nghệ Việt Nam, ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam:
Những động lực phát triển:
Di sản văn hóa phong phú: Lượng di sản văn hóa đồ sộ của Việt Nam có đóng góp đáng kể đến với sự phát triển của ngành thủ công mỹ nghệ. Sự đa dạng trong văn hóa của đất nước ta đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong các ngành nghề truyền thống.
Nhân lực lành nghề: Với lịch sử phát triển lâu đời, ngành thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có lượng nhân lực dồi dào và lành nghề, góp phần không nhỏ vào việc phát triển và lưu giữ các truyền thống văn hóa.
Du lịch thúc đẩy các sản phẩm thủ công mỹ nghệ: Sau giai đoạn khủng hoảng, nhu cầu du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế đã có những dấu hiệu phục hồi và phát triển. Sự trở lại của ngành du lịch cũng là một trong những động lực cơ bản thúc đẩy ngành thủ công mỹ nghệ, khi các mặt hàng này thường được sử dụng như quà lưu niệm đồng thời cũng là một hoạt động tích cực để quảng bá, giới thiệu sản phẩm..
Nhu cầu gia tăng và cơ hội xuất khẩu: Dưới tác động của giai đoạn Covid-19 và khủng hoảng, nhu cầu cho các hoạt động trong nhà ngày một tăng lên. Điều này dẫn đến những nhu cầu trang trí nhà ở và các vật dụng trong gia đình, tạo ra cơ hội cho các ngành nghề thủ công liên quan. Bên cạnh đó, xu hướng sử dụng các vật liệu tự nhiên cũng góp phần thúc đẩy nhu cầu sử dụng.
Những khó khăn hiện tại của ngành thủ công mỹ nghệ:
Khó khăn trong hoạt động sản xuất: Các ngành nghề thủ công mỹ nghệ hầu hết được xuất phát từ quy mô hộ gia đình, dần tiến lên thành mô hình làng xã, các thương hiệu thủ công mỹ nghệ thường có xu hướng hình thành theo khu vực, tự phát, ví dụ như làng gốm Bát Tràng, làng lụa Hà Đông, làng bún Phú Đô, giò chả Ước Lễ…, chưa được xây dựng theo quy trình bài bản, gây khó khăn cho việc bảo vệ, phát triển thương hiệu.
Khó khăn trong tiếp cận thị trường: Giá trị các thương hiệu chưa đảm bảo cho việc tiếp cận các thị trường khó tính ở nước ngoài, từ đó giá thành sản phẩm không thể nâng cao. Năng lực các doanh nghiệp hạn chế trong các hoạt động Marketing. Các kênh online cũng chưa được tận dụng triệt để. Đầu ra sản phẩm thủ công phụ thuộc vào nhiều khâu trung gian...
Thị trường thay đổi nhanh chóng: Nhu cầu sản phẩm sẽ thay đổi theo thị hiếu của người tiêu dùng. Việc xu hướng thay đổi nhanh chóng cũng làm một khó khăn không nhỏ cho ngành thủ công mỹ nghệ, do đặc điểm nhỏ lẻ và chưa được tiếp cận tốt với các thông tin mới. Tuy nhiên, hiện nay đang có những tín hiệu tốt cho ngành hàng thủ công mỹ nghệ tại Việt Nam, đó là: Sự phục hồi của ngành du lịch sau các tác động tiêu cực từ đại dịch Covid-19. Cùng với các chính sách phát triển mô hình du lịch làng nghề, ngành thủ công mỹ nghệ cũng sẽ được phục hồi tích cực cùng với sự gia tăng của khách du lịch nước ngoài. Mô hình du lịch văn hóa này giúp thúc đẩy hình ảnh về Việt Nam và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt tới nước ngoài mạng mẽ.
Thương mại điện tử hỗ trợ xuất khẩu mạnh mẽ: Thị trường thương mại điện tử Việt Nam thuộc top 3 trong khu vực Đông Nam Á. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện sự độc đáo của văn hóa Việt. Và với sự phát triển của các ngành kinh tế trong tương lai, đây sẽ là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hình ảnh của Việt Nam trên thị trường quốc tế, trên cả mặt văn hóa và kinh tế. Dưới các tác động của thị trường du lịch và thương mại điện tử, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sẽ vươn xa hơn trên thị trường quốc tế.
Giải pháp:
![]() |
Để phát triển bền vững ngành hàng thủ công mỹ nghệ trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nhiều nhóm giải pháp về các mặt kinh tế - xã hội, môi trường và thể chế:
Tổ chức thực hiện, hoàn thành các mục tiêu cụ thể theo Quyết định 801/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam đến 2030.
Cần hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể phát triển ngành, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong thiết kế mẫu mã và sản xuất, tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng mạng lưới tiêu thụ, xuất khẩu và nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của các hiệp hội;
Phát triển bền vững ngành hàng thủ công mỹ nghệ góp phần tạo công ăn việc làm, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao đời sống nông dân, xây dựng nông thôn mới, tạo liên kết nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm;
Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia đáp ứng hợp chuẩn quốc tế, tuyên truyền, giáo dục, kết hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát, hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường sinh thái; Về thể chế, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý, chính sách phát triển và hỗ trợ ngành hàng phát triển một cách bền vững.
Xây dựng Luật về làng nghề nhằm bảo tồn và phát triển vững chắc các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ trọng yếu trên cơ sở bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, mang đậm bản sắc dân tộc, đưa văn hóa Việt Nam hòa nhập với thế giới và tăng cường khả năng xuất khẩu hàng TCMN. Sự khác biệt của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam chính là dựa trên các yếu tố sản xuất bền vững trên toàn bộ chuỗi giá trị sản phẩm hàng thủ công, về chất lượng cũng như yếu tố giá thành.
![]() |
Các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN cũng cần lưu ý một số giải pháp quan trọng để đẩy mạnh phát triển sản phẩm trên thị trường quốc tế: Cần tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhóm mặt hàng có lợi thế, gia tăng giá trị sản phẩm cho nhóm hàng này. Đặc biệt quan tâm đến thị hiếu của người tiêu dùng thường thay đổi theo thời gian. Đây là giải pháp vô cùng quan trọng để tăng kim ngạch và xuất khẩu bền vững.
Đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường hợp chuẩn quốc tế. Điều này nhằm đáp ứng được nhiều phân khúc thị trường khác nhau. Trong đó cần tập trung vào các phân khúc thị trường trung và cao cấp. Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu ngành này cũng cần chú trọng đầu tư xây dựng thương hiệu ngành, thương hiệu doanh nghiệp gắn với xúc tiến thương mại.
Cần đặc biệt chú trọng vào thương hiệu, chiến lược cạnh tranh bằng thương hiệu đang diễn ra rất mạnh mẽ và sâu rộng, không chỉ dừng lại ở cấp độ doanh nghiệp mà đã phát triển lên mức độ địa phương, ngành hàng và cấp quốc gia. Vì vậy, bên cạnh việc xây dựng thương hiệu, các hoạt động bảo vệ thương hiệu, gìn giữ tài sản sở hữu trí tuệ cũng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt nam sẽ phải đối diện với những cạnh tranh ngày càng cao, cùng với sự lựa chọn khắt khe của người tiêu dùng, vì vậy chúng ta cần tạo sự khác biệt và đẳng cấp của sản phẩm, thể hiện đặc trưng văn hóa của quốc gia khi sản xuất ra sản phẩm.
Tin liên quan
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cho sản phẩm đặc trưng
11:42 | 06/01/2026 Xúc tiến thương mại
Việt Nam nâng tầm vị thế nhờ chiến lược xúc tiến thương mại mới
10:25 | 23/12/2025 Xúc tiến thương mại
TP.HCM khai mạc Tuần lễ kết nối giao thương ngành lương thực, thực phẩm năm 2025
09:28 | 17/12/2025 Tin tức
Tin mới hơn
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
09:14 | 09/01/2026 Nghiên cứu trao đổi
Tin khác
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức
10:09 | 08/11/2025 Tin tức
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội
08:08 | 31/10/2025 Nghiên cứu trao đổi
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại
09:05 | 28/10/2025 Nghiên cứu trao đổi
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới
09:20 | 24/10/2025 Nghiên cứu trao đổi
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập
08:43 | 17/10/2025 Nghiên cứu trao đổi
Phong tặng các Danh hiệu Làng nghề Việt Nam: Tôn vinh tinh hoa nghề truyền thống, khuyến khích lao động sáng tạo
10:40 | 10/10/2025 Nghiên cứu trao đổi
Phát huy tiềm năng, thế mạnh ngành thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch Hà Nội
08:59 | 26/09/2025 Nghiên cứu trao đổi
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng thể hiện giá trị thẩm mỹ, sáng tạo
10:16 | 21/09/2025 Nghiên cứu trao đổi
Xu hướng thị trường và giải pháp phát triển bền vững ngành thủ công mỹ nghệ
09:43 | 12/09/2025 Nghiên cứu trao đổi
Giải pháp phát huy giá trị các làng nghề truyền thống
15:36 | 27/08/2025 Nghiên cứu trao đổi
Nan giải nguồn cung nguyên liệu cho các làng nghề thủ công Hà Nội
11:15 | 26/08/2025 Nghiên cứu trao đổi
Nghệ An cần có giải pháp về khai thác, quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững phục vụ ngành thủ công mỹ nghệ
09:24 | 15/08/2025 Nghiên cứu trao đổi
Cần chiến lược tái cấu trúc chuỗi nguyên liệu thủ công mỹ nghệ
09:53 | 04/08/2025 Nghiên cứu trao đổi
Làng nghề hướng đến môi trường kinh doanh minh bạch
10:21 | 31/07/2025 Nghiên cứu trao đổi
Bộ tiêu chí nông thôn mới tăng tính chủ động cho địa phương
10:21 | 31/07/2025 Nghiên cứu trao đổi
Phát huy tiềm năng làng nghề “xứ Quảng”
20:10 Tin tức
Làng nghề truyền thống đúc đồng Đại Bái những ngày cuối năm
20:10 Làng nghề, nghệ nhân
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
09:14 Nghiên cứu trao đổi
“Tết bản làng” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
09:13 Tin tức
Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết
09:13 Làng nghề, nghệ nhân





