Sức mạnh mềm của văn hóa Làng nghề

LNV - Sức mạnh của một quốc gia bao gồm nhiều nhân tố: Từ văn hóa đến chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, v.v… trong đó, văn hóa là quan trọng nhất. Bài này bàn về sức mạnh của văn hóa làng nghề - một bộ phận quan trọng trong văn hóa dân tộc, tạo nên sức mạnh mềm của đất nước. Phạm vi đề tài này rất rộng, chỉ xin nêu một số nội dung chính như sau.
KHÁI NIỆM ‘SỨC MẠNH MỀM’

Theo các nhà nghiên cứu, sức mạnh của một quốc gia có thể chia ra hai phần: Phần vật chất (cũng gọi là phần cứng - sức mạnh cứng); Phần tinh thần và quan hệ quốc tế (phần mềm - sức mạnh mềm). Sức mạnh cứng của một quốc gia là tiềm lực quân sự (số lượng và chất lượng quân đội; Năng lực chỉ huy; Trình độ lý luận quân sự và trang thiết bị, khí tài quân sự), thực lực kinh tế (quy mô kinh tế, GDP và cơ cấu kinh tế), v.v... Tuy nhiên, còn một nguồn sức mạnh khác cũng có thể nâng cao địa vị quốc tế của một nước, đó là sức mạnh mềm – tiềm lực văn hóa, tinh thần của dân tộc.


Khái niệm “sức mạnh mềm” được Giáo sư người Mỹ Joseph Samuel Ney, Đại học Harvard, Hoa Kỳ) đưa ra lần đầu tiên vào năm 1990, theo đó, sức mạnh mềm là “kết quả lý tưởng có được thông qua sức hấp dẫn của văn hóa và ý thức hệ chứ không phải sức mạnh cưỡng chế của một quốc gia, có thể làm cho một người khác tin phục đi theo mình, hoặc tuân theo các tiêu chuẩn hành vi hay chế độ do mình định ra để hành xử theo ý tưởng của mình”. Ông còn nói thêm: “Sức mạnh mềm là một loại năng lực, có thể giúp đạt được mục đích thông qua sức hấp dẫn chứ không phải ép bức hoặc dụ dỗ. Sức hấp dẫn này đến từ quan điểm giá trị về văn hóa, chính trị và chính sách ngoại giao của một nước” (Theo Tạp chí Cộng sản, tháng 1/2020). Có thể nói: Sức mạnh mềm của một quốc gia phụ thuộc vào ba nguồn lực: Văn hóa của quốc gia đó (các giá trị văn hóa hấp dẫn đối với người khác), các giá trị chính trị của quốc gia đó và chính sách đối ngoại của quốc gia đó. Tính chất cốt lõi của sức mạnh mềm là “tính hấp dẫn”, là khơi gợi, thu hút, là tự giác đi theo, khác với sức mạnh cứng là “áp đặt, cưỡng bức”. Sức mạnh mềm và sức mạnh cứng bổ sung và tăng cường sức mạnh cho nhau và khi được kết hợp một cách hiệu quả sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Trong thế giới ngày nay, khi xu thế hòa bình, hợp tác là chủ đạo, thì một quốc gia sử dụng sức mạnh cứng (đánh chiếm hoặc đe dọa bằng quân sự, mua chuộc bằng kinh tế) nhằm đạt được mục tiêu vị kỷ của mình, nhiều khi dễ đứng trước rủi ro bị cô lập, cảnh giác, làm suy giảm vị thế, hình ảnh của quốc gia này trong quan hệ quốc tế. Khi đó, sức mạnh mềm (hấp dẫn bằng văn hóa) đang được nhiều nước khai thác có hiệu quả trong phát triển đất nước cũng như phát huy ảnh hưởng của quốc gia đó trên thế giới. Ví như Hàn Quốc, từ cuối những năm 1990, đã đề xướng “Làn sóng Hallyu” (Làn sóng Hàn Quốc) với nội dung quảng bá tinh hoa văn hóa Hàn Quốc (chủ yếu trong các lĩnh vực âm nhạc, phim ảnh, truyện tranh, trò chơi trực tuyến, ẩm thực) ra thế giới, riêng năm 2014 đã đóng góp 11,8 tỷ USD trong tổng số GDP 1.484 tỷ USD của Hàn Quốc (theo Bách khoa toàn thư Wikipedia)), là một thành công rất có ý nghĩa.

VĂN HÓA SỨC MẠNH MỀM CỦA DÂN TỘC

Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa đa dạng và phong phú, có bản sắc chung của dân tộc, song mỗi miền, mỗi làng lại có giá trị văn hóa truyền thống riêng, góp phần làm nên diện mạo văn hóa Việt Nam. Đó là một nền văn hóa phản ánh sự gắn kết cộng đồng xã hội, hun đúc ý chí, nghị lực chống thiên tai, địch họa, cần cù trong sản xuất và thông minh trong sáng tạo đời sống tinh thần. Thực tiễn đã khẳng định sức mạnh của văn hóa đã ngày càng làm sâu sắc hơn ý thức dân tộc, giá trị của độc lập và chủ quyền quốc gia; Truyền thống yêu nước, yêu chuộng hòa bình, tinh thần đoàn kết, hòa hợp của dân tộc ta.

Có thể nêu một số điển hình trong lịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tinh thần hòa hiếu, khoan dung, lấy nhân nghĩa làm đầu của người Việt Nam. Khi Tổ quốc lâm nguy, vua quan nhà Trần đã mở Hội nghị Diên Hồng, thống nhất ý chí “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, nêu cao tư tưởng “lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm nền”, “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”… Khi kẻ thù thất bại, ta sẵn lòng mở đường, cấp thuyền, ngựa cho họ về nước, bởi ta chỉ cốt “dập tắt muôn đời chiến tranh, mở nền thái bình muôn thuở”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thắng lợi của chúng ta cũng bắt nguồn từ phát huy sức mạnh của toàn dân tộc. Bộ trướng Quốc phòng Mỹ Mc Namara, trong cuốn Hồi ký “Hồi tưởng” xuất bản năm 1995, đã thừa nhận thất bại của Mỹ là “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của tinh thần dân tộc có thể huy động nhân dân đấu tranh và hy sinh vì đức tin và giá trị của họ” và “Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hoá và chính trị của nhân dân Việt Nam, cũng như về nhân cách và tập quán của các nhà lãnh đạo của họ” (Báo Dân trí, 22/4/2005).


Trong thời đại ngày nay, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”, “Đại đoàn kết dân tộc”, là các quan điểm “dân là chủ”,“dựa vào dân, lấy dân làm gốc”, “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, là tinh thần khoan dung, nhân ái, hòa hợp, hòa giải... Đồng thời, trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta sẵn sàng tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là những nhân tố của sức mạnh mềm đang được kế thừa và phát huy để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế thành công.

Có thể khẳng định rằng, chính văn hóa dân tộc đã làm thất bại âm mưu đồng hóa mà bọn phong kiến phương Bắc dùng mọi thủ đoạn để thực hiện trong hơn 1.000 năm xâm lược nước ta, cũng chính là dựa vào sức mạnh văn hóa mà chúng ta đã thắng trong các cuộc chiến giành lại dộc lập cho Tổ quốc. Ngay trong chiến tranh, kể cả trong sử dụng vũ khí, khí tài hiện đại, cũng thấy rõ sự vận dụng nhuần nhuyễn truyền thống văn hóa, sáng tạo nên “cách đánh Việt Nam”. Hiện nay, nước ta giành được thành tựu được thế giới ca ngợi trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, nguồn gốc sâu xa cũng chính là đã phát huy được truyền thống văn hóa của dân tộc.

Trước mắt, thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chúng ta đang quán triệt quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”. Cụ thể là “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc …khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; Tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam” (trích Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII).

Để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, xin nêu tóm tắt một số nội dung chủ yếu cần được quan tâm như sau.

Một là, phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khơi dậy sức mạnh trí tuệ và bản lĩnh vượt khó, khát vọng phát triển của người Việt Nam, đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo trên mọi lĩnh vực, thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất nước do Đại hội XIII đã đề ra.

Hai là, bảo vệ và phát huy những giá trị cao đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam: Thuần phong mỹ tục, tinh thần đoàn kết, tình người nhân hậu, hòa hợp, bao dung, bình đẳng, mọi người được thụ hưởng tự do, hạnh phúc; Phê phán, đẩy lùi những thói hư, tật xấu, tham nhũng, lãng phí.

Ba là, đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo thế hệ công dân có phẩm chất, tài năng, tinh thông nghề nghiệp, giỏi ngoại ngữ, tiếp cận công nghệ 4.0… xúc tiến xây dựng nguồn lực lao động chất lượng cao bảo đảm phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

SỨC MẠNH VĂN HÓA LÀNG NGHỀ

Trong nền văn hóa phong phú, đa dạng của dân tộc ta, văn hóa làng nghề là một bộ phận quan trọng, trong đó có nghề thủ công đã được UNESCO vinh danh là “văn hóa phi vật thể”, đóng góp có ý nghĩa vào kho tàng văn hóa phi vật thể của thế giới.

Về giá trị của “Văn hóa nghề thủ công”, có nhà nghiên cứu đã diễn đạt như sau: “Nghề thủ công truyền thống là một phần của văn hóa truyền thống nhưng được xác thực là đại diện của sự thông thái độc đáo, đại diện cho tâm hồn, cốt cách của người dân và của công đồng địa phương trong mỗi thôn làng. Tri thức văn hóa tổng hợp của mỗi nghề thủ công truyền thống được tích lũy, được bồi bổ và cải tiến liên tục hàng chục, hàng trăm năm nên không thể từ chối vai trò đại diện của mình. Một nền nông nghiệp thủ công truyền thống trở thành một nền văn minh lúa nước lẫy lừng, dư thừa sản vật và một nền thủ công nghiệp lâu đời đủ sức cung cấp các tiện nghi cho cuộc sống và đáp ứng các nhu cầu tinh thần, sức khỏe, vũ khí, khí tài chống ngoại xâm không là cơ sở tin cậy cho sự an toàn, bền vững của một đất nước, một dân tộc và mỗi người dân thì là gì? Sự thất bại của các nước lớn chiếm đóng nước ta chính là sự thất bại trước một nền văn hóa lâu đời” (Nguyễn Lực, Tiểu luận Giá trị của nghề thủ công và làng nghề).

Từ thực tiễn, có thể nêu lên một số đặc trưng - cũng là thế mạnh của văn hóa thủ công làng nghề nước ta như sau.

Một là, đó là nền văn hóa được lưu truyền từ hàng trăm năm nay trên đất nước ta, đã trở thành truyền thống, đang giữ vị trí rất có ý nghĩa trong nền văn hóa dân tộc ta. Điều đặc sắc là văn hóa làng nghề mang bản sắc chung của người Việt, song lại rất đa dạng, có bản sắc riêng của từng vùng, miền, mỗi làng nghề truyền thống, kể cả của từng nghệ nhân.

Hai là, nghề thủ công mỹ nghệ nước ta có sức mạnh vô tận là trí tuệ, sức sáng tạo của mỗi nghệ nhân, đặc biệt là lớp nghệ nhân trẻ. Bản chất của nghề thủ công là sáng tạo và sáng tạo là vô tận. Phẩm chất sáng tạo của nghệ nhân và thợ thủ công được lưu truyền và bồi đắp đang tạo nên những giá trị văn hóa mới, những sản phẩm cao cấp cho thị trường.

Ba là, mỗi làng nghề truyền thống đang là nơi bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề, là một kho báu, một bảo tàng về nghề thủ công, chứa đựng những di sản văn hóa với cuộc sống “xanh, sạch, đẹp”, trở thành một làng văn hóa trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.

Bốn là, du khách trong nước cũng như nước ngoài không chỉ thích thú kiểu dáng, màu sắc sản phẩm thủ công, mà họ đang quan tâm tìm hiểu những công nghệ, kỹ thuật trong quá trình sáng tạo sản phẩm - những di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc ta, tạo nên một thế mạnh của du lịch làng nghề.

Tóm lại, có thể khẳng định: Văn hóa làng nghề rất xứng đáng là một bộ phận quan trọng tạo nên sức mạnh mềm của đất nước, là niềm tự hào của chúng ta. Việc phát huy bản sắc văn hóa làng nghề trong các hoạt động của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam không chỉ nhằm thúc đẩy chất lượng phát triển các làng nghề mà còn góp phần củng cố sức mạnh mềm của quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Thanh Hóa: Cho học sinh nghỉ học đối với những nơi mưa lũ không bảo đảm an toàn.

Thanh Hóa: Cho học sinh nghỉ học đối với những nơi mưa lũ không bảo đảm an toàn.

Sáng 17/9, Chủ tịch UBND tỉnh Tô Anh Dũng chủ trì hội nghị nghe báo cáo và triển khai các nhiệm vụ ứng phó với mưa lũ trên địa bàn và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng sở, ngành, các đơn vị liên quan. Trong đó nhấn mạnh, ngành giáo dục rà soát, thông báo cho học sinh nghỉ học đối với những nơi mưa lũ không bảo đảm an toàn.
Thanh Hóa: Hỗ trợ gần 80 tỷ đồng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2026

Thanh Hóa: Hỗ trợ gần 80 tỷ đồng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2026

LNV – Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Tô Anh Dũng vừa ký Quyết định số 3001/QĐ-UBND về phê duyệt bổ sung kinh phí hỗ trợ từ nguồn ngân sách Trung ương để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2026.
Hội chợ Triển lãm Quốc tế mạng lưới Công nghệ xanh - Phát triển bền vững năm 2026

Hội chợ Triển lãm Quốc tế mạng lưới Công nghệ xanh - Phát triển bền vững năm 2026

Ngày 16/9/2026, tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (xã Đông Anh, TP. Hà Nội), Sở Công Thương Hà Nội đã khai mạc Hội chợ Triển lãm Quốc tế Mạng lưới Công nghệ xanh – Phát triển bền vững năm 2026 (GREENTECH HANOI 2026). Sự kiện hướng tới trở thành diễn đàn quốc tế kết nối các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước; tạo không gian chia sẻ các giải pháp, công nghệ mới, thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Phát triển Thủ đô xứng đáng với vị thế đặc biệt và sự tin tưởng của Trung ương

Phát triển Thủ đô xứng đáng với vị thế đặc biệt và sự tin tưởng của Trung ương

LNV - Với sự đồng lòng, chúng ta sẽ tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và các chương trình, kế hoạch hành động của thành phố, tạo những chuyển biến thực chất, phát triển Thủ đô xứng đáng với vị thế đặc biệt và sự tin tưởng,
Bàn giao chức năng quản lý địa chất, khoáng sản, khu công nghiệp về Bộ Công Thương

Bàn giao chức năng quản lý địa chất, khoáng sản, khu công nghiệp về Bộ Công Thương

LNV - Chiều 14/9 tại Hà Nội đã diễn ra Lễ tiếp nhận, bàn giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản và khu công nghiệp.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động