Hà Nội: 24°C Hà Nội
Đà Nẵng: 26°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Phú Yên - Hà Nội: Ngôi làng có hai ông tổ nghề làm giày

LNV - Nếu như ông tổ nghề giày da của Việt Nam là Tiến sĩ Nguyễn Thời Trung thời nhà Mạc, thì ở làng Phú Yên (Phú Xuyên - Hà Nội) cụ tổ truyền nghề lại mới chỉ cách đây gần trăm năm.

10 thợ giỏi làm trong 3 tháng mới xong chiếc giày da lớn nhất Việt Nam.


Làng có hai ông tổ

Đường vào làng Phú Yên


Ông Nguyễn Lương Đức, Chủ tịch Hội Da giầy Phú Yên cho hay: “Làng tôi có hai ông tổ, một là cụ Nguyễn Lương Nghé, hai là cụ Nguyễn Lương Mạc. Cụ Nghé có công truyền nghề, cụ Mạc lại có công phát triển làng thành một trung tâm giày da lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ”.

Ngược thời gian, vào những năm 1918, ở thôn Giẽ Hạ của làng Phú Yên xưa có cụ Nguyễn Lương Nghé vì nghèo đói mà phải bươn chải lên Hà Nội kiếm sống. Ở đây, cụ học được nghề đóng giày da ở phố Tràng Tiền và chỉ sau 3 năm đã thành nghề. Lúc này, cụ Nghé mới rủ người cháu là Nguyễn Lương Mạc ra Quảng Ninh mở một cửa hàng lấy tên “Hiệu hài xưởng Nguyễn Mạc”.

Nhờ tay nghề cao mà hiệu giày trở nên nổi tiếng nhất đất Bắc. Trong xưởng lúc nào cũng có 40 - 50 người từ làng Phú Yên lên học nghề. Khi tay nghề các thợ Phú Yên đã vững, cụ Nghé mới khuyên họ đi vào Nam mở xưởng.

Chỉ chục năm sau, khắp các cửa hàng giày da ở Việt Nam đều có mặt người Phú Yên. Khi dẹp hiệu giầy ở Quảng Ninh, cụ Mạc đã chuyển về làng quyết tâm truyền lại bí quyết cho con cháu. Cho đến bây giờ, khi Phú Yên đã sống bằng nghề sản xuất giày da thì hai cụ Nghé - Mạc đã trở thành ông tổ danh bất hư truyền.

Theo ông Đức, đây là làng da giày duy nhất của Việt Nam thờ hai ông tổ nghề. Theo thời gian, nghề làm giầy Phú Yên đã kết được những tinh hoa và trở thành trung tâm sản xuất giày da lớn nhất Việt Nam. Từ nơi đây, hàng triệu đôi giầy đã xuất xưởng ra thị trường nội địa và nước ngoài. Đi từ đầu đến cuối xã Phú Yên, một điểm chung dễ thấy nhất đó là những biển hiệu giày da gia truyền. Có thể những biển hiệu ấy không lớn, không khuếch trương, nhưng nếu khách cần số lượng bao nhiêu, mẫu mã gì thì họ đều đáp ứng được chỉ trong một thời gian ngắn.

Theo ông Đức, những nhà có lợi thế ở mặt đường thì mở hiệu quảng bá sản phẩm. Những hộ ở trong ngõ thì trở thành xưởng sản xuất. Việc thì không lúc nào thiếu, mà họ chỉ sợ thiếu da để thợ sản xuất ra giày.

Hiện nay, Phú Yên có khoảng 200 hộ là các đầu mối sản xuất và cung ứng giầy da. Các hộ này thu hút khoảng 1.200 thợ giỏi từ khắp các thôn trong xã. Họ phân chia cấp bậc thợ rất rõ ràng gồm: Thợ mũi và thợ đế. Thợ mũi chịu trách nhiệm cắt gọt, tạo hoa văn cho da. Thợ đế gò da vào đế và hoàn thiện đôi giày.

Trong hai cấp bậc thợ đó thì thợ mũi là khó hơn cả. Đôi giày đẹp hay xấu là do thẩm mĩ của thợ mũi mà ra. Còn về phần bền thì phải là thợ đế. Thợ đế có tỉ mỉ, chỉn chu thì những mũi khâu mới “ăn” chắc vào đế. Sau vài năm làm thợ đế, khi kinh nghiệm đã đủ đầy thì tự nhiên họ sẽ chuyển làm thợ mũi để thiết kế mẫu mã sản phẩm.

Những kỷ lục

Thợ Phú Yên có thể tạo rất nhiều mẫu mã giầy hiện đại.


Theo tiết lộ của ông Đức, mỗi năm Phú Yên tiêu thụ ra thị trường trên 6 triệu đôi giày. Mỗi đôi giầy sẽ tiêu tốn hết 2 bìa da, mỗi năm Phú Yên đã phải dùng đến 12 triệu bìa da, một con số kỷ lục mà cho đến nay chưa làng giày da nào vượt qua.

“Đấy là con số khiêm tốn, chứ nếu tính tỉ mỉ ra thì mỗi năm Phú Yên phải tiêu tốn hết khoảng 20 triệu bìa da vì họ còn sản xuất cả ví, dây lưng và dép”, ông Đức tiết lộ.

Bất cứ ai đến Phú Yên đều rất sửng sốt về chiếc giày nam xác lập kỷ lục lớn nhất Việt Nam. Để làm được chiếc giày này, vào năm 2007 những người thợ giỏi nhất Phú Yên đã bàn bạc với nhau và cử nghệ nhân Nguyễn Đức Thịnh làm thợ cả. 10 người thợ giỏi nhất Phú Yên được trưng dụng trong công việc đặc biệt.

Một nhóm ở nhà thiết kế mẫu mã và làm đế, một nhóm đi săn lùng da bò châu Phi. Sau ba tháng hì hụi, chiếc giày khổng lồ đã hoàn thành. Theo đo đạc tỉ mỉ, chiếc giày có chiều dài 2,72m; cao 1,1m và bề ngang 1,3m. Tổng cân nặng của chiếc giày là 60kg, đế được làm bằng một loại gỗ đặc biệt nhẹ và bền.

Nghệ nhân Nguyễn Đức Thịnh cho biết: “Làm chiếc giày to như vậy là rất khó. Thứ nhất là kiếm được cả khối da bò liền mảnh, thứ hai là thiết kế phần mũi cho mềm mại. Giày to thì thường hay bị thô, nhưng chúng tôi đã tỉ mỉ thiết kế chi tiết cùng các đường viền rất tinh tế. Những đường chỉ lớn cũng được khâu cẩn thận, đúng cự ly và dây buộc giày cũng được tết cẩn thận”.

Trong quá trình làm chiếc giày này, thợ Phú Yên đã đục gần 5.000 lỗ to nhỏ để trang trí và khâu, 2.000 răng cưa trang trí. Chiếc giày có hai màu nâu và sáng. Để làm nên chiếc giày nam này, những nghệ nhân của làng nghề đã sử dụng 40m2 da bò châu Phi cao cấp, 300m chỉ khâu, pho mếch để gò 12m2 và một thùng keo gò nặng10kg.

Theo nhiều khách nước ngoài, chiếc giầy không chỉ xứng đáng xác lập kỷ lục Việt Nam mà còn xác lập kỷ lục thế giới. Bởi hiện nay, những chiếc giày da lớn và tinh tế như thế rất hiếm, thậm chí còn bị lỗi hoặc rạn da do không đủ tiêu chuẩn.

Đối mặt với nguy cơ ô nhiễm

Cảnh đốt các mảnh da vụn tại một triền đê xã Phú Yên.


Nhiều năm qua, nghề sản xuất giầy dép da không chỉ cải thiện đời sống của người dân, giúp thay đổi diện mạo làng quê, mà còn đem lại nhiều việc làm cho các lao động vùng lân cận. Tuy nhiên, người dân nơi đây cùng một số xã lân cận như Châu Can, Thượng Yên đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm và nỗi lo bệnh tật bởi khói bụi phát sinh trong quá trình đốt rác thải công nghiệp của các hộ làm nghề giày da gây ra.

Theo ước tính, hiện nay lượng rác công nghiệp thải ra hàng ngày khoảng vài tấn bao gồm da vụn, giả da, pho mếch, keo kếp, đế nhựa… Ông Ngô Văn Hưng, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Yên, khẳng định: Tình trạng ô nhiễm môi trường do đốt rác thải công nghiệp trên địa bàn xã đã diễn ra từ nhiều năm nay. Tuy nhiên xử lý được vấn nạn này là vô cùng khó khăn.

Thừa nhận tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã Phú Yên rất nghiêm trọng, đe dọa sức khỏe nhân dân nhưng đến nay cả xã chưa tìm được giải pháp khắc phục triệt để, ngoài việc tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành quy định bảo vệ môi trường.

Phó Chủ tịch UBND xã Phú Yên cho rằng, để có hướng xử lý dứt điểm tình trạng rác thải làng nghề tập kết rồi đốt bừa bãi gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, địa phương cũng mời một số công ty đứng ra ký hợp đồng thu gom rác với các hộ sản xuất. Tuy nhiên, theo vị cán bộ này thì nhiều hộ vì tiếc tiền nên không ký hợp đồng với công ty thu gom rác. Cho nên, tình trạng đổ trộm rác ra các bãi rác tự phát rồi đốt đi vẫn cứ diễn ra.

“Hiện lại lực lượng công an viên mỏng lại do tập tính làng xã nên dù có bắt được người dân đổ rác cũng chỉ nhắc nhở. Nhưng sắp tới, xã quyết tâm làm triệt để bằng cách mời công an huyện, cảnh sát môi trường vào xử lý và sẽ yêu cầu các hộ sản xuất phải tham gia ký hợp đồng với công ty thu gom rác thải công nghiệp”, ông Ngô Văn Hưng cho biết.

Trần Hòa/báo GD&TĐ

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề trước bài toán phát triển bền vững trong kỷ nguyên khí hậu

Làng nghề trước bài toán phát triển bền vững trong kỷ nguyên khí hậu

LNV - Trước bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét và ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu toàn cầu, việc phát triển làng nghề theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường đang trở thành một yêu cầu cấp thiết.

Làng nghề chuyển mình trong kỷ nguyên số

LNV - Thương mại điện tử (TMĐT) đang từng bước định hình lại cấu trúc phân phối hàng hóa, xóa bỏ các khâu trung gian truyền thống để đưa đặc sản vùng miền và sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiến thẳng từ xưởng sản xuất đến tay người tiêu dùng. Quá trình số hóa các làng nghề truyền thống không chỉ đơn thuần là việc mở rộng kênh bán hàng, mà còn là một cuộc cách mạng về tư duy kinh tế. Để duy trì sức bật này, sự dịch chuyển đòi hỏi một hệ sinh thái cộng hưởng chặt chẽ giữa nỗ lực thực chiến tại cơ sở, khung hành lang pháp lý đồng bộ và nguồn lực hỗ trợ từ các nền tảng công nghệ.
Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Tin khác

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Làng nghề được gì từ Hiệp định Việt Nam - EFTA?

Làng nghề được gì từ Hiệp định Việt Nam - EFTA?

LNV - Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA được ký ngày 18/10/2026 tại Hà Nội. Với thủ công mỹ nghệ, giá trị của hiệp định không nằm ở thuế quan mà ở sự ổn định, quy tắc rõ ràng và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Nàng tiên áo trắng

Nàng tiên áo trắng

(Tặng BS Nguyễn Thị Trang- Khoa Nội thần kinh, Bệnh viện Hữu Nghị)
Phát hiện 879 bộ hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng

Phát hiện 879 bộ hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng

LNV - Trong ngày 31/10, Đội quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh TP. HCM phát hiện, quy tập thêm 7 hài cốt liệt sĩ tại Khu B thuộc Công viên Văn hoá Lê Thị
Gia Lai: Sắp diễn ra Liên hoan cồng chiêng và hát dân ca xã Gào lần thứ I

Gia Lai: Sắp diễn ra Liên hoan cồng chiêng và hát dân ca xã Gào lần thứ I

Từ ngày 20 - 21/11/2026, UBND xã Gào sẽ tổ chức Liên hoan cồng chiêng và hát dân ca lần thứ I năm 2026.
Sơn mài Hạ Thái: Giữ sắc sơn ta, nối dài nghệ thuật Việt

Sơn mài Hạ Thái: Giữ sắc sơn ta, nối dài nghệ thuật Việt

LNV - Cách trung tâm Hà Nội gần 20km về phía Nam, làng nghề sơn mài Hạ Thái (nay thuộc xã Hồng Vân, Thành phố Hà Nội) từ lâu đã nổi tiếng với những sản phẩm thủ công mang vẻ đẹp óng ánh, bền màu và giàu giá trị nghệ thuật. Không chỉ lưu giữ kỹ thuật chế t
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động