Phát triển chỉ dẫn địa lý của tỉnh Hải Dương

Tạp chí Làng nghề Việt Nam! Cơ quan Trung Ương Hiệp Hội Làng Nghề Việt Nam, Tiếng Nói Của Các Làng Nghề, Nghệ Nhân Cả Nước
Đặc biệt, EVFTA sẽ mở ra cơ hội cho sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý của Việt Nam được công nhận trên toàn bộ các quốc gia trong khối EU. Bởi theo cam kết của EVFTA về chỉ dẫn địa lý, khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bảo hộ trên 160 chỉ dẫn địa lý của EU (bao gồm 28 thành viên) và EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Trong khi, các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đều liên quan tới nông sản, thực phẩm. Đây chính là điều kiện thuận lợi để một số chủng loại nông sản của Việt Nam xây dựng và khẳng định thương hiệu của minh tại thị trường EU.


Ông Trần Văn Liêm, ở khu 3 thị trấn Thanh Hà, huyện Thanh Hà, Hải Dương nổi tiếng khắp vùng nhờ trồng và bán củ đậu “khổng lồ”


Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, EU hiện đang là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch hai chiều năm 2019 đạt 56,45 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 41,5 tỷ USD, nhập khẩu từ EU đạt 14,9 tỷ USD. Đó là những dấu hiệu tích cực cho tất cả sản phẩm của Việt Nam nói chung, cho sản phẩm nông nghiệp nói riêng.

Nhận thức được điều đó, tỉnh Hải Dương đã chú trọng quan tâm trong việc xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ về chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông sản từ rất sớm. Để một sản phẩm được công nhận chỉ dẫn địa lý, cần nhiều thời gian và nhiều bước: Trước tiên phải ổn định chủ động về chất lượng giống đầu vào, ổn định vùng sản xuất, có mô tả về đặc trưng thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán sản xuất; Mô tả đặc trưng, chất lượng sản phẩm...


Củ đậu được trồng từ tháng 6 âm lịch và cho thu hoạch một vụ duy nhất là vụ Tết.


Sản phẩm vải thiều Thanh Hà là một đặc sản có danh tiếng từ lâu của tỉnh, được Hải Dương sớm quan tâm hỗ trợ xây dựng chỉ dẫn địa lý và được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận chỉ dẫn địa lý số 0009 ngày 25/5/2007. Chỉ dẫn địa lý này đã được giao cho UBND huyện Thanh Hà quản lý, sử dụng. Quả vải thiều mang chỉ dẫn địa lý Thanh Hà có hương thơm nhẹ, vỏ mỏng màu vàng nhạt, giòn, dễ bóc, gai lì, cuống nhỏ giòn dễ bẻ, lớp áo lụa hồng nhạt, khi bóc lộ ra lớp cùi bóng, không bị nát, thịt quả đanh, có màu trắng đục, khi ăn vị ngọt thanh, hậu vị không có vị chát, hạt nhỏ. Từ khi quả vải thiều Thanh Hà được công nhận chi dẫn địa lý đến nay, người dânyên tâm sản xuất hơn, diện tích trồng vải cơ bản ổn định, sản phẩm vải thiều Thanh Hà ngày càng khẳng định được thương hiệu của mình; có giá bán luôn cao hơn các sản phẩm vải thiều khác; Sản phẩm vải thiều Thanh Hà cũng đã được xuất khẩu sang một số thị trường khó tính, mang lại giá trị kinh tế và giải quyết việc làm cho bộ phận không nhỏ người lao động địa phương, đồng thời góp quảng bá sản phẩm nông sản tỉnh Hải Dương ra khắp vùng miền và cả thị trường quốc tế. Tỉnh cũng duy trì và kết nối với các doanh nghiệp thương mại lớn trong nước để tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại tại địa phương vào đầu mỗi vụ vải thiều; Đồng thời tổ chức nhiều giai đoạn nối tiếp nhau cho các hoạt động hỗ trợ nhận diện sản phẩm: Từ xây dựng, thiết kế và in ấn hệ thống nhận diện gồm logo, bao bì, nhãn treo, tờ rơi, tem truy xuất nguồn gốc... Để đưa sản phẩm vải thiều Thanh Hà ra các thị trường khó tính, tỉnh đã hỗ trợ hướng dẫn kỹ thuật làm đất, chăm sóc, thu hoạch cho bà con, xây dựng các vùng vải sản xuất theo tiêu chuẩn GAP trong đó có 131,68 ha vải đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Tỉnh cũng có website thông tin riêng về chỉ dẫn địa lý vải thiều Thanh Hà tại địa chỉ http://vaithieuthanhha.net.vn. Tuy nhiên, website chưa được hỗ trợ để cập nhật tin tức theo thời điểm, thậm chí theo từng giờ để hỗ trợ người dân và tư thương trong thời vụ. Hiện tại website cũng đã lỗi thời, chỉ mang tính thông tin, không có tính năng bán hàng trực tuyến nên cũng hạn chế để quả vải thiều mang chỉ dẫn địa lý không bị tư thương ép giá và đánh đồng với quả vải thiều của vùng không được gắn chỉ dẫn địa lý.Địa phương cũng hình thành 2-3 doanh nghiệp kinh doanh và xuất khẩu sản phẩm vải thiều, nhưng thực sự chưa đủ tầm của một doanh nghiệp lớn. Cũng do đặc tính chín đồng loạt và chỉ có thời vụ của sản phẩm vải thiều, nên doanh nghiệp chưa đủ khả năng để bao tiêu toàn bộ sản phẩm của cả vùng sản xuất rộng lớn.


Ngoài ra, tỉnh Hải Dương hiện còn một số sản phẩm nông sản tiềm năng có thể đăng ký chỉ dẫn địa lý, có đặc trưng về thổ nhưỡng, tập quán canh tác, người nông dân làm chủ về cây giống, chất lượng sản phẩm tốt, được thị trường nhận diện khác biệt và ưa chuộng như: Nếp cái hoa vàng Kinh Môn, nếp Quýt, củ đậu Kim Thành, rươi cáy của vùng Tứ Kỳ, Thanh Hà... Các sản phẩm này hiện đã được tỉnh hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu tập thể và khai thác phát triển thị trường rất tốt. Trong “Chương trình ứng dụng khoa học và công nghệ phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ góp phần xây dựng nông thôn mới tỉnh Hải Dương giai đoạn 2021-2025" tỉnh sẽ tiếp tục nghiên cứu, rà soát, lựa chọn các sản phẩm đáp ứng yêu cầu bảo hộ để hỗ trợ xây dựng và phát triển chỉ dẫn địa lý của tỉnh.

Song song với cơ hội, EVFTA cũng tiềm ẩn nhiều thách thức, khó khăn cho phía Việt Nam nói chung và cho sản phẩm nông sản của tỉnh Hải Dương nói riêng:

Ba điểm yếu từ bên trong tạo ra thách thức cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh bao gồm: Những hạn chế trong khả năng tiếp cận tìm kiếm thông tin thị trường và kỹ năng xuất khẩu hàng hóa; Thiếu nguồn lực tài chính để đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh, thương mại; Các doanh nghiệp còn thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh hỗ trợ nhau trong canh tranh.


Ba thách thức đến từ bên ngoài bao gồm: Các đối thủ cạnh tranh họ có hàng hóa tương tự, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp; Doanh nghiệp của phía EU tổ chức bài bản, nhiều kinh nghiệm, vận hành hiệu quả; Công tác phòng vệ thương mại trong hoạt động chống trợ cấp và chống bán phá giá của chính phủ các nước EU được đảm bảo rất tốt, chặt chẽ, có kinh nghiệm, hệ thống ma trận rào cản kỹ thuật của các nước trong khối EU liên quan đến VSATTP, BVMT và trách nhiệm xã hội, tỉ lệ nội địa hóa, quy tắc ứng xử, xuất xứ hàng hóa cũng là những thách thức lớn đối với sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam nói chung, của Hải Dương nói riêng.

Để tận dụng cơ hội, thế mạnh và hạn chế những điểm yếu, vượt lên trên thách thức, một số vấn đề đặt ra cần giải quyết đó là:

Trước tiên cần sự nỗ lực thay đổi của chính người sản xuất về nhận thức, tiếp cận thị trường, cách thức tổ chức kinh doanh, đổi mới sản xuất, sự đoàn kết giữa doanh nghiệp cùng lĩnh vực thông qua việc hình thành và tổ chức hoạt động hiệu quả của các hiệp hội ngành, nghề; Cần sự hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước xây dựng, duy trì kênh thông tin, đường dây nóng cung cấp, cập nhật kịp thời, tuyên truyềnmạnh mẽ về các rào cản kỹ thuật của EU; hỗ trợ triển khai đa dạng các hoạt động xúc tiến, thương mại, triển lãm, quảng bá sản phẩm nông sản của tỉnh.


Cần hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, kịp thời cung cấp thông tin, dịch vụ về xuất nhập khẩu, thông tin thị trường.

Đặc biệt, sắp tới cần sự quan tâm của các ngành, các cấp từ trung ương tới địa phương để các sản phẩm nông nghiệp đặc sản của tỉnh sớm được hỗ trợ trong việc xây dựng, đăng ký bảo hộ và công nhận chỉ dẫn địa lý.

THS. Đinh Thị Bình
Sở Khoa học và công nghề tỉnh Hải Dương

Tin liên quan

Tin mới hơn

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.

Tin khác

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Viện Nghiên cứu, Tư vấn Kiến trúc và Bảo tồn phát triển Làng nghề chính thức đi vào hoạt động

Viện Nghiên cứu, Tư vấn Kiến trúc và Bảo tồn phát triển Làng nghề chính thức đi vào hoạt động

LNV - Ngày 8/8/2026, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu, Tư vấn Kiến trúc và Bảo tồn phát triển Làng nghề (RICACVCD) tổ chức Lễ công bố chính thức đi vào hoạt động, mở ra hướng đi mới trong nghiên cứu, tư vấn quy hoạch, kiến trúc, bảo tồn và phát triển bền vững
Nho Lâm - Cái nôi nghề rèn truyền thống của Nghệ An

Nho Lâm - Cái nôi nghề rèn truyền thống của Nghệ An

Làng Nho Lâm, xã Tân Châu, tỉnh Nghệ AN nổi tiếng với nghề rèn truyền thống, lưu giữ di sản văn hóa, gắn với truyền thuyết Thánh tổ Cao Lỗ.
Sinh viên tham gia "Đánh thức"  Di sản Làng nghề Hà Nội

Sinh viên tham gia "Đánh thức" Di sản Làng nghề Hà Nội

Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2026 trở nên sôi động hơn bao giờ hết với sự xuất hiện của hơn 100 sinh viên đến từ nhiều trường đại học
Hội chợ công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026 tại Hà Tĩnh

Hội chợ công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026 tại Hà Tĩnh

Hội chợ công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026 quy tụ 250 gian hàng
Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết 57

Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết 57

LNV - Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 2/8/2026).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động