Nón lá - một ký hiệu của văn hóa Việt

LNV - Từ bao đời nay người Việt đã biết ứng xử với nắng mưa qua chiếc nón đội đầu, nên mới có câu ca dao: “Nón mua một đồng mốt, tốt tựa như rồng / Sao em không mua mà đội để má hồng nắng ăn”. Trong đó, chiếc nón lá trải qua bao đời được xem như một ký hiệu đặc biệt của văn hóa nước ta…
“Sinh sống trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều, người Việt đã biết tận dụng những nguyên liệu dễ kiếm từ thiên nhiên để làm ra những chiếc nón che đầu từ rất sớm. Nhờ vào nguồn nguyên liệu phong phú mà nón của người Việt cũng hết sức đa dạng: nón được lợp từ lá của các cây họ cọ như lá kè, lá gồi, lá lụi hoặc lá buông, lá dứa, lá dừa... Những chiếc nón được đan từ sợi rơm, nan giang, được ghép từ cật tre cũng được gọi chung là nón lá. Những nguyên liệu ấy có sẵn ở cả ba miền đất nước, thế nên ở đâu cũng có những vùng, những nghề làm nón nổi tiếng: nón thúng xứ Nghệ, nón ngựa Bình Ðịnh, nón bài thơ xứ Huế, nón Thanh Oai - Hà Nội...”(1).


Nón lá gắn với sự cần mẫn và chịu thương chịu khó của người phụ nữ nông thôn. Ảnh: DUY KHÔI


Như vậy, chiếc nón lá là sự sáng tạo của người dân lao động trong việc tận dụng môi trường thiên nhiên để tạo ra vật đội trên đầu, góp phần bảo vệ sức khỏe, ứng phó lại với thời tiết, với thiên nhiên khắc nghiệt. Chiếc nón lá tuy đơn sơ, giản dị nhưng đã giúp bao người che nắng, che mưa; đồng thời, hình ảnh chiếc nón lá còn thể hiện nét văn hóa của cư dân nông nghiệp, góp phần tô điểm thêm sự dịu dàng, duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam.

Theo các nguồn sử liệu, từ thời Trần, ở làng Ma Lôi, thuộc lộ Hồng Châu (Hải Hưng và Hải Phòng) đã làm ra một loại nón gọi là Ma Lôi. Ðến thời Lê Mạt, người ta chọn thứ lá nhỏ để làm nón và trong buổi sơ khai, chiếc nón lá đã có nhiều kiểu, dành cho nhiều tầng lớp người khác nhau, từ giàu sang đến kẻ nghèo, từ quan trên đến người hầu hạ. Ðến thế kỷ thứ XIX, chiếc nón lá đã thật sự định hình, thể hiện được sự duyên dáng, thanh lịch của người đội. Cũng trong giai đoạn này, các địa phương khác nhau: Cao Bằng, Thanh Hóa, Huế… đã tạo được những kiểu dáng riêng, đặc trưng cho nón lá của quê mình, góp phần làm nên sự đa dạng của nón lá Việt Nam.

“Có lẽ Chu Khứ Phi là người đầu tiên đề cập đến chiếc nón Việt. Ðó là đoạn miêu tả về chiếc “loa lạp” (nón hình ốc) của người Việt trong “Lĩnh Ngoại đại đáp” năm 1178. Sau đó, năm 1307, Mã Ðoan Lâm dựa theo Chu Khứ Phi, miêu tả lại trong “Văn hiến thông khảo” như sau: nón hình xoắn ốc, hình dáng của nó giống như những con ốc... được làm rất khéo từ lạt tre mỏng. [...] Hình ảnh sớm nhất về nón lá của người Việt được ghi nhận là trong bức họa “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” của Trần Giám Như vào khoảng năm 1363. Trong bức họa này, có thể thấy rõ hai người đàn ông đội hai chiếc nón có hình dáng khác nhau: người thứ nhất đội chiếc nón vành xòe rộng, bên trên có cái chũm nhô cao. Người đàn ông thứ hai đội chiếc nón cũng rộng vành nhưng chớp nhọn..”(2).

Ở Nam Bộ, chiếc nón lá cũng được đề cập khá sớm. Nón lá cùng với các phục sức khác như quần áo, váy, búi tóc... đã từng là nét văn hóa đặc trưng của người dân xứ này. Ðiều này đã được Trịnh Hoài Ðức ghi lại trong “Gia Ðịnh thành thông chí” như sau: “Duy có người Việt ta noi theo tục cũ Giao Chỉ: người quan chức thì đội khăn cao sơn, mặc áo phi phong, mang giày bì đà, hạng sĩ thứ thì bới tóc, đi chân trần, con trai con gái đều mặc áo vắn tay bâu thẳng, may kín hai nách (…), đội nón lớn, hút điếu binh, ở nhà thấp, trải chiếu ngồi dưới đất, không có bàn ghế”(3).

***

Có lẽ dáng hình của phụ nữ Việt Nam mảnh mai, thon thả, phù hợp với nón lá nên dần dà loại nón này đã phát triển rộng khắp cả nước, từ thành thị đến nông thôn, từ giới giàu sang đến người chân đất đều sử dụng như một vật trang sức cho riêng mình. Nếu như chiếc áo dài trở thành biểu tượng nhận diện của văn hóa Việt Nam, thì chiếc nón lá cũng có sức chinh phục riêng, tạo thành ký hiệu văn hóa đặc thù. Ở thành thị, chiếc nón lá thường đi kèm với trang phục áo dài, cả hai kết hợp lại, tạo nên cốt cách, dáng vẻ lịch thiệp, đài cát của người người phụ nữ Việt Nam. Ðặc biệt là các nữ sinh trong trang phục áo dài trắng, tóc cột đuôi gà hay chấm ngang vai, đội chiếc nón lá thanh tú, thong thả đạp từng vòng xe mỗi độ tan trường đã là hình ảnh đi vào thơ ca, nhạc họa.

Ở nông thôn, nhất là ở nông thôn Nam Bộ, hình ảnh chiếc nón lá, áo bà ba đã bao đời gắn liền với những con người tần tảo. Nón lá là bạn đồng hành của các cụ ông cụ bà, các thôn nữ… trong cuộc sống và lao động. Mỗi khi ra đồng, những khi cày cấy, chiếc nón lá được dùng để che nắng, che mưa, để quạt mát lúc nghỉ trưa bên cội cây già. Và đặc biệt, nón lá là hành trang của thôn nữ trong những buổi chợ đông hay dùng để đựng dăm ba củ khoai, củ sắn, mớ rau muống những lúc chợ chiều… tô đậm thêm nét dịu dàng, hiền hòa, chịu thương chịu khó của các cô gái nơi làng quê.

Bởi vậy, thật chí lý khi nói rằng: “Nón lá và ghe xuồng gần như trở thành những vật bất ly thân của người dân Tây Nam Bộ:

Thiếu nữ với áo bà ba và nón lá. Ảnh: DUY KHÔI


Nào khi anh dỗ chẳng nghe,

Bây giờ xách nón chèo ghe đi tìm.

Chiếc nón là phương tiện để bày tỏ tình thương yêu:

Anh thương em đưa nón đội đầu,

Về nhà ba má hỏi, đi qua cầu gió bay.

Và để lấy cớ giận hờn, thử thách:

Năm ngoái năm xưa em còn kha khá,

Năm nay nghèo quá nên đội nón lá

bung vành.

Ðứt quai nên nón tròng trành,

Hỏi anh xin cắc bạc mua nón lành

đội chơi”(4).

Tóm lại, nón lá ngoài chức năng che mưa che nắng, còn được bao thế hệ phụ nữ Việt Nam xem như trang sức, là một biểu tượng văn hóa góp phần hình thành nên vẻ đẹp thanh thoát, dịu dàng nhưng không kém phần ý vị. “Dẫu chỉ là một vật dụng đơn sơ nhưng trải hàng trăm năm gắn bó, chiếc nón lá được cả người làm ra nó và người đội gửi gắm biết bao tâm tư ước vọng. Từ để đội đầu, đơn giản để che mưa nắng, nó trở thành một ký hiệu văn hóa góp phần nhận diện bản sắc của cả một dân tộc”(5).

Ngày nay, người ta làm ra nhiều loại và nhiều kiểu nón, đặc biệt là loại nón bằng vải tiện dụng, gọn gàng, hợp thời trang, rất thịnh hành. Thế nhưng chiếc nón lá Việt Nam vẫn âm thầm tồn tại, phát triển và hầu như nhà nào cũng có chiếc nón lá được bà, được mẹ treo ở một góc để sử dụng hằng ngày khi đi chợ, đi xóm. Chiếc nón lá còn xuất hiện với nhiều hình thức đẹp mắt, thẩm mỹ và sáng tạo về kích cỡ, hoa văn chìm trong nón... ở hầu hết các điểm du lịch cả nước, theo chân du khách đi khắp thế giới...

--------------------

(1) Bùi Quang Thắng (2018), Nét cũ duyên xưa, Nxb Lao Động, tr.52.

(2) Bùi Quang Thắng , Sđd, tr.56-57.

(3) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo. Nha Văn Hóa - Phủ Quốc vụ khanh - Đặc trách văn hóa xuất bản năm 1972, quyển Hạ, Tr. 6.

(4) Trần Ngọc Thêm (Chủ biên), Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, Nxb Văn hóa văn nghệ, tr.478.

(5) Bùi Quang Thắng , Sđd, tr.54.

Theo Báo Cần Thơ

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc

LNV -Sáng 22/8, tại Chùa Đại Bi, thuộc Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Sóc, xã Sóc Sơn tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu năm 2026 trong không khí trang nghiêm, thành kính, thu hút đông đảo tăng ni, phật tử, Nhân dân và du khách thập phương tham dự.
Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

Trường THPT Bạch Đằng: Nỗ lực nâng chất lượng giáo dục, hướng tới môi trường học đường toàn diện

LNV - Trường THPT Bạch Đằng (Hải Phòng) luôn chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động giáo dục đạo đức, kỹ năng và trải nghiệm cho học sinh. Nhà trường đã đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó có thành tích tại các k
Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026

Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu miền Trung - Tây Nguyên 2026

Từ ngày 21 - 26/8/2026, tại Quảng trường Trần Phú (phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh) diễn ra Hội chợ Triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2026. Sự kiện do Bộ Công Thương và UBND tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo; Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công phối hợp với Sở Công Thương Hà Tĩnh tổ chức. Đây là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại trọng điểm thuộc Chương trình khuyến công quốc gia năm 2026.
Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV

Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV

Ngày 21/8, tại Hà Tĩnh, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương Hà Tĩnh tổ chức Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ XV năm 2026.
Hà Nội công nhận 13 sản phẩm OCOP đợt 1 năm 2026

Hà Nội công nhận 13 sản phẩm OCOP đợt 1 năm 2026

LNV - Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Bùi Duy Cường vừa ký ban hành Quyết định số 4325/QĐ-UBND ngày 16-8-2026 về công nhận kết quả đánh giá, phân hạng và cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm OCOP thành phố Hà Nội năm 2026 (đợt 1).
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động