Hà Nội: 30°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 32°C Thừa Thiên Huế

Nhọc nhằn nghề trồng dâu nuôi tằm Hồng Đô

LNV - Giữa miền quê thanh bình của xứ Thanh, làng Hồng Đô thị trấn Thiệu Hóa, (huyện Thiệu Hóa) như một viên ngọc quý ẩn mình. Nơi đây, nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt nhiễu đã gắn bó với người dân từ bao đời nay, tạo nên một nét văn hóa đặc sắc và những sản phẩm tơ tằm nổi tiếng khắp vùng.
Chắc hẳn ít ai biết rằng, nghề tơ tằm ở Hồng Đô có lịch sử phát triển từ rất lâu đời. Từ những ngày đầu, người dân nơi đây đã làm quen với nghề trồng dâu, nuôi tằm và sản xuất tơ, phục vụ nhu cầu không chỉ của các gia đình mà còn đóng góp vào nền kinh tế địa phương. Nghề tơ tằm ở Hồng Đô không chỉ giúp người dân có thu nhập ổn định mà còn là một phần quan trọng trong bản sắc văn hóa của xã hội Việt Nam xưa và nay.

Tuy nhiên, khi nhắc đến thời kỳ vàng son của làng nghề tơ tằm Hồng Đô, người ta không thể không nhắc đến giai đoạn từ năm 1995 đến 2000. Đây là thời kỳ “hồi sinh” mạnh mẽ của nghề tơ tằm tại đây khi mà khoảng 400 hộ dân tham gia trồng dâu, nuôi tằm, tạo dựng một cơ sở sản xuất tơ sợi phong phú, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Dù ngày nay diện tích trồng dâu tằm tại thị trấn Thiệu Hóa chỉ còn khoảng 6 ha, nghề tơ tằm Hồng Đô vẫn giữ vững được nét riêng biệt, có sức sống bền bỉ giữa những thay đổi của thời gian.

Khi tằm đang đóng kén, người nuôi phải canh nắng nhẹ sao cho kén khô, thơm, để khi ươm tơ kén không bị tan, cho sợi tơ vàng óng.
Khi tằm đang đóng kén, người nuôi phải canh nắng nhẹ sao cho kén khô, thơm, để khi ươm tơ kén không bị tan, cho sợi tơ vàng óng.

Tơ tằm Hồng Đô nổi bật và khác biệt so với các sản phẩm tơ tằm ở nhiều nơi khác nhờ vào chất lượng vượt trội và quy trình sản xuất tinh xảo, mang đậm dấu ấn của nghệ nhân nơi đây. Đặc biệt, sợi tơ Hồng Đô không chỉ mềm mại, bóng mượt mà còn cực kỳ bền chắc, có độ đàn hồi cao, khiến chúng trở thành lựa chọn lý tưởng cho các sản phẩm cao cấp như vải lụa, áo dài, khăn tơ hay các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Khác với những loại tơ tằm thông thường, tơ Hồng Đô có màu sắc tự nhiên, tươi sáng và dễ dàng nhuộm, giúp tạo ra các sản phẩm có màu sắc rực rỡ, bền màu theo thời gian. Vào thế kỷ 19 tơ Hồng Đô rất được giới quý tộc hoàng gia ưa chuộm và được sử dụng trong cung đình Huế để tạo ra các sản phẩm vải vóc cao cấp như áo dài, chăn ga, và trang phục hoàng gia.

Một điểm đặc biệt khác khiến tơ Hồng Đô vượt trội so với các sản phẩm cùng loại là quy trình chăm sóc tằm. Người dân nơi đây nuôi tằm trong môi trường khép kín, được chăm sóc kỹ lưỡng từ việc chọn giống đến việc cung cấp thức ăn là lá dâu tươi ngon, giúp tằm phát triển mạnh mẽ, cho ra những chiếc kén hoàn hảo. Sợi tơ từ những chiếc kén này không chỉ mịn màng mà còn có độ dẻo dai, dễ dàng chế tác thành các sản phẩm thủ công chất lượng cao.

Công đoạn nuôi tằm lấy tơ ở Hồng Đô là một quá trình tỉ mỉ, đòi hỏi sự chăm sóc chu đáo và kiên nhẫn từ người thợ. Những chiếc lá dâu xanh mướt, tươi ngon được hái từ vườn dâu, trở thành bữa ăn chính của từng con tằm non, mảnh mai. Mỗi ngày, người dân Hồng Đô phải cẩn thận bổ sung lá dâu cho tằm, chia thành từng bữa nhỏ, giúp chúng phát triển khỏe mạnh.

Nhọc nhằn nghề trồng dâu nuôi tằm Hồng Đô

Thời gian trôi qua, tằm lớn dần, trải qua những lần lột xác, và khi đủ trưởng thành, chúng bắt đầu công việc quấn tơ. Mỗi con tằm chăm chỉ nhả ra những sợi tơ mảnh mai, mềm mại, quấn quanh mình thành những chiếc kén tinh tế, như là kết quả của bao ngày vất vả. Chăm sóc tằm trong giai đoạn này không chỉ đơn thuần là việc cung cấp thức ăn, mà còn là sự theo dõi chặt chẽ, bảo vệ chúng khỏi bệnh tật và biến động của thời tiết. Sự kỳ công ấy, từng bước, tạo ra những sản phẩm tơ tằm quý giá, phản ánh tâm huyết và tình yêu nghề của những người thợ làng Hồng Đô.

Tơ Hồng Đô còn đặc biệt bởi khả năng thấm hút tốt và tính năng thoáng khí, giúp các sản phẩm từ tơ tằm Hồng Đô không chỉ đẹp mà còn dễ chịu khi sử dụng, mang lại cảm giác sang trọng và thoải mái cho người tiêu dùng. Với những ưu điểm nổi bật này, tơ tằm Hồng Đô không chỉ là sự lựa chọn hàng đầu trong nước mà còn được ưa chuộng tại các thị trường quốc tế, khẳng định được thương hiệu và giá trị của nghề tơ tằm truyền thống nơi đây.

Dù tơ tằm Hồng Đô nổi bật với chất lượng vượt trội và được ưa chuộng rộng rãi, làng nghề này hiện đang đối mặt với không ít thách thức. Ngành trồng dâu, nuôi tằm đang dần bị đe dọa bởi những yếu tố khách quan như biến đổi khí hậu, thời tiết thất thường và sự thiếu hụt lao động trẻ. Nhiều gia đình ở Hồng Đô đã không còn tiếp nối nghề truyền thống, khi thế hệ trẻ không còn mặn mà với công việc này vì công sức bỏ ra quá lớn, nhưng thu nhập lại không ổn định. Thêm vào đó, sự cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm tơ tằm công nghiệp giá rẻ khiến sản phẩm của Hồng Đô càng gặp khó khăn trong việc duy trì thị trường.

Tằm vốn là giống “khó chiều”, đòi hỏi người nuôi phải tỉ mỉ, kiên nhẫn và yêu nghề thì mới có thể trụ lại được. Quá trình ươm tằm kéo dài từ 5 đến 7 ngày, trong đó ban ngày phải cho ăn ba lần, ban đêm hai lần, mỗi lần cách nhau khoảng bốn tiếng. Chu kỳ sinh trưởng của tằm phụ thuộc vào mùa và thời tiết, ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian thu hoạch. Vào mùa hè, một lứa kén có thể thu hoạch chỉ trong 20 ngày, nhưng mùa xuân phải mất đến một tháng, còn mùa đông thì kéo dài hơn một tháng. Để có đủ lá dâu cho tằm ăn, người dân phải dậy từ sáng sớm để hái lá, không ngừng tay chăm sóc, chia sẻ những nhọc nhằn mà ít ai biết đến.

Từ khi tằm nhả tơ cho đến lúc dệt thành vải phải trải qua nhiều giai đoạn.
Từ khi tằm nhả tơ cho đến lúc dệt thành vải phải trải qua nhiều giai đoạn.

Ông Nguyễn Văn Hới người đàn ông chập tuổi 60 đã gắn bó với nghề hơn nửa đời người cho biết “Nghề này tưởng đơn giản nhưng không hề đơn giản tí nào, làm mệt lắm. Những ngày nắng thì không sao nhưng cứ đến mùa mưa lụt thì khổ lắm, có hai ông bà già phải hái lá dưới mưa, người ướt hết nhưng cũng phải cố hái để đủ lá dự trữ cho tằm ăn”.

Vất vả là thế nhưng những người dân nơi đây vẫn lấy nghề nuôi tằm làm động lực bởi thành quả cuối cùng mang lại cho họ niềm hạnh phúc. Với giá bán dao động 80-100 nghìn/kg kén vàng, bình quân thu nhập đem lại cho gia đình anh chỉ được từ 3-5 triệu mỗi tháng, nếu được mùa thì hơn 10 triệu/tháng.

“Trước đây, Hồng Đô nhà nào cũng nuôi tằm, nhưng vì nghề nuôi tằm vất vả quá, hiệu quả kinh tế không cao nên nhiều người đã bỏ nghề. Giờ chỉ còn khoảng vài hộ nuôi, chủ yếu là những người lớn tuổi làm thôi, vì con cái họ đều đi làm ăn xa cả rồi. Trên thị trường, một chiếc áo hay cái quần làm từ vải tơ tằm có giá tiền triệu, nhưng ít ai biết được công đoạn nuôi tằm cực kỳ gian nan như thế nào. Cái giá bán ra lại bèo bọt, chẳng đủ bù lại công sức mà chúng tôi bỏ ra.” Ông Hới tâm sự.

Nhọc nhằn nghề trồng dâu nuôi tằm Hồng Đô
Nhọc nhằn nghề trồng dâu nuôi tằm Hồng Đô
Trải qua những thăng trầm, đến nay nghề đã và đang hồi sinh, đem lại thu nhập ổn định cho người dân.

Giữa bối cảnh hiện nay, nghề tơ tằm Hồng Đô đang đối diện với nhiều thách thức lớn, từ biến đổi khí hậu đến sự thiếu hụt lao động trẻ và cạnh tranh từ các sản phẩm tơ tằm công nghiệp giá rẻ. Mặc dù tơ tằm Hồng Đô vẫn giữ được chất lượng vượt trội và có thị trường tiêu thụ ổn định, nhưng nghề này không còn thu hút được nhiều người trẻ tham gia. Một phần vì công việc đòi hỏi nhiều công sức và thời gian, trong khi thu nhập lại không ổn định.

Ngoài ra, việc duy trì nghề trồng dâu, nuôi tằm cũng gặp khó khăn khi đất đai ngày càng bị thu hẹp và ảnh hưởng của thời tiết thất thường. Mặc dù vẫn có một số hộ gia đình tiếp tục duy trì nghề, phần lớn người dân trong làng đã chuyển sang các công việc khác. Điều này khiến cho nghề tơ tằm Hồng Đô đang đứng trước nguy cơ mai một, nếu không có giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững.

Tuy nhiên, với những nỗ lực từ những người làm nghề và sự hỗ trợ từ các cấp chính quyền, hy vọng nghề tơ tằm Hồng Đô có thể vượt qua khó khăn, duy trì được những giá trị truyền thống, đồng thời tìm kiếm hướng phát triển phù hợp trong bối cảnh hiện đại.

Hoàng Yến

Tin liên quan

Nghề trồng dâu nuôi tằm – Hướng phát triển bền vững ở xã Đak Lua, Đồng Nai

Nghề trồng dâu nuôi tằm – Hướng phát triển bền vững ở xã Đak Lua, Đồng Nai

LNV - Nghề trồng dâu nuôi tằm là một trong những nghề truyền thống lâu đời tại Việt Nam, gắn liền với lịch sử sản xuất tơ lụa dân tộc. Tại xã Đak Lua, huyện Tân Phú (Đồng Nai), nghề này đã được duy trì và phát triển suốt hơn 30 năm, trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ dân, đồng thời góp phần gìn giữ giá trị văn hóa làng nghề.
Nghề dệt lụa làng Đốc Tín vang bóng một thời

Nghề dệt lụa làng Đốc Tín vang bóng một thời

LNV - Nghề dệt lụa ở làng Đốc Tín, xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức, Hà Nội (nay là xã Hương Sơn, Hà Nội) đã có một thời gian phát triển mạnh mẽ.
Nghệ An: Nghề thủ công truyền thống nhiều thăng trầm

Nghệ An: Nghề thủ công truyền thống nhiều thăng trầm

LNV - Nghệ An là một tỉnh có nhiều nghề thủ công truyền thống. Các làng nghề đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển thăng trầm của lịch sử. Xuất phát từ việc tranh thủ khoảng thời gian nông nhàn trong sản xuất, đồng thời tận dụng nguồn nguyên vật liệu tại địa phương, người nông dân đã làm ra các sản phẩm thủ công nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của chính bản thân, gia đình. Dần dần, việc sản xuất các sản phẩm thủ công được phát triển và chuyên môn hóa.

Tin mới hơn

Hương cốm nếp làng Thạc

Hương cốm nếp làng Thạc

LNV - Người làng Thạc không nhớ nghề này có từ khi nào chỉ biết sử sách chép lại ông tổ của nghề cốm là cụ Trần Xuân Yến (sinh năm 1689). Cụ Yến từng đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ hai (1721). Ông được triều đình phong chức Quốc Tử giám Tế Tửu. Sau đó được phong tặng “Hàn lâm viện thừa chỉ”. Khoảng thời gian ở Thăng Long trông coi việc học hành của các sĩ tử dòng dõi hoàng tộc và quan lại ở kinh đô, ông học được nghề làm cốm nếp của làng Vòng. Là quà quý, nên ông quyết mang nghề về truyền dạy cho dân làng Thạc. Nghề cốm nếp du nhập vào làng từ đó và lưu truyền đến tận ngày nay.
Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

LNV - Làng nghề kết hợp kiểm định, thương hiệu, du lịch trải nghiệm và công nghệ số để duy trì bền vững, giữ gìn di sản văn hóa truyền thống.
Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

LNV - Làng cau Cao Nhân là một làng nghề chuyên trồng cau truyền thống có từ lâu đời tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đây chính là vựa cau vô cùng nổi tiếng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến thăm ngôi làng này sẽ được khám phá và chiêm ngưỡng đặc sản cau, được tận mắt thấy cau bổ tám bổ tư, miếng trầu têm cánh phượng vô cùng bắt mắt đầy tinh tế.
Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

LNV - Nằm bên dòng sông Nhuệ hiền hòa, xã Chương Mỹ, Hà Nội từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “độc nhất vô nhị” với nghề khảm trai, sơn mài truyền thống có bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

LNV - Sáng 27/5, tại Ninh Bình, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Hội thảo không chỉ là diễn đàn góp ý cho một văn bản pháp lý mới, mà còn cho thấy những trăn trở lớn về tương lai của làng nghề Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

LNV - Bộ Công Thương vừa ban hành kế hoạch đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề truyền thống.

Tin khác

Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

LNV - Làng nghề truyền thống Việt Nam vừa tiễn biệt một người nghệ nhân tâm huyết, cả đời tận tụy với nghề và luôn đau đáu với việc gìn giữ những giá trị thủ công truyền thống. Nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy – hội viên Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, học trò của Nghệ nhân Nhân dân hoa lụa Mai Hạnh – đã từ trần ngày 23/5/2026 sau thời gian chống chọi với bệnh hiểm nghèo, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với gia đình, đồng nghiệp, học trò cùng những người yêu quý hoa thủ công truyền thống.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề đan mành tre ở Tây Xuyên (xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên) vẫn được người dân gìn giữ như một nét đẹp văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Từ những thân tre mộc mạc, người thợ nơi đây đã tạo nên những chiếc mành giản dị, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình và lưu giữ nếp sống thanh nhã, kín đáo của người Việt.
Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

LNV - Lụa Vạn Phúc (Hà Nội) từ lâu đã trở thành biểu tượng của tinh hoa thủ công truyền thống. Nếu chất lụa tạo nên vẻ đẹp mềm mại thì các họa tiết, hoa văn chính là những ký hiệu đã được mã hóa thể hiện cho văn hóa, giá trị thẩm mỹ của cư dân nông nghiệp Bắc Bộ. Vì vậy khám phá hoa văn trên lụa Vạn Phúc cũng là hành trình đọc lại một “văn bản văn hóa” được viết lên bằng những sợi tơ.
Những nụ cười còn lại trong ký ức

Những nụ cười còn lại trong ký ức

LNV - Khi tục nhuộm răng đen dần lùi vào ký ức, nghề làm thuốc xỉa - thứ “bí quyết giữ màu răng” từng gắn với nét đẹp của người phụ nữ Huế - cũng theo đó mà mai một. Ở Huế hôm nay, vợ chồng ông Đinh Bảo Ân (63 tuổi, trú đường Chi Lăng) gần như là những người cuối cùng còn lưu giữ công thức thuốc xỉa gia truyền, níu lại một phần ký ức của nụ cười đen nhánh từng đi vào ca dao xứ Huế.
Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

LVN - Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nghệ thuật gốm cổ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ một phần ký ức văn hóa dân tộc qua từng lớp men da lươn, từng sắc nâu trầm mặc của đất và lửa.
Đánh thức giá trị di sản làng nghề

Đánh thức giá trị di sản làng nghề

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu được ví như những “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử và bản sắc văn hóa cộng đồng. Trong không gian ấy, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ mang giá trị hàng hóa, mà còn kết tinh tri thức dân gian, bàn tay tài hoa của người thợ và sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua bao thế hệ.
“Báu vật” của làng nghề

“Báu vật” của làng nghề

LNV- Không trực tiếp mưu sinh giữa trùng khơi, nhưng nhiều người dân ở các làng biển Quảng Trị lại nắm giữ những “bí kíp” làm nên loại nước mắm nguyên chất, ruốc quệt đặc, ruốc quệt lỏng thơm ngon thượng hạng. Những sản phẩm ấy có thể bảo quản từ 2-3 năm mà vẫn giữ nguyên hương vị đậm đà. Họ được ví như những “báu vật sống” của làng nghề truyền thống nơi miền chân sóng.
Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

LNV- Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Thế nhưng, trước nhịp sống hiện đại và sự đổi thay không ngừng của thị trường, nhiều làng nghề trong tỉnh đang đối mặt với nguy cơ mai một. Giữ “lửa” cho làng nghề hôm nay không chỉ là nỗi niềm của những nghệ nhân gắn bó với nghề, câu chuyện mưu sinh của người dân, mà còn là trăn trở về việc gìn giữ hồn cốt văn hóa truyền thống đang dần phai nhạt theo thời gian.
Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

LVN - Ngày 8/5/2026, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

LNV - Cùng với 54 dân tộc trên cả nước, văn hóa truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai tỉnh Gia Lai là bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là “lá chắn mềm” góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hình mới.
Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

LNV - Lễ cúng giọt nước là một trong những nghi lễ đặc trưng, linh thiêng và giàu bản sắc của người Bahnar.
Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

LVN - Xã Cao Bồ, tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức thành công Lễ hội “Miền chè di sản” lần thứ III năm 2026, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và trải nghiệm đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân cùng du khách thập phương tham dự. Sự kiện được tổ chức nhằm quảng bá thương hiệu chè Shan tuyết cổ thụ, tôn vinh nghề sao chè thủ công truyền thống và mở rộng cơ hội kết nối đầu tư, phát triển du lịch cộng đồng
Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

LNV - Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), tối 14/5, Sở Văn hóa và Thể thao TP. Huế tổ chức Lễ hội làng Dương Nỗ năm 2026 với chủ đề “Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm”. Chương trình không chỉ tái hiện những giá trị văn hóa truyền thống của vùng quê giàu lịch sử, mà còn là dịp tưởng nhớ và tri ân nơi từng gắn bó với tuổi thơ, quá trình học tập của Bác Hồ thời niên thiếu.
Làng nghề trầm hương Phú Hội 1 “hồn thơm” hơn 100 năm tuổi ở Khánh Hòa

Làng nghề trầm hương Phú Hội 1 “hồn thơm” hơn 100 năm tuổi ở Khánh Hòa

LNV - Giữa vùng quê yên bình của xã Vạn Thắng, tỉnh Khánh Hòa, làng nghề trầm hương Phú Hội 1 đã tồn tại hơn một thế kỷ như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa và kinh tế của người dân địa phương. Qua nhiều thế hệ, nghề làm trầm không chỉ giúp người dân mưu sinh mà còn lưu giữ nét đẹp truyền thống đặc trưng của vùng đất được mệnh danh là “xứ trầm hương” của Việt Nam.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Quảng Ninh gặp mặt chức sắc, chức việc Phật giáo nhân dịp Đại lễ Phật đản 2026

Quảng Ninh gặp mặt chức sắc, chức việc Phật giáo nhân dịp Đại lễ Phật đản 2026

Nhân dịp Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 - Dương lịch 2026, chiều ngày 27/5/2026 tỉnh Quảng Ninh tổ chức gặp mặt, chúc mừng các chức sắc, chức việc Phật giáo toàn tỉnh.
Hương cốm nếp làng Thạc

Hương cốm nếp làng Thạc

Người làng Thạc không nhớ nghề này có từ khi nào chỉ biết sử sách chép lại ông tổ của nghề cốm là cụ Trần Xuân Yến
Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Làng nghề kết hợp kiểm định, thương hiệu, du lịch trải nghiệm và công nghệ số để duy trì bền vững, giữ gìn di sản văn hóa truyền thống
Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân là một làng nghề chuyên trồng cau truyền thống có từ lâu đời tại Thủy Nguyên, Hải Phòng.
Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “độc nhất vô nhị” với nghề khảm trai, sơn mài truyền thống có bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Giao diện di động