Hà Nội: 36°C Hà Nội
Đà Nẵng: 37°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 34°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 43°C Thừa Thiên Huế

Kinh tế làng nghề - Một bộ phận quan trọng của kinh tế tư nhân

LNV - Thời gian gần đây, sau khi vấn đề phát triển kinh tế tư nhân được nêu lên tại Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đã liên tiếp có nhiều cuộc họp, hội thảo để khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của kinh tế tư nhân trong công cuộc phát triển đất nước ta. Bài viết này nhằm góp phần nhận thức sâu sắc thêm về giá trị của kinh tế làng nghề - một bộ phận quan trọng của kinh tế tư nhân; Trong phát triển kinh tế tư nhân, không thể không coi trọng kinh tế làng nghề.
KINH TẾ TƯ NHÂN KHẲNG ĐỊNH VỊ TRÍ

Từ thân phận là một thành phần kinh tế bị cải tạo để đi đến xóa bỏ trong thể chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp những năm trước đây, đến nay, kinh tế tư nhân đã được công nhận là một động lực quan trong trong nền kinh tế - xã hội, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.

Khu vực kinh tế tư nhân đang bao gồm hơn 800 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và hơn 5,4 triệu hộ kinh doanh. Năm 2019, khu vực kinh tế tư nhân tạo ra khoảng 42% GDP, đóng góp 45% vốn đầu tư toàn xã hội, 30% thu ngân sách Nhà nước, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động cả nước. Chính khu vực tư nhân năng động này đã vận dụng các chính sách của nhà nước, khắc phục khó khăn, góp phần quan trọng đưa kinh tế nước ta bước đầu vượt qua đại dịch Covid-19, GDP tăng trưởng 2,9% trong năm 2020.


Các doanh nghiệp tư nhân ngày càng khẳng định vai trò và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, trở thành mũi nhọn tại một số lĩnh vực như du lịch, chế biến thực phẩm, công nghệ viễn thông; Một số tập đoàn đã đầu tư ra nước ngoài, phát triển thành công những sản phẩm, công trình mang tầm vóc khu vực giúp thăng hạng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể kể 10 doanh nghiệp/tập đoàn kinh tế tư nhân lớn nhất năm 2018 lần lượt là Vingroup, Thế giới Di động, Vinamilk, DOJI, Thaco, Hòa Phát, FPT, Vietjet, VP Bank và Masan mà tháng 12/2018, Vietnam Report đã công bố trong Bảng xếp hạng VNR500 - Top 500.

Đáng chú ý là trong cơ cấu của kinh tế tư nhân, số doanh nghiệp có đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, thực hiện hạch toán kinh tế, đóng thuế theo biên lai, chứng từ chỉ chiếm khoảng 12% GDP. Còn lại khoảng 30% GDP là phần đóng góp của hơn 5,4 triệu hộ kinh doanh đăng ký ở quận, huyện, nộp thuế khoán, thuộc loại hình kinh tế phi hình thức đang phủ khắp các vùng từ đô thị đến nông thôn. Với quy mô nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ, vốn ít, lao động ít, quản lý đơn giản, các hộ này đã bảo đảm cuộc sống cho khoảng 20 triệu người dân, góp phần gây dựng cuộc sống ấm no của các tầng lớp nhân dân, ổn định trật tự, an ninh xã hội. Hộ kinh doanh cũng là nơi cho các chủ hộ tập dượt, tích lũy kinh nghiệm, vốn liếng để từng bước lớn lên thành những doanh nghiệp, những tập đoàn kinh tế tư nhân. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã chỉ rõ dù đã công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một nền kinh tế vẫn không thể không có những doanh nghiệp nhỏ và vừa, hình thành sự bổ sung tất yếu về nhiều mặt giữa các doanh nghiệp ở các quy mô khác nhau.

Trong thời gian tới, như Đại hội lần thứ XIII của Đảng (2021) đã quyết định “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, nhất là trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao” (Trích Báo cáo Chính trị trình Đại hội). Phấn đấu đến năm 2025 có khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp hoạt động; Tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP khoảng 55%; đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp đạt 60%-70%.


Thực hiện Nghị quyết Đại hội, tại phiên họp Chính phủ ngày 18/2/2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn chỉnh Đề án đổi mới toàn diện quản lý nhà nước để tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ.

Ngày 6/3/2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc gặp mặt, đối thoại với các doanh nhân, trí thức với chủ đề “Đối thoại 2045”. Phát biểu tổng kết, Thủ tướng đã cam kết “Tiếp tục thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là các Bộ trưởng, cam kết bảo đảm sự ổn định của kinh tế vĩ mô và minh bạch hóa chính sách; Các bộ, ngành và địa phương phải mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực và cơ hội tham gia của doanh nghiệp; Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư và bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp theo cơ chế thị trường. Bảo đảm thực thi chính sách minh bạch, hiệu quả; Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; Mở rộng khả năng tham gia thị trường và thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp; Thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của kinh tế tư nhân” (Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 7/3/2021).

Cũng theo chiều hướng phát triển kinh tế tư nhân, ngày 5/3/2021 đã có cuộc Tọa đàm “Làm tổ cho đại bàng nội” tại Quảng Ninh, tại đây, nhiều doanh nhân, chuyên gia nêu lên nhiều ý kiến tâm huyết với tinh thần khuyến khích hơn nữa kinh tế tư nhân, để doanh nghiệp dân tộc trở thành yếu tố dẫn dắt, bảo đảm sự tự chủ của kinh tế Việt Nam.

PHÁT HUY BẢN SẮC CỦA KINH TẾ LÀNG NGHỀ

Trong kinh tế tư nhân nước ta, kinh tế làng nghề là một bộ phận quan trọng, đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử với sự ra đời của các nghề thủ công, các làng nghề. Cả nước ta hiện có khoảng 5.411 làng nghề với 1.864 làng nghề truyền thống. Có thể tóm tắt vị trí của kinh tế làng nghề qua 5 nội dung sau đây:

Một là, kinh tế làng nghề gồm phần lớn là các hộ kinh doanh (một số ít là doanh nghiệp và hợp tác xã), tất cả đều do tư nhân làm chủ, thể hiện sức dân trong phát triển đất nước và đang còn rất nhiều tiềm năng có thể phát huy. Nếu nói nông nghiệp, nông thôn là “bệ đỡ” cho kinh tế cả nước, thì làng nghề chính là một khu vực rộng lớn thu nhận và tạo việc làm cho người lao động mỗi khi kinh tế thành phố có biến động, người lao động trở về nông thôn.

Hai là, kinh tế làng nghề mang bản sắc cốt lõi là văn hóa dân tộc được lưu truyền từ nhiều đời nay, một số sản phẩm và nghề thủ công đã là di sản vật thể và phi vật thể quốc gia hoặc được UNESCO công nhận; Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tới nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Ba là, kinh tế làng nghề tạo việc làm trong các ngành nghề thủ công cho cư dân nông thôn, với thu nhập gấp 2 -3 lần so với nơi thuần nông, góp phần cải thiện đời sống, bảo đảm an sinh xã hội. Thanh niên nông thôn có việc làm và trưởng thành ngay tại quê hương, khỏi phải ra thành phố hoặc đi bán sức ở nước ngoài, gây ra nhiều thảm cảnh.

Bốn là, kinh tế làng nghề góp phần xây dựng nông thôn mới thịnh vượng, cộng đồng dân cư gắn kết, ấm no, hạnh phúc, có đủ điện, đường, trường, trạm; Quang cảnh khang trang, xanh, sạch, đẹp; Tạo nhịp sống nhộn nhịp, tươi vui, hình thành “một miền quê đáng sống”. Tại các làng nghề truyền thống, hầu như không có tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn, an ninh cho làng xóm.

Năm là, kinh tế làng nghề tạo ra những sản phẩm du lịch, nhất là du lịch văn hóa, tâm linh, với các di tích văn hóa, lễ hội truyền thống, lịch sử các vị Tổ nghề; Là nơi khách du lịch tiếp xúc, giao lưu với các nghệ nhân, tìm hiểu kỹ thuật, công nghệ chế tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Điều mà bài viết này muôn nhấn mạnh chính là bản sắc văn hóa của kinh tế làng nghề. Trong điều kiện hiện nay, có thể thấy, văn hóa làng nghề về cơ bản vẫn tiếp nối những tinh hoa của làng truyền thống, song đang được vận dụng, phát huy trong tình hình mới. Có thể nêu ra những yếu tố cấu thành văn hóa làng nghề như sau:

Về cơ cấu tổ chức: Đó là việc duy trì các quan hệ làng xóm- dòng họ- gia đình- thợ thủ công; Là việc hình thành những hội nghề nghiệp trong quá trình bảo tồn và phát triển làng nghề… Những quan hệ nói trên cần được duy trì và phát triển theo yêu cầu của kinh tế thị trường, mà chủ yếu là củng cố quản lý nội bộ đi đôi với đẩy mạnh liên kết liên doanh, nhất là liên kết theo chuỗi giá trị để khắc phục những yếu kém của từng hộ kinh doanh, tăng thêm sức mạnh, cùng phát huy tài năng, sáng tạo mẫu mã, kiểu dáng mới, nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hóa, mở rộng thị trường…

Về văn hóa vật thể: Đó là những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng cho văn hóa từng làng nghề từng vùng miền; Là các đình, đền, miếu, nơi thờ Tổ nghề, nhà thờ họ, là các nhà truyền thống, bảo tàng làng nghề, v.v…Các nhà truyền thống, các bảo tàng (kể cả bảo tàng tư nhân) là rất cần được xây dựng, trong đó có những công trình có tính tổng hợp của một làng nghề hoặc công trình chuyên đề về một nghề thủ công (ví dụ chuyên về gốm sứ, mây tre đan, tơ lụa, thổ cẩm …).

Về văn hóa phi vật thể, đó là: (i) Tính cộng đồng của các luật tục, phong tục tập quán, cung cách ứng xử trong làng xóm; (ii) Các lễ hội, tôn vinh Tổ nghề; Tổ chức các sinh hoạt văn hóa- tín ngưỡng cộng đồng (lễ hội, rước sách, tế lễ, các trò chơi dân gian …); Tôn vinh những di tích, địa danh truyền thống làng nghề gắn với danh lam, thắng cảnh, di tích cách mạng; (iii) Dạy nghề, truyền nghề, giữ gìn các bí quyết và kỹ sảo nghề, tôn vinh và phát huy tài năng và sức sáng tạo của các nghệ nhân; (iv) Phát huy “vốn xã hội” trong các làng nghề,…

Bản sắc văn hóa- cũng là đặc trưng của kinh tế làng nghề, là cái tạo nên sự khác biệt của làng nghề so với các nền kinh tế khác đã được bồi đắp, giữ vững và phát triển qua chiều dài lịch sử của dân tộc. Xin nhấn mạnh về giá trị của nghề thủ công truyền thống đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nhiều biểu hiện, như công cụ sản xuất, quần áo, đồ trang sức, trang phục và đạo cụ cho các lễ hội và biểu diễn nghệ thuật, đồ vật được sử dụng để lưu trữ (như hũ, vại), phương tiện vận chuyển, nghệ thuật trang trí và các đồ vật nghi lễ, nhạc cụ và đồ dùng gia đình, đồ chơi, đồ giải trí và giáo dục... Nhiều vật thể trong số nói trên có thứ chỉ được sử dụng trong thời gian ngắn, song cũng có những hiện vật trở thành gia truyền, được lưu giữ như kỷ vật từ thế hệ này sang thế hệ khác. Song, điều quan trọng nhất, theo các nhà nghiên cứu, mục tiêu của việc bảo vệ các nghề thủ công truyền thống- di sản văn hóa phi vật thể chính là bảo đảm cho các kiến thức và kỹ năng liên quan đến nghề truyền thống được truyền lại cho các thế hệ tương lai, để các nghề thủ công có thể được thực hành sản xuất trong cộng đồng của họ, vừa cung cấp sinh kế cho người làm vừa phát huy tính sáng tạo. Chính vì thế, khuynh hướng của khách du lịch thời nay cũng là thích thú nhiều hơn đến những đồ vật thủ công thấm nhuần kiến thức và giá trị văn hóa tích lũy trong bàn tay, khối óc của người thợ thủ công. Khách du lịch thường muốn trải nghiệm bằng cách tự tay chế tác hàng thủ công, thích thú giao lưu với các nghệ nhân để tìm hiếu sâu về kỹ năng chế tác.

Tóm lại, với những tín hiệu rất đáng mừng trong thời gian gần dây, có thể tin tưởng và hy vọng kinh tế tư nhân nước ta sẽ có bước phát triển mới mạnh mẽ, trong đó kinh tế làng nghề tiếp tục phát huy bản sắc riêng của mình, đóng góp nhiều hơn và xứng đáng hơn nữa cho kinh tế tư nhân và cho sự phát triển của đất nước.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hà Nội: Khởi công xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến

Hà Nội: Khởi công xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến

Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp làng nghề Nam Tiến
Hội chợ Công Thương khu vực phía Bắc - Bắc Ninh 2026

Hội chợ Công Thương khu vực phía Bắc - Bắc Ninh 2026

Hội chợ Công Thương khu vực phía Bắc - Bắc Ninh 2026 diễn ra từ ngày 9 đến 16/9/2026 tại Trung tâm Văn hóa và Xúc tiến du lịch Bắc Ninh
Hơn 400 tác phẩm điêu khắc gốm hội tụ tại  Triển lãm "Kinh gốm - Thanh âm thế gian" trên đỉnh Núi Bà Đen

Hơn 400 tác phẩm điêu khắc gốm hội tụ tại Triển lãm "Kinh gốm - Thanh âm thế gian" trên đỉnh Núi Bà Đen

Triển lãm điêu khắc gốm "Kinh gốm - Thanh âm thế gian"
Thành lập hội đồng đánh giá, phân hạng OCOP 5 sao

Thành lập hội đồng đánh giá, phân hạng OCOP 5 sao

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập Hội đồng OCOP cấp Trung ương
Lễ hội làng biển Tân Thành 2026 - Văn hóa Cơ Tu, Ca Dong đến gần hơn với du khách

Lễ hội làng biển Tân Thành 2026 - Văn hóa Cơ Tu, Ca Dong đến gần hơn với du khách

Lễ hội Làng Biển Tân Thành 2026
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động