Hộ kinh doanh làng nghề và những quy định mới về đăng ký kinh doanh

LNV - Trong các làng nghề nước ta, tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu là các hộ gia đình mà văn bản pháp quy gọi là “hộ kinh doanh”, chỉ có một số rất ít doanh nghiệp và hợp tác xã. Hộ kinh doanh làng nghề xuất hiện từ những gia đình sản xuất các sản phẩm thủ công tồn tại từ hàng trăm năm nay trong nông thôn, từng bước hình thành các làng nghề cho đến ngày nay.
Những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, các hộ kinh doanh đã dần dần trở thành một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến. Gần đây nhất, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 4/1/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp đã có riêng Chương VIII về hộ kinh doanh, quy định những chính sách tạo thuận lợi mới cho hộ kinh doanh, trong đó có các hộ kinh doanh trong làng nghề. Bài này gợi ra một số ý kiến để các làng nghề nước ta tham khảo trong việc tiếp thu chính sách mới này.

TIỀM NĂNG CỦA HỘ KINH DOANH LÀNG NGHỀ

Theo thống kê năm 2019, cả nước có khoảng 5,4 triệu hộ kinh doanh hoạt động trong các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, trong đó 3,4 triệu hộ được cấp mã số thuế và 2 triệu hộ sản xuất nhỏ lẻ, với tổng tài sản khoảng trên 655 nghìn tỷ đồng, tạo ra khoảng trên 2,2 triệu tỷ đồng doanh thu, đóng góp khoảng 30% vào GDP. Các hộ kinh doanh cùng với các doanh nghiệp tư nhân (đóng góp 12% vào GDP) hình thành khu vực kinh tế tư nhân đóng góp tổng cộng 42% vào GDP, đang phát triển mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.


Trong số này, các hộ kinh doanh làng nghề giữ một vị trí rất có ý nghĩa, không chỉ về kinh tế - xã hội, mà trước hết, đó là vì các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng là những sản phẩm có giá trị cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mang bản sắc văn hoá của quốc gia, từng vùng lãnh thổ, thậm chí mang bản sắc của mỗi nghệ nhân. Đã có những sản phẩm thủ công được công nhận là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, một số được công nhận là báu vật quốc gia. Xin được nhắc lại những điều trên mà nhiều người đã biết để nhấn mạnh trách nhiệm của chúng ta trong bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề.

Ngày nay, tiềm năng của hộ kinh doanh là rất lớn. Với quy mô nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ, vốn liếng ít, kinh doanh đủ mọi ngành nghề, quản lý đơn giản, dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh, các hộ kinh doanh là nơi thu hút, tạo việc làm, thu nhập cho đông đảo lao động, kể cả người khuyết tật. Những năm qua, mỗi khi nền kinh tế ở thành phố có biến động (như tác động của dịch Covid-19), thì nông thôn sắn sàng là nơi tiếp nhận. Có thể nói: nếu nông nghiệp, nông thôn là “bệ đỡ”, thì hộ kinh doanh chính là “thanh giảm sốc” cho nền kinh tế, nơi “trú ẩn” an toàn cho người lao động.

Ở nước ta ngày nay, hộ kinh doanh đang là nơi đào tạo, “vườn ươm” doanh nhân cho các doanh nghiệp tư nhân đang phát triển mạnh và có nhiều triển vọng. Điều đáng mừng là có những doanh nhân đang ở độ tuổi thanh niên có ý chí khởi nghiệp, giàu trí sáng tạo, ứng dụng thành thạo công nghệ 4.0, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở ra những nghề mới. Có thể coi đây là một tiềm năng rất lớn cần được khuyến khích.

Cũng cần nói thêm rằng, dù khi đất nước đã công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì cùng với những doanh nghiệp quy mô lớn, vẫn còn những doanh nghiệp và hộ kinh doanh quy mô vừa và nhỏ - loại hình phù hợp trong các ngành công nghiệp hỗ trợ, thủ công mỹ nghệ truyền thống, v.v… Đó chính là mô hình công nghiệp đa dạng về quy mô, thành phần, trình độ kỹ thuật cùng liên kết tạo thành mạng lưới, sức sống của nền kinh tế ở nhiều nước trên thế giới.

TÁM ĐIỂM MỚI VỀ ĐĂNG KÝ HỘ KINH DOANH

Về định nghĩa “Hộ kinh doanh”, từ năm 2015, tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015, theo khoản 1 điều 66, “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.”

Mới dây, Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 4/1/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp đã có riêng Chương VIII về hộ kinh doanh, quy định những chính sách mới tạo thuận lợi cho hộ kinh doanh. Theo các nhà nghiên cứu, Nghị định này có 08 điểm mới so với Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015, tóm tắt như sau.

Một là, chỉ còn lại hai đối tượng được thành lập hộ kinh doanh.

- Trước đây, khoản 1 Điều 66 Nghị định 78/2015 quy định hộ kinh doanh do các đối tượng sau thành lập: (i) Cá nhân hoặc một nhóm người Việt Nam đủ 18 tuồi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; (ii)
Một hộ gia đình.

- Hiện nay, Nghị định 01/2021 quy định hộ kinh doanh do các đối tượng sau thành lập: (i) Một cá nhân; Các thành viên hộ gia đình. Như vậy, theo quy định mới thì “nhóm cá nhân người Việt Nam” không còn được thành lập hộ kinh doanh, như vậy, trách nhiệm rõ ràng hơn.

Hai là, không hạn chế số lao động trong hộ kinh doanh.

- Trước đây, theo Nghị dịnh 78/2015, hộ kinh doanh chỉ dược sử dụng dưới 10 lao động; Hộ kinh doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp.

- Hiện nay, Nghị định 01/2021 không còn điều này, để hộ kinh doanh tự quyết định số lao động sử dụng và việc đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Ba là, hộ kinh doanh được phép kinh doanh tại nhiều địa điểm, giúp việc mở rộng kinh doanh dễ dàng hơn.

- Trước dây, Nghị định 78/2015 ấn định hộ kinh doanh chỉ có duy nhất một địa điểm kinh doanh trừ hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động được phép kinh doanh ngoài địa điểm đăng ký.

- Hiện nay, Nghị định 01/2021 quy định: 1. Địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh là nơi hộ kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh. 2. Một hộ kinh doanh có thể hoạt động kinh doanh tại nhiều địa điểm nhưng phải chọn một địa điểm để đăng ký trụ sở hộ kinh doanh và phải thông báo cho cơ quan quản lý thuế, cơ quan quản lý thị trường nơi tiến hành hoạt động kinh doanh đối với các địa điểm kinh doanh còn lại.

Bốn là, bổ sung quy định về thời gian đăng ký thay đổi nội dung trên Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh:

- Trước đây, Nghị định 78/2015 không quy định về vấn đề này.

- Hiện nay, Nghị định 01/2021 quy định thời gian đăng ký thay đổi nội dung trên Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh là 10 ngày kể từ ngày có thay đổi.

Riêng về thay đổi địa chỉ hộ kinh doanh:

- Trước đây, Nghị định 78/2015 quy định: Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày cấp Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh trong trường hợp đăng ký thay đổi địa chỉ cho hộ kinh doanh, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi hộ kinh doanh đặt địa chỉ mới phải thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh nơi trước đây hộ kinh doanh đã đăng ký.

- Hiện nay, Nghị định 01/2021 đã rút ngắn thời hạn chỉ còn 03 ngày làm việc.

Năm là, hộ kinh doanh có thể tạm dừng kinh doanh vô thời hạn.

-Trước đây, theo Nghị định 78/2015, hộ kinh doanh chỉ được tạm ngừng kinh doanh không quá 01 năm và gửi thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi hộ kinh doanh đã đăng ký ít nhất 15 ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh.

-Hiện nay, Nghị định 01/2021 không còn quy định về giới hạn thời gian hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh, nhưng hộ phải gửi thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đã đăng ký ít nhất 03 ngày truớc khi tạm ngừng kinh doanh.

Sáu là, chủ hộ được ủy quyền thủ tục đăng ký hộ kinh doanh.

-Trước đây, Nghị định 78/2015 không quy định về việc ủy quyền đăng ký hộ kinh doanh.

-Hiện nay, Nghị định 01/2021 quy định: “Chủ hộ kinh doanh có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 12 Nghị định này”.

Bảy là, thay đổi và bổ sung trường hợp thu hồi Giấy Chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh.

Điều 93 Nghị định 01/2021 đã quy định về những trường hợp thu hồi Giấy Chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cụ thể hơn, tạo điều kiện cho hộ kinh doanh chấp hành thuận lợi.

Tám là, thêm quy định về hộ kinh doanh có thể thuê người quản lý.

-Trước đây, Nghị định 78/2015 không quy định về vấn đề này.

- Hiện nay, theo Nghị định 01/2021, hộ kinh doanh có thể thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hộ kinh doanh vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hoạt động kinh doanh.

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Qua các điểm mới trong Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 4/1/2021 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh nêu trên, có thể thấy vị trí của hộ kinh doanh đã được khẳng định rõ thêm, một số chính sách mới được quy định sẽ tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi thêm cho hộ trong kinh doanh.

Dưới đây, để thực hiện Nghị định có hiệu quả, xin nêu một số kiến nghị để các hộ kinh doanh làng nghề tham khảo.

Một là, tăng thêm nhận thức về giá trị của hộ kinh doanh làng nghề. Ngoài những giá trị mà chúng ta thường ghi nhận lâu nay, hiện nay, người tiêu dùng đang quan tâm đến hai điều: (i) Những sản phẩm thủ công, trong đó thể hiện tài năng, trí sáng tạo của nghệ nhân; Và (ii) những mặt hàng thân thiện với môi trường, có nguồn gốc từ nguyên liệu tự nhiên. Đây vừa là thuận lợi cho phát triển sản phẩm thủ công, vừa đòi hỏi hộ kinh doanh quan tâm đến bảo vệ môi trường, từ nguyên vật liệu đến công nghệ chế tác.

Hai là, tìm hiểu kỹ những quy định mới về đăng ký kinh doanh trong Nghị định 01/2021 đã nêu tóm tắt tám điểm trên đây (nhất là được kinh doanh tại nhiều địa điểm và không hạn chế số lao động), đối chiếu với tình hình cụ thể của hộ mình, từ đó đặt kế hoạch khai thác từng bước, theo thế mạnh của từng hộ. Có những việc mà một hộ có thể thực hiện, nhưng cũng có những hoạt động cần sự liên kết theo chuỗi giá trị để đạt hiệu quả cao hơn.

Ba là, khai thác các quy định mới trong các chính sách của Nhà nước trong thời gian gần đây về hỗ trợ các hộ kinh doanh thực hiện nhiệm vụ kép vừa chống dịch Covid-19, vừa duy trì sản xuất kinh doanh. Cần cập nhật và tận dụng các ưu đãi trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết để mở rộng thị trường, tăng trưởng xuất khẩu với các quốc gia nhập khẩu lớn trên thế giới như Mỹ, Liên minh châu Âu.

Bốn là, trên cơ sở ấy, thực hiện những biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, mở rộng mặt hàng. Đó là những việc đã được nêu lên lâu nay, như: Cải tiến mẫu mã, giảm tiêu hao nguyên vật liệu, khắc phục ô nhiểm môi trường, xúc tiến thương mại, v.v…Đối với những mặt hàng xuất khẩu, cần đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường hợp chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng được nhiều phân khúc thị trường; chú trọng đầu tư xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu xuất xứ (QRcode) …

Năm là, nâng cao năng lực quản trị của chủ hộ kinh doanh. Đây là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định sự thành bại của hộ kinh doanh làng nghề. Trong tình hình mới, đang có những đòi hỏi rất cao, chủ hộ cần được nâng cao về năng lực quản trị: có tầm nhìn mới, khát vọng phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIII, có kiến thức ứng dụng công nghệ số trong điều hành, tiếp thu và khai thác các chính sách mới, từ đó có những đổi mới, sáng tạo trong biện pháp thực hiện để quản trị hộ kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề trước bài toán phát triển bền vững trong kỷ nguyên khí hậu

Làng nghề trước bài toán phát triển bền vững trong kỷ nguyên khí hậu

LNV - Trước bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét và ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu toàn cầu, việc phát triển làng nghề theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường đang trở thành một yêu cầu cấp thiết.

Làng nghề chuyển mình trong kỷ nguyên số

LNV - Thương mại điện tử (TMĐT) đang từng bước định hình lại cấu trúc phân phối hàng hóa, xóa bỏ các khâu trung gian truyền thống để đưa đặc sản vùng miền và sản phẩm thủ công mỹ nghệ tiến thẳng từ xưởng sản xuất đến tay người tiêu dùng. Quá trình số hóa các làng nghề truyền thống không chỉ đơn thuần là việc mở rộng kênh bán hàng, mà còn là một cuộc cách mạng về tư duy kinh tế. Để duy trì sức bật này, sự dịch chuyển đòi hỏi một hệ sinh thái cộng hưởng chặt chẽ giữa nỗ lực thực chiến tại cơ sở, khung hành lang pháp lý đồng bộ và nguồn lực hỗ trợ từ các nền tảng công nghệ.
Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

Thách thức và chiến lược phát triển văn hóa làng nghề Việt Nam

LNV - Văn hóa làng nghề truyền thống tại Việt Nam là một hệ thống tiểu văn hóa nông thôn đặc thù, hình thành từ sự giao thoa bền chặt giữa hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thiết chế xã hội làng xã cổ truyền.
Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

Công nghiệp văn hóa - Động lực hồi sinh và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Hà Nội

LNV - Hà Nội với kho tàng làng nghề phong phú đa dạng đang đứng trước cơ hội biến di sản thành sức mạnh kinh tế, du lịch và thương hiệu quốc gia. Việc tháo gỡ những rào cản về vốn, quảng bá và cơ chế hỗ trợ thông qua tư duy “Công nghiệp văn hóa” sẽ là chìa khóa để các làng nghề truyền thống hồi sinh và phát triển bền vững trong đời sống đương đại.
Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Làng nghề Việt trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

LNV - Khi di sản, thiết kế và sáng tạo kết nối với kinh tế thị trường, làng nghề truyền thống không chỉ gìn giữ bản sắc, mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa, sáng tạo toàn cầu.
Định vị giá trị làng nghề trong  công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Với hàng nghìn làng nghề truyền thống trải dài từ bắc vào nam, với những đặc trưng riêng biệt, Việt Nam không chỉ sở hữu những di sản văn hóa phong phú mà còn có cơ hội biến những giá trị ấy thành nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Tin khác

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

Định vị giá trị làng nghề trong công nghiệp văn hóa

LNV - Trong dòng chảy của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang dần trở thành một trong những nhóm ngành quan trọng, góp phần vào sự thịnh vượng của các quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những phương cách phát triển sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo hiệu ứng tốt để phát triển kinh tế. Trong đó, các làng nghề truyền thống có thể được xem như những “viên ngọc quý” cần được mài giũa và phát huy hiệu quả.
Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Trường THPT Bất Bạt khẳng định chất lượng giáo dục, giữ vững danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc

Trường THPT Bất Bạt khẳng định chất lượng giáo dục, giữ vững danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc

LNV- Với nhiều thành tích nổi bật trong công tác dạy và học, Trường THPT Bất Bạt (Hà Nội) tiếp tục được công nhận danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc năm học 2025–2026.
“Tinh hoa hội tụ” -Tôn vinh bàn tay nghệ nhân và lan tỏa di sản nghề thủ công truyền thống tại phố cổ Hà Nội

“Tinh hoa hội tụ” -Tôn vinh bàn tay nghệ nhân và lan tỏa di sản nghề thủ công truyền thống tại phố cổ Hà Nội

LNV - Chào mừng Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11) và Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11), Ban quản lý hồ Hoàn Kiếm và phố cổ Hà Nội tổ chức chương trình trưng bày, giới thiệu và trải nghiệm văn hóa “Tinh hoa hội tụ” tại Trung tâm thông tin văn hóa Hồ Gươm, số 2 Lê Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội, từ ngày 03/11/2026 đến ngày 03/01/2027.

Quảng Ninh thông qua 9 Nghị quyết quan trọng tại Kỳ họp thứ nhất HĐND thành phố khóa I

Ngày 3/11, HĐND thành phố Quảng Ninh khóa I, nhiệm kỳ 2026–2031 tổ chức Kỳ họp thứ nhất (kỳ họp chuyên đề), xem xét và thông qua 9 nghị quyết quan trọng liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường và tổ
Khuyến công đổi mới, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị công nghiệp nông thôn

Khuyến công đổi mới, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị công nghiệp nông thôn

Chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang liên kết vùng, liên kết ngành là hướng đi then chốt của khuyến công giai đoạn 2026-2030.
Những kinh nghiệm giúp Quảng Ninh dẫn đầu tăng trưởng kinh tế

Những kinh nghiệm giúp Quảng Ninh dẫn đầu tăng trưởng kinh tế

Với mức tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026 ước đạt 12,54%, cao nhất trong 34 tỉnh, thành phố, Quảng Ninh tiếp tục ghi dấu ấn về phát triển kinh tế. Đằng sau kết quả này không chỉ là sức bật của sản xuất, đầu tư mà còn là sự chuyển động trong tư duy điều hành: chủ động nhận diện khó khăn, quyết liệt tháo gỡ vướng mắc và lấy kết quả thực hiện làm thước đo.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động