Hà Nội: 28°C Hà Nội
Đà Nẵng: 27°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế

Gió sẽ mãi thổi từ làng Vác

LNV - Chiếc quạt sừng giấy dó châm kim một thời rất gần gũi với cuộc sống của mỗi người, nếu không muốn nói là không thể thiếu đối với bất cứ gia đình nào, giờ đang đứng trước nguy cơ bị rơi vào quên lãng. Có thể nói, sự tồn tại của những chiếc quạt được làm ra ở làng Vác, nay là làng Canh Hoạch, xã Dân Hỏa, huyện Thanh Oai (Hà Nội) chỉ là vì các nghệ nhân đã ở tuổi thất thập cổ lai hy vẫn còn sống và vẫn cố gắng níu bám cái nghề truyền thống đã có lịch sử gần 200 năm.
Vang bóng một thời

Ðối với rất nhiều người dân Việt Nam chiếc quạt luôn là vật dụng gần gũi, thân quen trong cuộc sống hằng ngày. Chiếc quạt không chỉ giúp xua đi cái nóng của những ngày hè oi ả mà còn trở thành đạo cụ phục vụ các nghi thức tôn giáo, là vật làm duyên của các thiếu nữ, chàng trai, thậm chí còn là vật bất ly thân của cụ già nông thôn vì chúng có thể thay nón che mưa, che nắng. Chính từ tính chất đa dụng đó, chiếc quạt sừng giấy dó đã làm nên thương hiệu cho cả một làng nghề ở xứ Ðoài, Hà Tây (cũ), làng Kẻ Vác, với những câu ca dao rất quen như: Hỡi cô thắt dải bao xanh/Có về Canh Hoạch với anh thì về/Canh Hoạch ít đất nhiều nghề/Yêu nghề quạt giấy hay nghề đan khuya.


Bà Trần Thị Công với chiếc quạt sừng giấy dó.


Từ thế kỷ 20, làng Vác đã nổi tiếng khắp cả nước nhờ chiếc quạt sừng giấy dó hay còn gọi là quạt châm kim. Có thể nói, không đâu có được chiếc quạt với những mẫu hoa văn tinh xảo như chiếc quạt làng Vác. Quạt được làm từ giấy dó, cán rất mỏng nhưng lại rất dai và dính với nhau bằng nhựa quả cậy, được kẹp sừng trâu ở hai nan ngoài cho cứng cáp rồi nối với nhau bằng chiếc nhài hình hoa bằng nhôm. Nét tinh xảo ở quạt chính là những đường kim châm tạo hình nghệ thuật như: lưỡng long chầu nguyệt; long, ly, quy, phượng; hoa sen; tùng, trúc, cúc, mai… Năm 1946, nhân kỷ niệm 56 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh niên làng Canh Hoạch gửi tặng Người chiếc quạt giấy, sau này được lưu giữ và bảo quản tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ðiều thú vị, những người còn giữ được nghề của làng là vợ chồng bà Trần Thị Công, con của ông Trần Văn Niệm, người đã tham gia làm chiếc quạt đó.

Tuy nhiên, nếu ông Thứ, bà Công làm ra được những chiếc quạt sừng giấy dó thì người góp phần quan trọng biến chúng thành tác phẩm nghệ thuật lại là bà Mai Thị Choi, người thôn Hoàng Văn Thụ, làng Canh Hoạch, với kỹ thuật châm kim tạo hình hoa văn trên quạt. Người phụ nữ 67 tuổi này kể lại rằng, năm 2015, nhân dịp Ðại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ chín, bà cũng sử dụng kỹ thuật châm kim tạo hình cho chiếc quạt mà Nhà nước đặt hàng. Theo bà Choi, khi châm kim chiếc quạt này, bà trăn trở rất nhiều và cuối cùng đã chọn hình ảnh hoa sen làm chủ đề từ câu thơ Tháp Mười đẹp nhất bông sen/Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ. Trên quạt, bà châm lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người tặng lại ông Hoàng Ðạo Thúy, Tổng Thư ký Ban vận động Thi đua ái quốc Trung ương, vào năm 1948 chiếc quạt của thanh niên làng Canh Hoạch tặng Người: Chú dùng chiếc quạt này để quạt cho phong trào lớn mạnh lên.

Nổi tiếng là vậy, nghệ thuật là thế, vang bóng một thời, nhưng nghề làm quạt sừng giấy dó châm kim của làng Vác giờ đang đứng trước nguy cơ bị quên lãng. Theo bà Công, để làm ra một chiếc quạt sừng giấy dó cần nhiều công đoạn, chi phí cao cho nên giá không rẻ, giá từ 120 đến 130 nghìn đồng một chiếc. Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại khiến những chiếc quạt loại này không có nhiều cơ hội mở rộng thị trường. Hiện số quạt mà gia đình ông Thứ, bà Công đang làm chủ yếu là theo đơn đặt hàng của các chùa, nhu cầu của những người tham gia nghi lễ đạo Mẫu và một số cửa hàng lưu niệm. Ðó là trước đây, còn trong giai đoạn Việt Nam bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều đơn hàng đã bị hủy và vì thế, số lượng quạt vốn đã không nhiều nay càng giảm sút.

Thực tế, người dân làng Vác từ lâu đã chuyển sang chủ yếu làm lồng chim, biến đây thành một nghề và mang lại thu nhập chính cho họ. Lác đác cũng có một số nhà làm quạt xoan (quạt giấy dán thông thường) cung cấp cho thị trường bình dân. Còn chiếc quạt được xem là tinh hoa, tinh túy của làng là quạt sừng giấy dó hay quạt châm kim thì chỉ còn ông Thứ, bà Công sản xuất (người con trai hai ông bà giờ làm lồng chim) và bà Choi châm kim.

Chiếc quạt sừng giấy dó châm kim lưỡng long chầu nguyệt.


Nỗi lòng người làm quạt

Nói vậy nhưng sau giai đoạn làm hàng cao điểm vào đầu hè và lễ Vu lan, gặp bà Choi vào một buổi trưa nóng bức không phải là hình ảnh một người phụ nữ đang tỉ mẩn, khéo léo trổ từng nét kim trên chiếc quạt giấy mầu nâu hay mầu tím thường thấy trước kia mà thay vào đó là hình ảnh bà Choi lụi cụi cắm từng thanh tre để hoàn thành từng chiếc lồng chim.

Vóc dáng nhỏ bé đầy vẻ lam lũ, bà Choi không như những gì tôi đã hình dung về một cụ bà phải rất lớn tuổi, tóc bạc nhưng vẫn giữ được phong thái của người nghệ nhân, nghệ sĩ. Bởi nếu không tài hoa, làm sao bà có thể trổ được những hoa văn đẹp như vẽ trên chiếc quạt sừng giấy dó, làm sao bà có thể châm được hình ảnh con rồng, tùng, cúc, trúc, mai… chỉ theo tưởng tượng và không cần vẽ phác họa. Vậy mà người thợ đó chẳng cần học qua một trường lớp nào cả vẫn có thể khiến bất cứ ai nhìn chiếc quạt đều phải thán phục về kỹ thuật châm kim của bà. Bà Choi tâm sự: “Tôi học châm kim quạt từ khi còn nhỏ đó, cứ phụ giúp theo bố rồi dần dần biết làm lúc nào không hay. Thế nhưng, giờ thì không còn nhiều cơ hội để châm kim theo nghề cha ông nữa bởi làm gì có nhiều quạt mà làm. Chỉ khi nào nhà bà Công có đơn hàng thì tôi mới làm. Tiền công không được là bao nhưng cũng phải làm để có tiền đi chợ và ở làng cũng không còn ai biết làm”. Ðược biết, bà Choi chỉ nhận được 5.000 đồng cho một chiếc quạt, chủ yếu là mẫu lưỡng long chầu nguyệt. Trong khi đó, với mỗi chiếc lồng chim ráp hoàn chỉnh, bà Choi nhận 2.500 đồng và tính cả ngày, bà làm được khoảng 20 lồng, tương đương 50.000 đồng. Như bà cho biết thì chừng đó là đủ để bà đi chợ cơm nước.

Cũng theo bà Choi chia sẻ, trước đây đã có người mời bà vào TP Hồ Chí Minh để châm kim trên quạt giới thiệu cho khách du lịch tham quan Khu di tích lịch sử Ðịa đạo Củ Chi nhưng vì lúc đó các con còn nhỏ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn cho nên bà quyết định ở lại làng gắn bó với nghề. Sau đó, một người thợ mộc gần làng được cắt cử đến học nghề và thay bà vào làm việc ở Củ Chi. Tuy vậy thì chỉ sau một thời gian, người thợ này cũng đã quay lại với nghề mộc của mình mà không thể gắn bó lâu dài với những chiếc quạt châm kim.

Ðau đáu với nghề, bịn rịn với nghề, bà Choi có truyền kỹ thuật châm kim cho một trong hai cô con gái, nhưng vì tiền công làm quạt thấp, không bảo đảm đủ chi phí sinh hoạt cho nên cô cũng không theo nghề của mẹ mà chuyển sang buôn bán ngoài chợ. Mỗi khi bà Choi có đơn hàng, cô vẫn sang giúp, có điều, cô cũng chỉ trổ được những nét kim châm đơn giản, còn những nét khắc phức tạp và đòi hỏi kỹ thuật cao như lưỡng long trong mẫu lưỡng long chầu nguyệt thì vẫn chỉ mình bà Choi thực hiện được.

Khi cầm chiếc quạt lưỡng long chầu nguyệt, chúng ta có thể thấy rõ nét tinh xảo ở từng đường kim châm. Khi gấp vào, quạt chỉ như một chiếc thước dài vừa tay, thế nhưng, xòe chiếc quạt rộng 30 hay 40 cm ra soi lên trời, hình hai con rồng được trổ bằng kim châm như bay, như lượn hướng về mặt trăng hết sức sinh động theo tay người quạt. Ðể có được một tác phẩm nghệ thuật như vậy, cũng như rất nhiều mẫu hoa văn độc đáo khác, bà Choi sử dụng bộ kim gồm hơn 40 mẫu. Ðó là những chiếc kim khâu được chèn vào các khuôn gỗ và buộc lại hoặc dính keo, mỗi khuôn gỗ có từ vài kim đến hàng trăm kim. Một số khuôn có thể tạo ra những mẫu hoa văn đơn giản nhưng muốn châm được con rồng đẹp thì đòi hỏi bà Choi phải trổ kim như nét bút vẽ trên giấy của một người họa sĩ.

Kỹ thuật châm kim đã tạo nên nét độc đáo không đâu có ở chiếc quạt sừng giấy dó làng Vác. Nếu như những chiếc quạt giấy thông thường chỉ sơ sảy một chút là dằm đâm vào tay, quạt ngắn, bé nhưng lại rất thô cứng và dễ bị mốc khi thời tiết thay đổi, thì chiếc quạt sừng giấy dó tinh tế và chắc chắn hơn hẳn. Từng que nan được chuốt mượt mà và hai bên được gia cố bằng sừng trâu cho nên cảm giác cầm rất chặt, rất chắc nhưng không hề nặng vì các nan quạt được nối với nhau bằng lớp giấy dó bồi rất mỏng. Theo bà Công, việc bồi những tấm giấy dó mỏng vào từng nan quạt đòi hỏi kỹ thuật của người làm quạt làng Vác bởi dù tinh mắt đến mấy cũng khó tìm được điểm nối của những tấm giấy dó. Ðiều đặc biệt nữa là, quạt sừng giấy dó không bao giờ bị mọt nhờ được kết dính bằng nhựa quả cậy. Chính vì lẽ đó mà chiếc quạt bền mãi theo thời gian và làm hài lòng những người sử dụng dù là khó tính.

Tiếc là một nghề truyền thống gắn với lịch sử của làng Vác giờ đang dần bị mai một. Vì thế, cứ nghĩ chiếc quạt sừng giấy dó châm kim lưỡng long chầu nguyệt có thể biến mất hoàn toàn trong tương lai gần, cảm giác chung của những người từng được biết về loại quạt độc đáo này là không khỏi tiếc nuối, lo lắng. Tuy nhiên nếu thật sự cố gắng tìm cách để giữ lại nghề quý của cha ông, phát huy và trân trọng những tinh hoa dân tộc, chia sẻ khó khăn với những người thợ, bằng tình yêu và sự nỗ lực từ những nghệ nhân như ông Thứ, bà Công, bà Choi... và những ai đã lỡ yêu chiếc quạt sừng giấy dó, tin rằng những làn gió mát sẽ mãi còn thổi từ làng Vác.

Mạnh Hào/Theo Nhân dân

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nghệ nhân Lô Thị Hương -  Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

Nghệ nhân Lô Thị Hương - Người giữ lửa cho làn điệu khắp của dân tộc Thái

LNV - Hơn 80 năm gắn bó với làn điệu dân ca Thái, bà Hương đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ và được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.
Hương cốm nếp làng Thạc

Hương cốm nếp làng Thạc

LNV - Người làng Thạc không nhớ nghề này có từ khi nào chỉ biết sử sách chép lại ông tổ của nghề cốm là cụ Trần Xuân Yến (sinh năm 1689). Cụ Yến từng đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ hai (1721). Ông được triều đình phong chức Quốc Tử giám Tế Tửu. Sau đó được phong tặng “Hàn lâm viện thừa chỉ”. Khoảng thời gian ở Thăng Long trông coi việc học hành của các sĩ tử dòng dõi hoàng tộc và quan lại ở kinh đô, ông học được nghề làm cốm nếp của làng Vòng. Là quà quý, nên ông quyết mang nghề về truyền dạy cho dân làng Thạc. Nghề cốm nếp du nhập vào làng từ đó và lưu truyền đến tận ngày nay.
Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

Phát triển hương đen Xà Cầu trong kỷ nguyên số

LNV - Làng nghề kết hợp kiểm định, thương hiệu, du lịch trải nghiệm và công nghệ số để duy trì bền vững, giữ gìn di sản văn hóa truyền thống.
Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

Làng cau Cao Nhân Đặc trưng của làng quê Việt

LNV - Làng cau Cao Nhân là một làng nghề chuyên trồng cau truyền thống có từ lâu đời tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đây chính là vựa cau vô cùng nổi tiếng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đến thăm ngôi làng này sẽ được khám phá và chiêm ngưỡng đặc sản cau, được tận mắt thấy cau bổ tám bổ tư, miếng trầu têm cánh phượng vô cùng bắt mắt đầy tinh tế.
Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

Chương Mỹ (Hà Nội): Từ tinh hoa ngàn năm đến mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới

LNV - Nằm bên dòng sông Nhuệ hiền hòa, xã Chương Mỹ, Hà Nội từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “độc nhất vô nhị” với nghề khảm trai, sơn mài truyền thống có bề dày lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

Hoàn thiện Nghị định mới: Gỡ nút thắt cho phát triển làng nghề Việt Nam

LNV - Sáng 27/5, tại Ninh Bình, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Hội thảo không chỉ là diễn đàn góp ý cho một văn bản pháp lý mới, mà còn cho thấy những trăn trở lớn về tương lai của làng nghề Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Tin khác

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề truyền thống.

LNV - Bộ Công Thương vừa ban hành kế hoạch đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề truyền thống.
Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

Vĩnh biệt nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy - Người truyền lửa nghề hoa thủ công đất Tổ

LNV - Làng nghề truyền thống Việt Nam vừa tiễn biệt một người nghệ nhân tâm huyết, cả đời tận tụy với nghề và luôn đau đáu với việc gìn giữ những giá trị thủ công truyền thống. Nghệ nhân Nguyễn Xuân Thủy – hội viên Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, học trò của Nghệ nhân Nhân dân hoa lụa Mai Hạnh – đã từ trần ngày 23/5/2026 sau thời gian chống chọi với bệnh hiểm nghèo, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với gia đình, đồng nghiệp, học trò cùng những người yêu quý hoa thủ công truyền thống.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

Nghề đan mành tre ở Tây Xuyên

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, nghề đan mành tre ở Tây Xuyên (xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên) vẫn được người dân gìn giữ như một nét đẹp văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Từ những thân tre mộc mạc, người thợ nơi đây đã tạo nên những chiếc mành giản dị, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình và lưu giữ nếp sống thanh nhã, kín đáo của người Việt.
Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

Hoa văn lụa Vạn Phúc - Mã văn hóa trên từng sợi tơ

LNV - Lụa Vạn Phúc (Hà Nội) từ lâu đã trở thành biểu tượng của tinh hoa thủ công truyền thống. Nếu chất lụa tạo nên vẻ đẹp mềm mại thì các họa tiết, hoa văn chính là những ký hiệu đã được mã hóa thể hiện cho văn hóa, giá trị thẩm mỹ của cư dân nông nghiệp Bắc Bộ. Vì vậy khám phá hoa văn trên lụa Vạn Phúc cũng là hành trình đọc lại một “văn bản văn hóa” được viết lên bằng những sợi tơ.
Những nụ cười còn lại trong ký ức

Những nụ cười còn lại trong ký ức

LNV - Khi tục nhuộm răng đen dần lùi vào ký ức, nghề làm thuốc xỉa - thứ “bí quyết giữ màu răng” từng gắn với nét đẹp của người phụ nữ Huế - cũng theo đó mà mai một. Ở Huế hôm nay, vợ chồng ông Đinh Bảo Ân (63 tuổi, trú đường Chi Lăng) gần như là những người cuối cùng còn lưu giữ công thức thuốc xỉa gia truyền, níu lại một phần ký ức của nụ cười đen nhánh từng đi vào ca dao xứ Huế.
Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

Khôi phục và phát triển Làng gốm Phù Lãng - Giữ hồn đất, giữ nghề trong kỷ nguyên mới

LVN - Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nghệ thuật gốm cổ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ một phần ký ức văn hóa dân tộc qua từng lớp men da lươn, từng sắc nâu trầm mặc của đất và lửa.
Đánh thức giá trị di sản làng nghề

Đánh thức giá trị di sản làng nghề

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu được ví như những “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử và bản sắc văn hóa cộng đồng. Trong không gian ấy, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ mang giá trị hàng hóa, mà còn kết tinh tri thức dân gian, bàn tay tài hoa của người thợ và sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua bao thế hệ.
“Báu vật” của làng nghề

“Báu vật” của làng nghề

LNV- Không trực tiếp mưu sinh giữa trùng khơi, nhưng nhiều người dân ở các làng biển Quảng Trị lại nắm giữ những “bí kíp” làm nên loại nước mắm nguyên chất, ruốc quệt đặc, ruốc quệt lỏng thơm ngon thượng hạng. Những sản phẩm ấy có thể bảo quản từ 2-3 năm mà vẫn giữ nguyên hương vị đậm đà. Họ được ví như những “báu vật sống” của làng nghề truyền thống nơi miền chân sóng.
Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

Giữ lửa làng nghề nỗi trăn trở trước nguy cơ mai một.

LNV- Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Thế nhưng, trước nhịp sống hiện đại và sự đổi thay không ngừng của thị trường, nhiều làng nghề trong tỉnh đang đối mặt với nguy cơ mai một. Giữ “lửa” cho làng nghề hôm nay không chỉ là nỗi niềm của những nghệ nhân gắn bó với nghề, câu chuyện mưu sinh của người dân, mà còn là trăn trở về việc gìn giữ hồn cốt văn hóa truyền thống đang dần phai nhạt theo thời gian.
Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội có thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

LVN - Ngày 8/5/2026, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

Gia Lai: Bảo tồn văn hoá truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai

LNV - Cùng với 54 dân tộc trên cả nước, văn hóa truyền thống của đồng bào Bahnar, Jrai tỉnh Gia Lai là bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là “lá chắn mềm” góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hình mới.
Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

Gia Lai: Độc đáo nghi lễ Cúng giọt nước của người Bahnar giữa đại ngàn

LNV - Lễ cúng giọt nước là một trong những nghi lễ đặc trưng, linh thiêng và giàu bản sắc của người Bahnar.
Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

Tuyên Quang: Tôn vinh nghề làm chè Shan tuyết truyền thống

LVN - Xã Cao Bồ, tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức thành công Lễ hội “Miền chè di sản” lần thứ III năm 2026, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và trải nghiệm đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân cùng du khách thập phương tham dự. Sự kiện được tổ chức nhằm quảng bá thương hiệu chè Shan tuyết cổ thụ, tôn vinh nghề sao chè thủ công truyền thống và mở rộng cơ hội kết nối đầu tư, phát triển du lịch cộng đồng
Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ hội làng Dương Nỗ, nơi lưu dấu tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

LNV - Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), tối 14/5, Sở Văn hóa và Thể thao TP. Huế tổ chức Lễ hội làng Dương Nỗ năm 2026 với chủ đề “Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm”. Chương trình không chỉ tái hiện những giá trị văn hóa truyền thống của vùng quê giàu lịch sử, mà còn là dịp tưởng nhớ và tri ân nơi từng gắn bó với tuổi thơ, quá trình học tập của Bác Hồ thời niên thiếu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Nâng cao chất lượng đánh giá và phân hạng sản phẩm OCOP

Nâng cao chất lượng đánh giá và phân hạng sản phẩm OCOP

LNV - Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm mỗi xã một sản phẩm. Theo đó, sản phẩm đạt OCOP 5 sao phải có tổng điểm trung bình đạt từ 90 đến 100 điểm, là sản phẩm đặc trưng, có thương hiệu,
Đồng chí bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh thăm và tặng quà tại Bệnh viện Sản Nhi

Đồng chí bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh thăm và tặng quà tại Bệnh viện Sản Nhi

Đồng chí Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH đến thăm, tặng quà cho các bệnh nhi tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh
Chè Shan tuyết Hồng Thái đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia

Chè Shan tuyết Hồng Thái đạt chuẩn OCOP 5 sao quốc gia

Chè Shan tuyết Hồng Thái của Hợp tác xã Sơn Trà chính thức được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận đạt hạng 5 sao OCOP cấp quốc gia
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới 2026-2030

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới 2026-2030

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 22/5/2026 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Khó tự chủ với hoạt động khuyến công

Khó tự chủ với hoạt động khuyến công

LVN - Sở Công Thương tỉnh Điện Biên vừa xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. Trong đó, đối với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Điện Biên, Sở đề xuất giữ nguyên cơ cấu tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính; tiếp tục là đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
Giao diện di động