Giấy Dó vùng Bưởi - Dấu xưa còn lại

LNV - Kẻ Bưởi xưa (nay thuộc địa bàn quận Tây Hồ, Hà Nội) nổi tiếng là vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Trước đây, bên cạnh nghề dệt Lĩnh, người dân địa phương còn nổi tiếng với nghề làm giấy Dó.
Làng Yên Thái chuyên sản xuất giấy viết và in, làng Hồ Khẩu và Đông Xã chuyên sản xuất giấy có khổ lớn hơn để dùng in tranh dân gian. Tuy nhiên, trong các sản phẩm của nghề làm giấy ở Kẻ Bưởi, giấy Dó làng Yên Thái là nổi tiếng hơn cả.

1. Các loại giấy Dó xưa kia ở Kẻ Bưởi

Thời trung đại, Việt Nam có một số làng nghề làm giấy, như: làng Xuân Ổ (làng Ó) ở Bắc Ninh; làng Mai Chử (làng Mơ) ở Thanh Hóa làm giấy Bản. Làng Lộc Tụy và Đại Phú ở Quảng Bình sản xuất giấy từ vỏ cây niết; giấy Bìa bổi được sản xuất từ làng Từ Vân - Thanh Oai - Hà Tây… Tuy vậy, giấy Dó vùng Kẻ Bưởi của Thăng Long được người tiêu dùng đương thời ưa chuộng nhất.

Chợ giấy trên đất Kinh kỳ xưa kia luôn nhộn nhịp vào những dịp cận Tết với giấy Dó. Người dân vùng Bưởi đã sáng tạo ra nhiều loại giấy với đặc tính, đặc trưng và các chức năng khác nhau, mà loại tốt nhất là giấy Dó lụa, giấy Quỳ, giấy Lệnh và giấy Sắc. Trong sách “Dư địa chí” (1435), Nguyễn Trãi cũng đã đề cập rất rõ về vấn đề này: “Đương thời, phường Yên Thái (Bưởi) chuyên làm giấy. Thợ ở đây có thể làm được giấy Thị, giấy Lệnh; còn làng Nghĩa Đô chuyên làm giấy Sắc màu, ngà vàng vẽ rồng và mây gọi là giấy Long án”.

Nghề làm giấy Dó xưa ở làng Bưởi.


Các bậc cao niên ở vùng Bưởi cho biết, giấy Quỳ sản xuất từ vỏ cây Cãnh dai. Trước đây, loại giấy này thuộc độc quyền sản xuất của dòng họ Nguyễn Thế. Dòng họ này sinh sống tập trung ở ở thôn An Đông thuộc phường Yên Thái. Người làng Kiêu Kị tại huyện Đông Anh (Hà Nội) bên kia sông Hồng thường chọn mua giấy Quỳ để dát “vàng bạc” lên đó. Đối tượng khách hàng mua thành phẩm của thợ thủ công Kiêu Kị là các nghệ nhân chạm khắc câu đối, hoành phi, phù điêu, tượng Phật và các đồ thờ tự. Giấy Kiêu Kị ánh vàng - ánh bạc sẽ làm nên những sắc màu lung linh, lộng lẫy, khiến cho những sản phẩm này trở nên thiêng liêng, cao quý.

Ngoài ra, còn có loại giấy Lệnh và giấy Sắc. Giấy Lệnh chỉ sử dụng trong công việc hành chính của Triều đình phong kiến (để viết các lệnh chỉ của Vua). Loại này dày hơn giấy Dó lụa và do tính năng sử dụng nên và nó được làm kĩ hơn.

Giấy Sắc được dân gian đánh giá là tốt và quý nhất trong các loại giấy Dó. Loại giấy này khổ to, với nhiều cỡ to nhỏ khác nhau và rộng nhất là khổ giấy 2m x 0,75m; cỡ nhỏ nhất là 1,3m x 0,52m. Giấy Sắc của người thợ vùng Bưởi dày và rất dai. Vì đặc tính này, người dùng không lo nếu như ai đó cố tình xé văn bản của họ. Đồng thời, giấy Sắc còn không bị thấm nước, không bị mối mọt xâm hại nên nó có thể lưu giữ trong vài trăm năm.

Với đặc tính dai, bền và không thấm nước, nên giấy Sắc được dành riêng cho Vua dùng để viết sắc chỉ, chuyên dùng để phong tước, phong công cho những triều thần có công với nước và các bậc thần linh có công được tôn Thánh. Có lẽ vì điều này, giấy Sắc khác với các loại giấy khác khi trên bề mặt có in nổi (nhẹ nhàng) hình Rồng phun mây và Rồng - Phượng. Sử dụng giấy mang hình nào cho việc viết sắc phong là tùy theo thứ cấp khi phong Công, phong Thần. Giấy Sắc được chúa Trịnh cho dòng học Lại độc quyền sản xuất với số lượng nhất định. Việc sản xuất giấy Sắc rất cầu kì. Người thợ đặt những tờ giấy trên mặt tảng đá để “nghè” - tức là dùng vồ gỗ nện khẽ, nhẹ, đều tay lên mặt tờ giấy, làm cho giấy thêm nhẵn, đanh (Có lẽ thế, giấy của làng được gọi là giấy Nghè và làng Nghĩa Đô được gọi tên là làng Nghè). Sau khi vẽ trang trí hoa văn (hình Rồng Phượng chìm), người thợ giấy phết một lớp hoàng liên lên giấy tạo nên màu vàng. Cuối cùng họ phủ một lớp keo lên trên với mục đích làm giấy đanh thêm và đồng thời chống ẩm và mối mọt.

Người dân làng Bưởi nay đã không còn làm giấy Dó. Ảnh: Báo Thanh Niên.


Giấy Dó lụa mỏng, mềm như tấm lụa Hà Đông. Người đương thời còn gọi loại này là giấy Bản. Giấy Dó lụa chuyên dùng để in sách, chép thơ, chép kinh. Thời trung đại, các thầy khóa và Nho sinh Việt thường dùng bút lông, mực tàu viết chữ Nho lên giấy mà không lo bị nhòe mực. Các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian trước kia thường sử dụng giấy Dó khổ lớn để vẽ tranh, cho chữ, viết thư pháp. Có thể nói, những tác phẩm văn hóa mang đậm tính nghệ thuật này vừa đẹp, bền; vừa tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc đậm đà.

Ngoài ra, thợ giấy Kẻ Bưởi cũng sản xuất loại giấy thô ráp dùng cho việc gói hàng, như: giấy Moi, giấy Phèn. Các loại giấy này được sản xuất bởi những nguyên liệu xấu hơn, là thành phần “đầu mặt” của vỏ Dó đã bị loại bỏ. Dân làng Kẻ Cót (tên chữ là làng “Thượng Yên Quyết”, nay thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội), cũng thường mua những phế liệu này về làm thứ giấy Xề thô và xấu.

2. Giá trị sử dụng của giấy Dó

Giấy Dó truyền thống ở Kẻ Bưởi được Henri Oger mô tả trong cuốn “Kỹ thuật của người An Nam” là loại giấy xốp nhẹ mà bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt. Loại giấy này không bị dòn gẫy, ẩm nát mà mỏng, mềm như tấm lụa Hà Đông. Người dùng có thể vò nát tờ giấy, nhưng khi vuốt ra, lại phẳng như bình thường. Với chất lượng tốt, giấy Dó đã tạo được thương hiệu riêng cho mình. Tài liệu nghiên cứu của F. Claverie cho biết, năm 1903, bất cứ ai cũng có thể mua được hàng nghìn tờ giấy Dó loại tốt nhất (màu trắng) với 2$50 đến 3$ (đồng bạc); 2$ cho loại hai (vàng nhạt) và 1$50 để mua loại ba (màu xám dùng làm bao bì) 1.

Đến đầu thế kỷ XX, nhờ có kỹ thuật bóc kép nhiều lớp và kỹ thuật cán giấy hiện đại, giấy Dó vốn chỉ được bóc đơn, nay đã được chồng nhiều lớp, tạo nên những độ dày khác nhau. Những thớ sợi của vỏ cây Cãnh vốn đã rất dẻo dai, nay được liên kết nhiều lớp ngang, dọc, chéo, được cán chặt với nhau. Nhờ việc cán lại cho đanh chắc, tờ giấy Dó nếu bị xé cũng không thể rách. Hơn nữa, sản phẩm của người Kẻ Bưởi còn được tráng bề mặt bằng nhựa cây gỗ Mò đã tạo thành một thứ giấy bền bỉ độc nhất vô nhị. Nghiên cứu về giấy Dó của người Việt trước đây, một học giả Nhật Bản đã nhận định rằng, giấy Dó truyền thống làng Yên Thái không chỉ là “một loại giấy độc nhất vô nhị ở Việt Nam mà còn xứng đáng có được một tầm vóc lớn trong lịch sử ngành sản xuất giấy của thế giới”.

Theo các nhà nghiên cứu, giấy Dó lụa để trong điều kiện bình thường, không cần bảo quản cũng rất bền. Một số tài liệu cho rằng giấy Dó có độ tuổi thọ tới 500 năm. Có thể vì điều này, người xưa đã dùng giấy Dó để in kinh sách, viết chữ, in tranh dân gian và đặc biệt hơn cả khi các triều đại phong kiến Việt Nam dùng nó cho việc viết sắc phong. Đến nay, nhiều đình, chùa và làng xã vẫn còn lưu giữ được những sắc phong này. Các cụ cao niên ở Yên Thái cho biết, bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng in trên giấy Dó được sản xuất ở vùng Bưởi, bìa là giấy Dó được bóc kép 6 lần và những tờ giấy ruột bên trong văn bản này cũng được bóc kép 3 lần. Được biết đến nay, các trang giấy trong Di chúc vẫn còn nguyên vẹn, không bị nấm mốc, hư hại bởi thời gian.

Giấy Dó vùng Bưởi là một mặt hàng đắt khách của các tiểu thương phố Hàng Giấy xưa kia. Sản phẩm này đã làm hài lòng nhiều văn nhân, nghệ nhân các nơi, để đến hôm nay, hậu thế được chiêm ngưỡng những nét bút của tài hoa của các danh nhân đã được lưu lại trong các văn bản. Những tác phẩm hội họa dân gian, nhiều bức tranh quý có giá trị, ra đời vào những năm 40 của thế kỉ XX đến nay vẫn còn lưu giữ được. Vất vả là thế, nhưng hình ảnh các cô gái làm giấy Dó vẫn hiện lên rất duyên dáng trong những câu thơ của các văn nhân xưa kia:

Người ta bán vạn buôn ngàn
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi
Dám xin ai đó chớ cười
Vì em làm giấy cho người viết thơ.


Giấy Dó vùng Kẻ Bưởi đã đáp ứng cho nhiều nhu cầu khác nhau trong xã hội Việt xưa, đặc biệt đối với việc in ấn kinh sách để lưu truyền, tiêu biểu là những bộ kinh thư Phật giáo. Sự phát triển của nghề làm giấy đã góp phần thúc đẩy nghề in mộc bản. Nguồn tài liệu cổ sử cho biết, nhà sư Tín Học thời Lý đã cho làm nhiều ván khắc dùng cho việc in kinh Phật ở các chùa. Do sự phát triển của nghề làm giấy và nghề in, năm 1734, Chúa Trịnh Giang đã cho in Tứ Thư Ngũ Kinh và không mua tài liệu này do người Trung Quốc in nữa.

Sự phát triển về sản lượng và chất lượng của giấy Dó vùng Bưởi cùng các địa phương khác đã đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội nước ta đương thời. Giấy làm ra vừa đẹp lại bền. Vì lẽ này, Vua Lý Cao Tông (1176-1210) đã chọn giấy Dó là một trong những cống vật của Đại Việt đương thời cho Triều đình nhà Tống. Trong dân gian xưa có câu:

Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô
Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ .


Nghề làm giấy Dó ở vùng Bưởi đã đi vào ca dao xưa như một niềm tự hào, một nét tinh hoa. Ngày nay, công nghệ hiện đại được áp dụng trong quá trình sản xuất giấy, nên nghề làm giấy Dó không còn duy trì như trước. Mặc dù vậy, giữa ồn ào phố thị, nét duyên của Kẻ Bưởi xưa kia vẫn được người dân nơi đây âm thầm lưu giữ.

Theo Tạp chí Di sản

Tin liên quan

Tin mới hơn

Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

LNV - Dù còn gần 2 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán 2026 nhưng không khí sản xuất tại làng nghề bánh tráng Thuận Hưng (TP Cần Thơ) đã trở nên tất bật. Các hộ làm nghề tăng ca liên tục để kịp những đơn hàng Tết được đặt sớm từ khắp nơi
Làng nghề Việt Nam phát triển Tinh hoa đất Việt ngày càng vươn xa

Làng nghề Việt Nam phát triển Tinh hoa đất Việt ngày càng vươn xa

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập (2005 - 2025) và phong tặng các danh hiệu làng nghề, nghệ nhân lần thứ XII. Nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đã phát biểu trong Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam. Tạp chí Làng nghề Việt Nam trân trọng giới thiệu bài phát biểu của ông.
Nghề gốm Việt dòng chảy nghìn năm

Nghề gốm Việt dòng chảy nghìn năm

LNV - Từ thuở con người biết lấy đất nặn hình, nung trong lửa để tạo nên vật dụng, gốm đã trở thành chứng nhân của nền văn minh Việt. Qua hàng nghìn năm, từ bàn tay khéo léo của người thợ, từ lò gốm thô sơ nơi làng quê đến những xưởng hiện đại hôm nay, nghề gốm Việt vẫn bền bỉ giữ hồn đất, hồn người qua từng thớ men, từng đường nét tinh xảo.
Phù Lãng: 03 cá nhân xuất sắc được đặc cách phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam"

Phù Lãng: 03 cá nhân xuất sắc được đặc cách phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam"

LNV - Chiều ngày 08/01/2026 tại Nhà văn hoá xã Phù Lãng (Bắc Ninh), UBND xã Phù Lãng phối hợp với Hiệp hội Làng nghề Việt Nam long trọng tổ chức Hội nghị phong tặng Danh hiệu “Nghệ nhân làng nghề Việt Nam”, xét đặc cách cho 03 nghệ nhân tiêu biểu, không chỉ là sự ghi nhận tài năng cá nhân mà còn khẳng định sức sống bền bỉ của một dòng gốm di sản vùng Kinh Bắc.
Chuyện những người giữ nghề chiếu cói ở Hà Đông

Chuyện những người giữ nghề chiếu cói ở Hà Đông

LNV - Tiên Kiều từng được mệnh danh là “thủ phủ” chiếu cói của vùng đồng chiêm trũng của xã Hà Đông (thành phố Hải Phòng) nhưng nay đã mai một. Từ việc cả làng làm chiếu cói, nay chỉ còn vài hộ. Trong sâu thẳm của những người còn giữ nghề, mỗi tấm chiếu như một sản phẩm tinh thần gắn trọn cuộc đời với họ, không dễ gì phôi pha dù giờ đây khung dệt không còn nhiều.
Gia Lai: Làng nghề nón lá Gò Găng định hướng phát triển du lịch khi được công nhận làng nghề

Gia Lai: Làng nghề nón lá Gò Găng định hướng phát triển du lịch khi được công nhận làng nghề

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại đang ngày một hối hả, tại Làng nghề nón lá Gò Găng phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai (trước đây là phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), những nghệ nhân vẫn lặng lẽ chằm nên những chiếc nón lá trắng ngà, mộc mạc mà tinh tế.

Tin khác

Nghệ nhân giữ hồn nghề đan lát K’ho ở Đam Rông

Nghệ nhân giữ hồn nghề đan lát K’ho ở Đam Rông

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại, tại bon làng Liêng Trang (xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng), nghệ nhân Ntơr Ha Bang vẫn lặng lẽ gắn bó với nghề đan lát truyền thống của người K’ho. Từ những vật dụng sinh hoạt giản dị đến các sản phẩm mang giá trị nghệ thuật, mỗi đường đan của ông không chỉ tạo nên hình hài sản phẩm mà còn lưu giữ ký ức văn hóa, góp phần gìn giữ một nghề truyền thống đang dần mai một.
Đổi mới nghề gốm Bát Tràng

Đổi mới nghề gốm Bát Tràng

LNV - Kế thừa nghề gốm truyền thống của gia đình, anh Vũ Khánh Tùng (CEO Bát Tràng Museum) lựa chọn một lối đi khác biệt: ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hiểu sâu hơn giá trị hoa văn, biểu tượng gốm cổ, từ đó sáng tạo, bảo tồn và làm mới nghề gốm trong đời sống đương đại, mà vẫn giữ trọn tinh thần di sản.
Nghệ nhân thổi hồn âm nhạc Giẻ Triêng giữa đại ngàn

Nghệ nhân thổi hồn âm nhạc Giẻ Triêng giữa đại ngàn

LNV - Ở tuổi 80, Nghệ nhân Ưu tú, già làng A Vẽ (thôn Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi) vẫn miệt mài chế tác và biểu diễn các nhạc cụ dân tộc Giẻ Triêng, mang âm thanh núi rừng hòa vào đời sống đương đại, góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào vùng cao.
Người giữ lửa nghề mỹ nghệ sừng Thụy Ứng

Người giữ lửa nghề mỹ nghệ sừng Thụy Ứng

LNV - Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề chạm khắc sừng truyền thống, nghệ nhân, cựu chiến binh Nguyễn Văn Sử (làng Thụy Ứng, xã Thường Tín, TP Hà Nội) vẫn bền bỉ gìn giữ và thổi hồn cho từng sản phẩm thủ công, góp phần bảo tồn tinh hoa làng nghề giữa nhịp sống hiện đại.
Làng quất Hội An Tây vào mùa thu hoạch Tết

Làng quất Hội An Tây vào mùa thu hoạch Tết

LNV - Những ngày cuối năm âm lịch, trên các cánh đồng quất ở phường Hội An Tây (Đà Nẵng), nông dân tất bật cắt tỉa, chăm sóc, hoàn thiện những công đoạn cuối cùng để kịp cung ứng quất cảnh cho thị trường Tết Nguyên đán 2026. Với diện tích trồng lớn, sản lượng dồi dào và đầu ra ổn định, vụ quất năm nay mang lại niềm vui và kỳ vọng về một mùa Tết đủ đầy cho người trồng quất địa phương.
Giữ lửa nghề truyền thống trong mùa sản xuất Tết

Giữ lửa nghề truyền thống trong mùa sản xuất Tết

LNV - Những ngày cận Tết Nguyên đán, tại nhiều địa phương trong tỉnh Tây Ninh, không khí sản xuất các đặc sản truyền thống như khô bò, bánh mứt và muối tôm trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Dù đối mặt với biến động chi phí và sức mua chưa thật sự bứt phá, các cơ sở vẫn nỗ lực duy trì nhịp sản xuất, giữ vững chất lượng và hương vị truyền thống, đáp ứng nhu cầu thị trường Tết.
Chủ tịch nước Lương Cường chúc mừng năm mới 2026

Chủ tịch nước Lương Cường chúc mừng năm mới 2026

LNV - Thiếp chúc mừng năm mới của Chủ tịch nước là thông điệp mở đầu cho năm 2026 với tinh thần đoàn kết, khát vọng vươn lên và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Phát huy vai trò nghệ nhân trong phát triển văn hóa

Phát huy vai trò nghệ nhân trong phát triển văn hóa

LNV - Đội ngũ nghệ nhân và người có uy tín được xem là “báu vật nhân văn sống” của Lạng Sơn, giữ vai trò quyết định trong bảo tồn, thực hành và phát huy kho tàng văn hóa truyền thống. Họ đồng thời là cầu nối giữa chính quyền với đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, đảm bảo an ninh và thúc đẩy phát triển địa phương.
Sức sống bền bỉ từ các làng nghề xứ Thanh

Sức sống bền bỉ từ các làng nghề xứ Thanh

LNV - Những làng nghề truyền thống như đúc đồng Trà Đông, rèn Tất Tác hay mộc Đạt Tài đang trở thành những “kho tàng sống” của văn hóa xứ Thanh. Dù nghề thủ công phải thích ứng với yêu cầu thị trường và công nghệ mới, người dân nơi đây vẫn bền bỉ giữ nghề, giữ lửa, truyền lại tinh hoa cho thế hệ trẻ, tạo nên sức sống bền vững cho di sản trong nhịp sống hiện đại.
Nhộn nhịp không khi sản xuất ở làng nghề Bình Hòa

Nhộn nhịp không khi sản xuất ở làng nghề Bình Hòa

LNV - Những ngày cuối năm, không khí làm việc tại làng nghề may mùng, mền xã Bình Hòa (An Giang) trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Các cơ sở tăng ca sản xuất, còn lao động “vệ tinh” tranh thủ từng giờ rảnh để kịp giao hàng, đáp ứng nhu cầu mua sắm Tết đang tăng mạnh trên thị trường.
Ngắm sắc màu thổ cẩm ở làng Chăm Châu Phong

Ngắm sắc màu thổ cẩm ở làng Chăm Châu Phong

LNV - Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở xã Châu Phong (An Giang) đã tồn tại hơn hai thế kỷ, trở thành biểu tượng văn hóa gắn liền với đời sống cộng đồng Hồi giáo Chăm. Được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia vào năm 2023, thổ cẩm Châu Phong ngày càng khẳng định giá trị khi hòa mình vào dòng chảy du lịch, thu hút đông đảo du khách đến khám phá và trải nghiệm.
Đằng sau ánh lửa giữ nghề: Nỗi lo sức khỏe của những người thợ thủ công

Đằng sau ánh lửa giữ nghề: Nỗi lo sức khỏe của những người thợ thủ công

LNV - Làng nghề được xem là nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa dân tộc và tạo sinh kế cho hàng triệu người dân. Tuy nhiên, đằng sau những sản phẩm thủ công tinh xảo là nỗi lo về sức khỏe của người lao động, những con người ngày ngày tiếp xúc với khói bụi, hóa chất, tiếng ồn và nhiệt độ cao trong điều kiện làm việc thiếu an toàn.
Nghệ nhân “hoá thân” chất liệu đời thường thành tác phẩm nghệ thuật

Nghệ nhân “hoá thân” chất liệu đời thường thành tác phẩm nghệ thuật

LNV - Qua bàn tay tài hoa và tâm hồn của người nghệ sĩ, nhiều chất liệu giản dị nhất trở thành tác phẩm nghệ thuật, mang hơi thở của đời sống, phản chiếu tâm hồn con người Việt Nam.
Làng nghề Đại Bái nỗ lực vượt khó, đổi mới sản xuất để đáp ứng đơn hàng Tết

Làng nghề Đại Bái nỗ lực vượt khó, đổi mới sản xuất để đáp ứng đơn hàng Tết

LNV - Trước yêu cầu dừng hoạt động các lò đúc nhằm bảo đảm môi trường, các cơ sở sản xuất ở làng nghề đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) đã nhanh chóng thích ứng, thay đổi phương thức sản xuất và liên kết với cơ sở được cấp phép để duy trì nguồn nguyên liệu. Nhờ chủ động cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, các doanh nghiệp và hộ làm nghề vẫn đáp ứng kịp thời đơn hàng Tết, giữ vững thị trường truyền thống.
Nhộn nhịp sản xuất ở các làng nghề truyền thống dịp cuối năm

Nhộn nhịp sản xuất ở các làng nghề truyền thống dịp cuối năm

LNV - Không khí sản xuất tại các làng nghề truyền thống ở Lạng Sơn đang trở nên nhộn nhịp hơn trong những ngày cận Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Sắc màu lao động hiện diện khắp các nếp nhà, tạo nên bức tranh kinh tế sôi động và nhiều kỳ vọng.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làn
“Tết bản làng” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

“Tết bản làng” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

LNV - Từ ngày 05 - 31/01, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 1 với chủ đề “Tết bản làng” giới thiệu các hoạt động đón xuân, nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán… giúp du khách hiểu biết sâu
Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

Làng nghề Thuận Hưng sản xuất bánh tráng nhộn nhịp phục vụ Tết

LNV - Dù còn gần 2 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán 2026 nhưng không khí sản xuất tại làng nghề bánh tráng Thuận Hưng (TP Cần Thơ) đã trở nên tất bật. Các hộ làm nghề tăng ca liên tục để kịp những đơn hàng Tết được đặt sớm từ khắp nơi
Gia Lai: Công nhận 21 sản phẩm OCOP 3 sao và 4 sản phẩm OCOP 4 sao

Gia Lai: Công nhận 21 sản phẩm OCOP 3 sao và 4 sản phẩm OCOP 4 sao

LNV - UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành Quyết định 3276, phê duyệt kết quả đánh giá, phân hạng sản phẩm đạt OCOP 3 sao và 4 sao năm 2025 thuộc Chương trình mỗi xã một sản phẩm, tỉnh Gia Lai (đợt 1).
Xóa đói, giảm nghèo từ thực tiễn nhìn từ công tác rà soát hộ nghèo ở xã Đức Lương

Xóa đói, giảm nghèo từ thực tiễn nhìn từ công tác rà soát hộ nghèo ở xã Đức Lương

LNV - Từ thực tiễn đời sống người dân miền núi, công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 tại xã Đức Lương (Thái Nguyên) không chỉ phản ánh bức tranh sinh kế của người dân, mà còn cho thấy những nỗ lực của chính quyền cơ sở trong việc xác định đúng
Giao diện di động