Hà Nội: 28°C Hà Nội
Đà Nẵng: 29°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 28°C Thừa Thiên Huế

Bàn về truyền thống

LNV - Mượn cớ đọc các bài trên các báo về việc khôi phục áo dài nam truyền thống. Tôi nhận thấy có nhiều điều cần trao đổi về nhận thức và cách thực hiện ý tưởng này. Câu hỏi đặt ra là tại sao áo dài truyền thống nữ không đứt gãy, không mai một, dù có lúc dừng lại, nhưng chúng vẫn phát triển rực rỡ đến hôm nay và một tương lai không có bất kỳ dấu hiệu cản trở nào chỉ báo dừng lại. Vì sao áo dài nữ hiện đại ngày nay vẫn được tôn vinh, được nhìn nhận, chứng thực một cách tự nhiên là “áo dài truyền thống của phụ nữ Việt Nam” bất cứ đâu trên thế giới. Còn áo dài nam thì không?
Trước khi trao đổi, tôi xin kể một truyền thống nhỏ: Tại sao người Nhật bỏ giày của họ khi vào nhà?

Khoảng 2.300 năm trước, người Nhật bắt đầu đi giày để ra đồng trồng lúa. Họ mang giày để giữ cho đôi chân khô ráo trong những ngày dài ẩm ướt bên ngoài. Và vì vậy, trước khi bước vào nhà vào mỗi buổi tối, họ sẽ tháo giày để tránh mang bùn bẩn vào bên trong nhà.

Nhưng sự sạch sẽ chỉ là một phần của lý do. Người Nhật suy nghĩ về cách ứng xử, khi họ xem ngôi nhà của mình là một nơi thiêng liêng. Truyền thuyết cho rằng nguồn gốc của tập tục truyền thống này đến từ nhà kho, nơi có sàn nâng cao được sử dụng để chứa ngũ cốc trong thời kỳ Minh Trị. Số thóc họ thu được tượng trưng cho quyền lực, vì vậy việc mang chất bẩn vào kho sau một ngày dài được coi là sự sỉ nhục đối với công việc họ đã làm giảm quyền lực của họ. Và ngày nay truyền thống này vẫn được thực hiện trên khắp Nhật Bản, không chỉ trong nhà của mọi người mà ở nhiều nhà hàng, trường học, đền thờ, và thậm chí cả các buổi lễ trà. Truyền thống này đã trở thành một phần của văn hóa Nhật Bản.


Bức họa đám rước thánh ở Bắc Kỳ, thế kỷ 19, cho thấy lối trang phục đàn ông: thân mặc áo dài, dưới bụng mặc quần,
đầu đội khăn xếp.


Tương tự, người Việt xem cơm ăn là hạt ngọc của trời vì vậy các bậc cha mẹ thường dạy con phải ăn hết chén cơm, không được phung phí. Đó cũng là truyền thống trong gia đình và xã hội Việt Nam.
Vậy Truyền thống là gì? Truyền thống là một thuật ngữ cụ thể hơn văn hóa. Hàng trăm, hàng ngàn truyền thống như vậy tạo ra bản sắc các cộng đồng dân cư và hình thành nền văn hóa của họ. Truyền thống thường được sử dụng để mô tả một sự kiện hoặc hoạt động cá nhân, nhóm người... chẳng hạn như tháo giày khi bước vào nhà của người Nhật, ăn hết cơm trong chén... Rõ ràng truyền thống là những ý tưởng và niềm tin được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng không phải là quy tắc, mà là “hướng dẫn”. Mỗi gia đình trong một nền văn hóa nhất định có thể có những truyền thống độc đáo của riêng mình trong khi vẫn chia sẻ những truyền thống chung khác của cộng đồng, dân tộc.

Quay trở lại, những lý do áo dài nam mất dần trong đời sống do “định kiến”, “ảnh hưởng của âu phục” ... chỉ là do người ta tự nghĩ ra để giải thích hoặc gán cho nguyên nhân sự mai một của áo dài nam. Đối với nghề thủ công truyền thống bị mai một cũng vậy, không hoàn toàn do đứt gãy hay sản xuất công nghiệp lấn át. Mấu chốt của việc này rất khác.

Truyền thống mà hầu hết các từ điển đều định nghĩa đơn giản: Truyền thống là phong tục tập quán (hay bất cứ thứ gì) của người đời xưa được người sau làm theo và truyền từ đời này sang đời khác (liên miên bất tận). Mỗi một vùng sẽ có mỗi phong tục tập quán, truyền thống riêng.

Chúng ta cần chú ý nội hàm quan trọng nhất của khái niệm truyền thống là “truyền” như trong “các đời nối dõi không dứt”, như “huyết thống” dòng máu, “truyền thống” liên hệ từ đời này sang đời khác. Ví dụ Chiến quốc sách: “Thiên hạ kế kì thống, thủ kì nghiệp, truyền chi vô cùng”: Thiên hạ nối tiếp các thế hệ, giữ sự nghiệp của mình, truyền lại mãi về sau không dứt.

“Truyền thống”, theo gốc từ Latinh được viết là “Tradio”, gồm động từ “Tradere (traditus) nguyên nghĩa của nó là “truyền lại”, “nhường lại”, “giao lại” và “phân phát”. Do vậy, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất của khái niệm này, truyền thống là sự kế thừa di sản văn hóa xã hội có giá trị được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Áo dài nam không “truyền” lại được thì chỉ còn lại trong bảo tàng để đánh dấu một giai đoạn lịch sự văn hóa (của một công đồng hay giai tầng xã hội của giai đoạn được đề cập).

Truyền thống phải là những gì từ trong quá khứ kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện còn có nhiều tác dụng (hay công năng, chức năng, công dụng; Không có điều này chúng sẽ mất, mai một).

Khái niệm truyền thống, phù hợp với ý tưởng phải là “văn hóa được truyền tải” nghĩa là nhấn mạnh hoặc đề cập cụ thể đến việc truyền tải như một quá trình “sống” - như một trong những việc truyền lại các kỹ năng và kiến thức nghề thủ công - đồng thời đánh giá chúng về giá trị hiện tại và khả năng tồn tại trong tương lại của chúng. Do đó, truyền thống là đại diện cho một nguyên tắc (1) văn hóa truyền tải thành công trong suốt quá trình chuyển đổi, mở rộng và truyền tải (kiến thức và kỹ năng, niềm tin…) dưới hình thức bền vững qua nhiều thế hệ. Không chuyển tải thành công, không trở thành truyền thống. Truyền thống là (2) năng động (hiểu theo nghĩa tiến trình liên tục thay đổi hoặc phát triển) không mâu thuẫn với hiện đại, mà luôn liên quan với nhau. Các cộng đồng có ý thức về cội nguồn lịch sử của mình và đặt cái “cũ” vào các quá trình lựa chọn để tự đổi mới và từ đó chuyển tải những khía cạnh đã được chứng minh, khẵng định và vẫn còn chức năng cũng như những khía cạnh có thể đổi mới trong tương lai. Do đó, khái niệm truyền thống này bao hàm sự tác động lẫn nhau giữa tính năng động và tính liên tục trong quá trình truyền tải.

Đặc trưng của truyền thống là chất lượng của sự sống động và năng động của chúng – theo cách mà chúng đồng thời vừa kỳ vọng vào sự thay đổi có thể xảy ra trong tương lai và vừa mong muốn sự quay trở lại những biến hóa và những thay đổi của lịch sử truyền thống thường có tuổi đời hàng thế kỷ.

Khái niệm mà trong đó yếu tố nhiều thế kỷ, nhiều thế hệ liên tục là cần thiết để nói về tri thức (tập tục, âm nhạc, nghề thủ công...) truyền thống (khác với các trường hợp chỉ thực sự xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn hơn). Yếu tố quan trọng để đi từ việc truyền lại đơn giản sang truyền lại truyền thống là sự lặp lại: Nghĩa là một người khi bắt đầu chuỗi trao truyền sẽ truyền lại kiến thức, nghi lễ, tập tục... dựa trên kinh nghiệm từ cuộc sống của mình cho người kế thừa (người nối nghiệp). Người kế thừa từ tiền bối này, đến lượt họ, truyền lại kiến thức nhận được - sau khi biến chúng thành kiến thức, kinh nghiệm mà chính họ thông qua ứng dụng, thực hành chúng - cho thế hệ thứ ba có ý định áp dụng kiến thức đã có trước. Việc truyền tải kiến thức kinh nghiệm không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình, ở đây, cũng không phải là việc tìm kiếm một truyền thống “đích thực, nguyên bản” với bất kỳ ý nghĩa nào (như yêu cầu mặc áo dài nam cho đúng nguyên gốc ngũ thân và chê bai các áo dài nam sáng tạo mới). Vì nếu mối quan tâm của một người nào tập trung vào sự năng động và ứng dụng kiến thức, thì bất kỳ sự dòi hỏi nào để xác định và tìm cách bảo tồn các truyền thống “đích thực” và “không sai lầm” đều bị bác bỏ.

Do đó, các hằng số, hay quang phổ, phạm vi… của một truyền thống nhất định được thể hiện bởi các điều kiện mà chúng là chủ thể - sự truyền tải giữa các cá nhân (hay cộng đồng) qua nhiều thế hệ - các quá trình lựa chọn dựa trên nhu cầu gắn liền với các thế hệ tương ứng, với các ảnh hưởng văn hóa xã hội - chứ không phải bởi nội dung thực tế của chúng về mặt kiến thức và kỹ năng, vì những khía cạnh này (kiến thức và kỹ năng...) thường thay đổi liên tục khi đưa vào thực hành và đời sống. Áo dài nam không phát triển sẽ mai một. Mặt rất quan trọng khác, nghề may áo dài thủ công truyền thống vẫn là nghề thủ công sống động, đồng thời với truyền tải tích cực kết hợp tính năng động của sự thay đổi.

Áo giao lĩnh - Áo dài tứ thân (thế kỉ 17) - Áo dài ngũ thân (thời Vua Gia Long) - Áo dài Lemur (họa sĩ Cát Tường sáng tạo vào năm 1939, đến 1943 thì bị lãng quên.) - Áo dài Lê Phổ (biến thể của áo dài Lemur của họa sĩ Lê Phổ nên được gọi là áo dài Lê Phổ đến những năm 1950, phong cách áo dài Việt Nam đã trở thành trang phục truyền thống nước nhà)- rồi Áo dài Raglan vào năm 1960 do nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn sáng tạo ra. Áo dài tân thời Việt Nam từ những năm 1960 đến nay. Tóm tắt Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ như vậy đều có sự biến đổi to lớn để có sức sống và phát triển với nhiều kiểu dáng, chất liệu từ cổ điển, hiện đại đến phá cách, áo cưới hay áo cách tân tùy hoàn cảnh mà nó xuất hiện. Nhưng dù biến muôn hình vạn trạng thế nào thì chiếc áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt vẫn giữ được các nguyên tắc cắt, may thủ công nhưng vẫn uyển chuyển, gợi cảm, kín đáo, cá tính hay cá nhân hóa mà không trang phục nào làm được. Do quá trình “truyền tải thành công” này mà ngày nay áo dài nữ tạo ra niềm tin trong cộng đồng, xã hội, mà cũng sự thích nghi bất tận đó, áo dài truyền thống nữ có một tương lai không chút bụi mờ. Điều rất quan trọng, áo dài nữ có chức năng khá rộng, có thể sử dụng áo dài truyền thống trong lễ hội, tiếp tân, tín ngưỡng, tôn giáo, làm việc hàng ngày. Chức năng càng lớn thì truyền thống càng bền vững. Đặc biệt khác, là không chỉ cộng đồng người Kinh mà các cộng đồng các dân tộc khác đều có thể sử dụng cho dù các dân tộc khác đều có y phục truyền thống riêng.

Sẽ không thuyết phục nếu chúng ta vẫn tiếp tục với các hội thảo, tuyên truyền như cách làm hiện nay. Huế nên khôi phục lại nghề dệt may kinh đô xưa, nơi xuất phát áo dài nam (ngũ thân hoặc có thể khác) như An Giang khôi phục và phát triển các nghề dệt, may truyền thống để sản xuất tiêu dùng trong cộng đồng và xuất khẩu vải và y phục truyền thống tín ngưỡng sang Cambodia và Malaysia. Hãy làm từ gốc chứ không nên hớt ngọn, không thể chỉ khai thác phần vật thể mà không vun trồng cho di sản phi vật thể bởi các yếu tố phi vật thể tạo nên truyền thống. Chúng ta không thể ép buộc mọi người theo ý mình. Mọi di sản văn hóa truyền thống đều phải có chủ, nếu thuộc về công đồng thì phải được sự công nhận, chứng thực của cộng đồng ấy. Mỗi cộng đồng đều có truyền thống riêng.

Hãy tạo điều kiện cho nghề truyền thống có không gian, điều kiện, vật dụng, thiết bị, cơ chế... cho sự sáng tạo. Xin nhớ rằng: việc làm của ngày hôm nay sẽ là truyền thống trong tương lai. Và thế hệ này có thể từ chối một di sản nhưng thế hệ sau sẽ nhận mang chúng, lưu giữ chúng và truyền chúng cho đời sau một khi chúng có giá trị nào đó cho niềm tin, cho cộng đồng và tương lai của truyền thống đó.

Nguyễn Lực
Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Nghệ nhân Ưu tú – Nhà thiết kế áo dài Lan Hương: Gìn giữ hồn nghề, lan tỏa giá trị Việt

Nghệ nhân Ưu tú – Nhà thiết kế áo dài Lan Hương: Gìn giữ hồn nghề, lan tỏa giá trị Việt

LNV - Không chỉ được biết đến là một nhà thiết kế áo dài giàu tâm huyết, Nghệ nhân Ưu tú – Nghệ nhân Làng nghề Việt Nam, Nhà thiết kế Lan Hương còn là người bền bỉ trên hành trình đưa văn hóa truyền thống, chất liệu dân gian và tinh hoa nghề thủ công vào
Thanh Hóa: Lập Đề án tổng thể giải quyết tình trạng ngập úng tại các khu đô thị

Thanh Hóa: Lập Đề án tổng thể giải quyết tình trạng ngập úng tại các khu đô thị

LNV – Vừa qua, UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành Công văn số 17782/UBND-CNXD về xây dựng đề cương nhiệm vụ và kinh phí lập Đề án tổng thể giải quyết tình trạng ngập úng tại các phường thuộc đô thị Thanh Hóa.
Thanh Hóa: Tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn

Thanh Hóa: Tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn

LNV – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Đầu Thanh Tùng vừa ký Công văn số 17808/UBND-VHXH về việc tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh.
Dấu ấn nông dân Hữu Lũng trong xây dựng nông thôn mới

Dấu ấn nông dân Hữu Lũng trong xây dựng nông thôn mới

LNV - Phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới (NTM), thời gian qua, Hội Nông dân xã Hữu Lũng đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, huy động hội viên tích cực tham gia, góp phần làm đổi thay diện mạo nông thôn và nâng cao đờ
Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035

Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035

LNV -Chiều 24/8, với 477/478 số đại biểu tham gia tán thành (chiếm tỉ lệ 95,4%), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động