Hà Nội: 30°C Hà Nội
Đà Nẵng: 29°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 26°C Thừa Thiên Huế

Xây dựng “Hệ giá trị” trong làng nghề

LNV - Xây dựng hệ giá trị quốc gia, chuẩn mực con người Việt Nam là một trong những nội dung trọng tâm, cốt lõi góp phần phát huy sức mạnh của văn hóa, giá trị của con người trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Ngày 29/11/2022, Ban Tuyên giáo trung ương đã chủ trì cuộc Hội thảo quốc gia về “Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới”. Đây là cuộc hội thảo có ý nghĩa rất quan trọng, được tổ chức để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, một năm sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 và một năm triển khai Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị văn hóa toàn quốc, nhằm tập trung làm rõ các nội dung, nội hàm và thành tố cơ bản của các hệ giá trị cũng như mối quan hệ biện chứng giữa các hệ giá trị ấy trong thời kỳ mới.



YÊU CÀU CỦA PHÁT TRIỂN

Đất nước ta đã có hệ giá trị từ hàng nghìn năm theo lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, là nền tảng, điểm tựa cho phát triển ở mọi thời đại, tạo ra sự ổn định lâu dài cho quốc gia, dân tộc qua các biến cố lịch sử như: bị xâm chiếm, đô hộ và âm mưu đồng hóa về văn hóa của kẻ thù. Trong thời kỳ mới, đất nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giá trị đó cần được bảo tồn và phát huy với những thành tố mới.

Từ những năm Đổi mới đến nay, yêu cầu xây dựng hệ giá trị được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, Đại hội XIII của Đảng (2021) và gần đây nhất là Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021.

Theo Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, giá trị là hệ thống những đánh giá của con người về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp, hay chính là những giá trị chân, thiện, mỹ giúp khẳng định và nâng cao
bản chất người.

Nhiều giá trị có mối liên hệ hữu cơ với nhau tạo thành hệ giá trị. Khi nhận thức giá trị được định hình, nó sẽ chi phối suy nghĩ, niềm tin, tình cảm và hành động của con người. Hệ giá trị quốc gia là sự đúc kết, chưng cất những giá trị nền tảng, cốt lõi của một quốc gia, thường là những giá trị lớn mang tính vĩ mô, phổ quát như tự do, dân chủ, công bằng, phồn vinh, thịnh vượng. Hệ giá trị văn hóa thể hiện những nét đặc trưng, tiêu biểu, chủ đạo của một nền văn hóa như yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, cần cù, hiếu học. Hệ giá trị gia đình khuôn lại ở những giá trị, chuẩn mực ứng xử trong cuộc sống gia đình như hiếu thảo, chung thủy, hạnh phúc, yêu thương, chia sẻ (Báo Tuổi trẻ, 28/11/2022). Trong đó, chuẩn mực xây dựng con người là trung tâm, hệ giá trị gia đình là cơ bản, hệ giá trị văn hóa là nền tảng, hệ giá trị quốc gia - dân tộc là mục tiêu cao cả, chi phối các hệ giá trị khác.

Nội dung các vấn đề mà Hội thảo quốc gia về “Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới” ngày 29/11/2022 đề cập rất rộng, bài viết này chỉ tập trung vào hai vấn đề “Hệ giá trị quốc gia” và “Chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới”, nêu lên một số điều về lý luận, quan điểm và giải pháp thực hiện để làng nghề chúng ta tham khảo, vận dụng.

HỆ GIÁ TRỊ QUỐC GIA

1.Trước hết, xin giới thiệu về khái niệm lý luận. “Hệ giá trị” (Value System, Values Code, Ethics Code) ban đầu được hiểu là thuật ngữ/khái niệm dùng để chỉ “một tập hợp các giá trị, được thể hiện dưới dạng các phẩm chất, các nguyên tắc, các lý tưởng, và cả các triết lý”… định hướng cho hoạt động của một tổ chức thuộc các lĩnh vực thương mại, công nghiệp, dịch vụ, sản xuất và đôi khi cả trong các lĩnh vực xã hội, giáo dục, quân sự, chính trị, tôn giáo… Sau đó, Hệ giá trị với nghĩa là “bảng giá trị lý tưởng, chính thống, chủ yếu, cơ bản của một dân tộc - quốc gia hay một vùng văn hóa” đã được định hình và sử dụng rộng rãi.

Theo các nhà nghiên cứu, hệ giá trị quốc gia có ba chức năng cơ bản, đó là: định hướng, đánh giá, điều chỉnh các quan hệ xã hội. Cụ thể là: (i) xác lập các giá trị cơ bản định hướng cho suy nghĩ và hành động của xã hội, hướng dẫn niềm tin của xã hội vào thực hiện các giá trị tích cực đã xác định; (ii) thể hiện sự phán xét, đánh giá của xã hội đến từng cá nhân hoặc cộng đồng về quá trình thực hiện các giá trị được tuyên bố; (iii) điều tiết các hành vi của cá nhân và xã hội thông qua các thể chế, thiết chế xã hội để hướng các hoạt động xã hội vào thực hiện các giá trị được xã hội thừa nhận, xử lý các hành vi lệch chuẩn. Các giá trị này được giáo dục, khuyến khích trong các gia đình, nhà trường và xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc quy tụ các cộng đồng, dân tộc để củng cố sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Hiện nay, trên thế giới, có những khu vực hoặc quốc gia đã đề ra các giá trị quốc gia làm biểu tượng chung cho khu vực và quốc gia mình, dựa trên khát vọng phát triển, phản ánh đặc trưng và bản sắc văn hóa riêng
biệt của họ.

Thí dụ như hệ giá trị phương Tây được xác định bẩy giá trị cốt lõi: Công bằng và chính nghĩa; Quyền/quyền lợi; Bình đẳng; Tự do; Khoan dung; Tự trị/tự lập; Dân chủ. Năm 2012, Ủy ban châu Âu đưa ra năm giá trị được người dân châu Âu đề cao là: Hòa bình; Dân chủ; Nhân quyền; Tuân thủ pháp luật; Tinh thần đoàn kết.

Ở châu Á, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra bốn giá trị châu Á nổi bật là: Đề cao đức tính cần cù, yêu lao động; Đề cao giá trị hiếu học; Đề cao giá trị gia đình, huyết tộc; Đề cao giá trị cộng đồng, trách nhiệm xã hội. Có thể kể thêm như sau (theo Tạp chí Lý luận chính trị, số 03/2021):

Hệ giá trị truyền thống Nhật Bản gồm tám giá trị: Đoàn kết; Kỷ luật; Nhẫn nại; Trung thành; Trách nhiệm; Lịch sự; Tự chủ; Tránh làm phiền người khác. Đáng chú ý là trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, Nhật Bản xác định năm giá trị cốt lõi để hội nhập: Cộng sinh, cộng tồn; Biết điều chỉnh bản thân; Tư duy độc lập; Biết sáng tạo cái mới; Tôn trọng sự khác biệt.

Malaysia xác định năm nguyên tắc quốc gia gồm:Tin vào Thượng đế; Trung thành với Nhà vua và đất nước; Tuân thủ Hiến pháp; Cai trị bằng pháp luật; Hành vi tốt, đạo đức tốt.

Singapore đã xây dựng hệ giá trị quốc gia cũng được gọi là “Các giá trị chung Singapore” gồm năm giá trị: Dân tộc trước cộng đồng, xã hội trên cá nhân; Gia đình là đơn vị cơ bản nhất của xã hội; Hỗ trợ cộng đồng và tôn trọng cá nhân; Đồng thuận, không xung đột; Hòa hợp chủng tộc và tôn giáo.

Tại Trung Quốc (Theo Báo Tuổi trẻ, 29/11/2022) , Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (2012) đã ban hành "hệ giá trị cốt lõi xã hội chủ nghĩa mới Trung Quốc" gồm bốn giá trị quốc gia: thịnh vượng, dân chủ, văn minh, hài hòa; bốn giá trị xã hội: tự do, bình đẳng, công bằng, pháp trị; và bốn giá trị cá nhân: yêu nước, trọng nghề, thành tín, thân thiện.

2. Ở nước ta, với bản Tuyên ngôn độc lập (1945) và Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sáng suốt khi vận dụng những quan niệm tiến bộ của thế giới văn minh với nguyện vọng tha thiết của dân tộc, đúc kết hệ giá trị quốc gia thời dân chủ cộng hòa trong sáu chữ “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”.

Từ đó đến nay, Hệ giá trị quốc gia đã liên tục được khẳng định, tiếp nối, bổ sung và hoàn thiện từng bước, được nêu trong nhiều văn kiện của Đảng, mở dầu từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI. Đến năm 2021, Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”, phù hợp với định hướng phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu: “Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Những giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi văn hóa gia đình Việt Nam với những giá trị cốt lõi: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển bởi nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”. Ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư về những thành tố cơ bản của các hệ giá trị nói trên cần được tiếp tục nghiên cứu và quán triệt
trong cuộc sống.



CHUẨN MỰC CON NGƯỜI

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm, là chủ thể của mọi sáng tạo. Con người cũng là chủ thể tạo dựng nên các giá trị văn hóa, giá trị gia đình và quốc gia. Hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam hôm nay phải được xây dựng trên cơ sở kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của con người và văn hóa Việt Nam
trong lịch sử.

Đề cập vấn đề này, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) đã nhấn mạnh: bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…”.

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) đã xác định năm đức tính cần xây dựng gồm:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2014) đã nhấn mạnh “Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”. Có thể coi bảy đặc tính cơ bản này là định hướng xây dựng các giá trị cốt lõi trong chuẩn mực con người Việt Nam.

Do vậy, hệ giá trị con người có những giá trị tương đồng với hệ giá trị gia đình, hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị quốc gia, lại có những giá trị riêng biệt. Giá trị con người chính là nhân tố cốt lõi và liên kết giữa các tầng nấc giá trị: yêu nước có thể vừa là giá trị con người, vừa là giá trị văn hóa, nhưng những giá trị thể hiện phẩm chất, đạo đức, năng lực cá nhân như trung thực, liêm khiết, cần kiệm, sáng tạo… thì sẽ thuộc giá trị con người. Vấn đề đặt ra hiện nay là trên cơ sở định hướng chung về hệ giá trị con người, cần phải cụ thể hóa thành hệ giá trị của từng chủ thể đáp ứng với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới, đồng thời hiện thực hóa các hệ giá trị này trong đời sống thực tiễn.

Với các làng nghề chúng ta, trên cơ sở xây dựng và thực hiện Chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, cần cụ thể hóa và vận dụng các chuẩn mực ấy đối với các con người trong làng nghề. Có thể nêu lên những nhóm chuẩn mực như sau:

- Đối với quốc gia, dân tộc: đó là nêu cao lòng yêu nước, khát vọng xây dựng đất nước hùng cường; ra sức phát triển sản xuất kinh doanh, đóng góp ngày càng nhièu cho kinh tế-xã hội quốc gia;

- Đối với nghề thủ công: đó là niềm tự hào về giá trị văn hóa nghề thủ công, ý chí và quyết tâm tiếp tục phát huy các giá trị truyền thống trong thời đại mới;

- Trong quan hệ giữa các thành viên trong cơ sở: phát huy ý chí đổi mới, sáng tạo trong công việc, quan tâm đời sống tinh thần và vật chất của con người, coi con người là chủ thể; chú trọng đào tạo và phát huy nghệ nhân;

- Trong quan hệ với các đối tác trên thị trường: kinh doanh đúng luật pháp, nêu cao chữ “tín”, cạnh tranh lành mạnh, chú trọng liên két theo chuỗi giá trị, thực hiện liên kết nhiều chiều để tăng giá trị, tăng lợi nhuận;

- Thực hiện trách nhiệm xã hội: góp phần xây dựng làng nghề văn hóa, quê hương, làng xóm giàu đẹp, đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi, trợ giúp các thành phần yếu thế, tham gia thực hiện các chương trình xã hội, từ thiện, “xóa đói, giảm nghèo”, xây dựng nông thôn mới.

- Đối với bản thân: chịu học hỏi, cầu tiến bộ, sinh hoạt giản dị, tiết kiệm; vun đắp tình cảm gia đình thương yêu, hòa thuận; ông, bà, cha, mẹ gương mẫu, con, cháu hiếu thảo.

Để mỗi con người trong các làng nghề xây dựng và thực hiện các chuẩn mực nói trên, rất cần những chủ trương, cơ chế, chính sách phù hợp. Đó là hệ thống thể chế khai phóng tư duy, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, xây dựng văn hóa làng nghề. Đối với Nhà nước, cần xây dựng Chính phủ kiến tạo: “Kỷ cương - Liêm chính - Hành động - Sáng tạo - Hiệu quả”, đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính. Với Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, đó là sự trợ giúp trong các hoạt động thiết thực như: hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm, đào tạo, tư vấn và trợ giúp pháp lý, v.v...


GCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn-Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.

Tin khác

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

LNV - Sau khi thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và huyện theo Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ vào năm 2025, tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ thống quản lý hành chính tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ (TCMN) theo hướng bền vững và chuyên sâu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Góp phần tôn vinh những tấm gương sáng vì sức khỏe cộng đồng

Góp phần tôn vinh những tấm gương sáng vì sức khỏe cộng đồng

Ngày 16/7/2026 tại Khách sạn La Thành (số 226 phố Vạn Phúc, phường Ngọc Hà, Hà Nội), Trung tâm Truyền thông - Giáo dục Sức khoẻ Trung ương (Bộ Y tế) chính thức phát động cuộc thi sản phẩm phát thanh, truyền hình về gương sáng trong công tác phòng bệnh năm 2026 với thông điệp "Chung tay phòng bệnh - Vững mạnh cộng đồng".
Hà Nội: Rà soát kỹ di tích, làng nghề trong dự án trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng

Hà Nội: Rà soát kỹ di tích, làng nghề trong dự án trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng

Văn phòng Thành ủy Hà Nội vừa có thông báo kết luận của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về một số nội dung liên quan dự án đầu tư Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng.
Vươn lên làm giàu từ mô hình trồng nho sữa ở xã Liên Minh

Vươn lên làm giàu từ mô hình trồng nho sữa ở xã Liên Minh

LNV - Nhờ mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại, gia đình ông Nguyễn Văn Nội và bà Nguyễn Thị Xinh ở xã Liên Minh, TP Hà Nội đã xây dựng thành công mô hình trồng nho sữa
Đổi mới công nghệ, làng nghề truyền thống tăng sức cạnh tranh trên thị trường

Đổi mới công nghệ, làng nghề truyền thống tăng sức cạnh tranh trên thị trường

LNV - Giữa làn sóng chuyển đổi số và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường, các làng nghề truyền thống xứ Quảng đang mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất.
Hà Nội tăng tốc chuẩn hóa, kết nối, ‘làm sạch’ dữ liệu đất đai toàn thành phố

Hà Nội tăng tốc chuẩn hóa, kết nối, ‘làm sạch’ dữ liệu đất đai toàn thành phố

LNV - Thành phố Hà Nội đang dồn lực cho chiến dịch cao điểm nhằm chuẩn hóa toàn bộ dữ liệu đất ở, đất nông nghiệp và căn hộ chung cư, kết nối trực tiếp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thông qua mã định danh.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động