Hà Nội: 27°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 29°C Thừa Thiên Huế

Tiềm năng sáng tạo của nghề thủ công trong đại dịch Covid -19

LNV - Trong lịch sử dân tộc ta, nghề thủ công xuất hiện từ rất sớm và ngày càng phát triển, trở thành di sản văn hóa phi vật thể, góp phần quan trọng vào kho tàng văn hóa của làng nghề và của cả dân tộc. Cho đến nay, sức sáng tạo mạnh mẽ, vô tận của nghề thủ công đã trở thành tài sản và niềm tự hào của làng nghề nước ta. Trong tình hình đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, việc phát huy sức sáng tạo này lại càng cần thiết để làng nghề thích nghi, tồn tại đồng thời chuẩn bị cho bước phát triển mới trong thời gian tới. Nghiên cứu về sức sáng tạo của nghề thủ công là một đề tài rất quan trọng song rất rộng, bài này chỉ gợi lên một số vấn đề để cùng trao đổi.
SÁNG TẠO KHÔNG NGỪNG THEO DÒNG LỊCH SỬ

Theo các kết quả nghiên cứu khảo cổ học, dân tộc ta đã trải qua những bước tiến hóa quan trọng trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước; Trong tiến trình ấy, con người Việt đã biết dùng các công cụ chế tác từ nguyên liệu tại chỗ dùng cho lao động sản xuất và chống giặc, giữ nước; Nghề thủ công bắt đầu ra đời từ đó.

Thời tiền sử được ghi nhận từ thời đại Đồ đá cũ mà điển hình là Văn hóa Tràng An (23.000 – 1.000 năm trước Công nguyên) đến thời đại Đồ đá mới, điển hình là Văn hóa Hòa Bình (12.000 – 10.000 năm TCN), thời đại Đồ đồng đá, có Văn hóa Hạ Long (3.000 – 1.500 năm TCN), thời đại Đồ đồng với Văn hóa Gò Mun (1.000 – 600 năm TCN), thời đại Đồ sắt với Văn hóa Sa Huỳnh (1.000 – 200 năm TCN), Văn hóa Đông Sơn (800 – 200 năm TCN) và Văn hóa Ốc Eo (630 – 1 năm TCN). Qua các thời đại đó, có thể thấy nghề thủ công đã xuất hiện từ khi người Việt biết đẽo, gọt, mài, dũa các miếng đá thành dụng cụ trong đời sống, rồi tiến dần lên làm ra những công cụ bằng sắt, đồng dùng trong sinh hoạt, những vũ khí chống ngoại xâm. Con người cũng tiến lên làm đẹp cho mình bằng những sản phẩm đeo vào tay, vào cổ, v.v… ngay từ thời văn hóa Phùng Nguyên (cách đây gần 4.000 đến 3.500 năm). Đến thời Gò Mun (thời đại Đồng Thau), nhiều công cụ sinh hoạt được đúc bằng thau phát triển. Thời kỳ Đồ sắt mà tiêu biểu là Văn hóa Đông Sơn đã khẳng định sự phát triển của nghề đúc đồng, nổi bật là các trống đồng Đông Sơn, với quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật, đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật đời sống của con người thời kỳ dựng nước. Đến thời kỳ Lý, Trần (thế kỷ X – XV), nghề thủ công phát triển rực rỡ, cực thịnh với sự phát triển của nghề gốm, từ những vật liệu xây dựng, công cụ lao động, dụng cụ để chứa đựng, đun nấu, ăn uống tiến đến những sản phẩm trang trí, những tác phẩm có giá trị mỹ thuật ngày càng cao, nghề gốm đã thành một nghệ thuật tạo hình riêng biệt, phong phú với nhiều loại men gốm đẹp, quý hiếm, để lại cho đời sau những kiểu dáng sáng tạo, sắc men và hoa văn độc đáo.


Nhìn lại quá khứ, chính nghề thủ công, bằng kỹ năng biến các loại nguyên liệu (đá, đồng, sắt, xương, gỗ...) thành công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng, vật liệu cho xây dựng... đã tạo ra sự phát triển của nhân loại. Điều đó giải thích vì sao các thời kỳ lịch sử của nhân loại đã được đặt tên theo các nguyên liệu được sử dụng trong sản xuất, ví dụ như những thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt... Kho tàng về nghề thủ công đó đã lưu truyền cho đến ngày nay; Càng sử dụng, kho tàng đó càng lớn thêm. Ở Châu Âu, người ta gọi sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là gốm sứ là trí nhớ hoặc là ký ức của tương lai, có nghĩa là sản phẩm thủ công mỹ nghệ phản ánh xã hội đương thời và lưu lại cho đời sau. Vì vậy sản phẩm gốm sứ đã, đang và sẽ hấp thụ hơi thở và nói tiếng nói của cuộc sống theo dòng lịch sử, không chỉ hấp dẫn cao về mặt nghệ thuật, làm mê hoặc người dân trong nước và cả bạn bè trên thế giới.

Qua phần trình bày trên đây, có thể khái quát một số điểm về giá trị sáng tạo của nghề thủ công nước ta như sau:

Một là, nghề thủ công là vốn quý, một di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc. Qua hàng nghìn năm, nhiều nghề thủ công truyền thống không những được duy trì mà còn phát triển cho đến nay, với các nghề tiêu biểu như: Sơn mài, gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá… tạo nên nền văn hóa nghề với những bản sắc riêng biệt, đặc trưng góp phần quan trọng trong nền văn hóa phong phú, đa dạng của dân tộc. Những sản phẩm này không chỉ thuần túy chứa đựng giá trị sử dụng mà còn là sản phẩm văn hóa mang giá trị văn hóa và nghệ thuật, phương tiện chuyển tải văn hoá dân tộc Việt Nam ra thế giới (hàng thủ công mỹ nghệ nước ta đã bán được tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ).

Hai là, nghề thủ công nước ta có sức sáng tạo rất mạnh mẽ. Sức sáng tạo này bắt nguồn từ khối óc, trái tim mang sẵn vốn tinh hoa của dân tộc với đôi bàn tay khéo léo của nghệ nhân, thợ thủ công. Nếu như sức sáng tạo của con người là vô tận, thì nghề thủ công cũng mang trong mình bản chất sáng tạo không giới hạn, đặc biệt là ngày nay với lớp nghệ nhân trẻ tuổi được đào tạo bài bản. Đã và đang xuất hiện nhiều sản phẩm mới sản xuất bằng những nguyên liệu địa phương lâu nay chưa nghĩ đến. Đó là những sản phẩm ngày càng tiếp cận với công nghệ mới có giá trị cao về kỹ thuật và mỹ thuật, với ý chí tiếp nối truyền thống của cha, ông, đam mê với nghề mà người thợ thủ công nước ta không ngừng sáng tạo nên.

Ba là, nghề thủ công gắn bó với truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế - xã hội mỗi địa phương, do đó công nghệ, kỹ thuật chế tác thường mang đặc trưng của các vùng, miền, thậm chí của từng nghệ nhân. Có thể thấy gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội) khác gốm Thổ Hà (Bắc Ninh) và gốm của nhiều địa phương khác. Đặc biệt là nghề gốm người Chăm (Bàu Trúc - Ninh Thuận), với kỹ thuật không dùng bàn xoay và không dùng lò đốt, mà nung lộ thiên bằng rơm, rạ, củi. Hoặc như nghề tạc tượng bằng gỗ, bằng đá, mỗi sản phẩm hầu như độc bản, mang dấu ấn sáng tạo của mỗi nghệ nhân, không tượng nào giống tượng nào.

MỞ RỘNG KHÔNG GIAN SÁNG TẠO CHO NGHỀ THỦ CÔNG

Không gian sáng tạo cho nghề thủ công là môi trường hỗ trợ quá trình sáng tạo, nơi người thợ thủ công được tạo điều kiện đầy đủ về tinh thần và vật chất, nơi họ cảm thấy thoải mái, được thúc đẩy, truyền cảm hứng, nảy nở ý tưởng mới và làm việc theo phong cách họ ưa thích. Mỗi làng nghề, mỗi hộ kinh doanh là một không gian khơi nguồn sáng tạo, do đó cần sự đầu tư trang thiết bị và nguồn lực cần thiết bao gồm cả giáo dục, đào tạo, là những điều kiện cần thiết để phát huy và nâng cao năng lực sáng tạo của nghệ nhân, thợ thủ công. Đại dịch Covid-19 gây cho chúng ta nhiều khó khăn, song cũng thúc đẩy làng nghề phát huy sáng tạo, để vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển lên một tầm cao mới. Dưới đây, xin nêu lên một số gợi ý để làng nghề cùng tham khảo.

Một là, phát huy bản chất sáng tạo của nghề thủ công. Nghề thủ công là một nghề sáng tạo, sáng tạo không ngừng. Trong thời đại mới, rất cần tư duy mới với những đột phá mới, sáng tạo mới; mỗi nghệ nhân cần có ý chí vượt lên chính mình bằng trí tuệ, tài năng sáng tạo của mình. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lực, trong Tiểu luận “Giá trị của nghề thủ công và làng nghề”, nghề thủ công đã được nhiều học giả trên thế giới xếp vào “Nền Kinh tế da cam” - nền kinh tế sáng tạo từ năm 2011. Thuật ngữ này được đặt ra bởi nhà văn người Anh John Howkins, được Liên hợp quốc chấp thuận, đề cập mọi thứ được phát triển thông qua sự sáng tạo và cảm hứng của mọi người để trở thành các sản phẩm hoặc dịch vụ. Màu da cam được dùng vì đây là màu gắn liền với tuổi trẻ và hạnh phúc. Với chúng ta, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ ngày càng đẹp hơn, tinh xảo hơn, với giá trị thẩm mỹ ngày càng cao, không chỉ phục vụ nhu cầu của cuộc sống hằng ngày, mà còn là những sản phẩm trang trí, thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của khách hàng, kể cả khách hàng nước ngoài, góp phần quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.

Hai là, bảo vệ môi trường. Nghề thủ công phát triển dựa trên nguồn nguyên vật liệu sắn có tại địa phương, đó là đất, gỗ, mây tre, v.v…nguồn nguyên liệu dồi dào và thuận tiện cho trí sáng tạo và bàn tay khéo léo của nghệ nhân làm ra những sản phẩm mới về ý tưởng và kỹ thuật, từ những sản phẩm tạo hình đơn giản, thô sơ tiến đến những sản phẩm mỹ thuật cao cấp. Trong xu hướng tiêu dùng ngày nay, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng nghề ngày càng cần được quan tâm hơn về các vấn đề liên quan đến môi trường và xã hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến nguồn gốc và tính hợp pháp của nguyên liệu sử dụng, đến an toàn và sức khỏe, sản xuất sạch thân thiện với môi trường…Vì vậy, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề cần đăng ký thương hiệu, ghi nhãn nguồn gốc xuất sứ QRcode, v.v… chứng minh những vấn đề nói trên, tạo thuận lợi trong thương mại điện tử.

Ba là, phát hiện và tôn vinh. Trong thực tế, qua các phương tiện thông tin đại chúng, hằng ngày, chúng ta có những thông tin rất quý giá rất đáng hoan nghênh. Đó là những bức tranh tạo nên bằng cát, bằng lá bàng, bằng vải vụn, giấy màu, lá tre, v.v… có giá trị mỹ thuật cao. Đó cũng là những đồ gỗ nội thất với những kiểu dáng phong phú phù hợp với nhu cầu khi làm việc tại nhà thời Covid-19 đang được khách hàng châu Âu ưa chuộng. Khó có thể kể hết những sáng tạo nảy nở trong thực tiễn, nhất là từ những nghệ nhân trẻ tuổi đang độ xung sức. Vấn đề đặt ra cho các cơ quan chức năng nhà nước, các tổ chức xã hội là kịp thời phát hiện, trân trọng từng sáng kiến, thống kê, lưu giữ, tổ chức phát huy bằng nhiều hình thức. Các cuộc tôn vinh sản phẩm tinh hoa thủ công mỹ nghệ cần được tổ chức đúng mục tiêu khuyến khích sáng tạo, tránh tệ nạn mua – bán danh hiệu. Cần khuyến khich thành lập các bảo tàng, nhà truyền thống. Theo Báo Kinh tế đô thị ngày 12/5/2021, Hà Nội đang xây dựng kế hoạch phát triển Trung tâm Bảo tồn nghề gốm tại xã Bát Tràng, tiến tới xây dựng thành Trung tâm Bảo tồn, phát triển sản phẩm gốm quốc gia; có thể coi đây là một tín hiệu đáng mừng. Cũng rất nên phát triển các câu lạc bộ nghệ nhân nghề thủ công, coi dây là nơi nuôi dưỡng, ươm mầm và thúc đẩy sáng tạo của họ và do họ cùng xây dựng; đối với lớp nghệ nhân trẻ tuổi, đây là nơi họ rèn luyện, phát triển và khẳng định tài năng, tiếp nối mạch nguồn sáng tạo của thế hệ đi trước.

Bốn là, hội nhập quốc tế. Cần tạo điều kiện rộng rãi để nghệ nhân, thợ thủ công nước ta tiếp cận kịp thời những thành tựu của nghề thủ công thế giới, qua đó cùng giao lưu, tiếp thu cái mới và đóng góp vào kho tàng nghề thủ công đang được thế giới tôn vinh. Theo Báo Thanh niên ngày 9/6/2021, Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia đã tham gia dự án xây dựng nền tảng chia sẻ thông tin về di sản văn hóa phi vật thể khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Dự án này sẽ giúp kết nối và chia sẻ nhiều dữ liệu, nội dung về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trong đó có di sản thủ công nghiệp với các quốc gia thành viên ở khu vực, qua đó, quảng bá hình ảnh di sản nước ta ra thế giới, đồng thời là cơ hội tốt để số hóa hệ thống các thông tin, tư liệu di sản trong nước. Các cơ quan, tổ chức hữu quan cần hướng dẫn cụ thể các cơ sở để tranh thủ cơ hội, thực hiện có hiệu quả.

Tóm lại, lịch sử dân tộc ta đã chứng minh tiềm năng sáng tạo của nghề thủ công nước ta là vô cùng to lớn, xứng đáng là di sản văn hóa phi vật thể của đất nước; sức sáng tạo ấy đã không ngừng phát triển, ngày càng đạt những đỉnh cao mới; đó là di sản quý báu, niềm tự hào của làng nghề chúng ta. Ngày nay, Đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, thì nhiệm vụ phát huy tiềm năng sáng tạo của nghề thủ công lại càng cần các cơ quan, tổ chức xã hội liên quan như Hiệp hội Làng nghề Việt Nam quan tâm thực hiện, với sứ mệnh bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề, góp phần có ý nghĩa vào nền văn hóa dân tộc phong phú, đa dạng của nước ta.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

#Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính Phủ#

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Ứng dụng công nghệ số thúc đẩy kinh tế làng nghề Mê Linh

Ứng dụng công nghệ số thúc đẩy kinh tế làng nghề Mê Linh

LNV - Từ sản xuất, quảng bá đến kết nối tiêu thụ sản phẩm, công nghệ số đang từng bước được đưa vào hoạt động của các làng nghề tại xã Mê Linh (Hà Nội).
Đổi mới sáng tạo hướng đi nâng tầm quà tặng gốm Bát Tràng

Đổi mới sáng tạo hướng đi nâng tầm quà tặng gốm Bát Tràng

LNV - Hà Nội sở hữu nhiều tiềm năng phát triển ngành thủ công mỹ nghệ với hệ thống làng nghề phong phú, giàu bản sắc và giá trị văn hóa. Tuy nhiên, để nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường, các làng nghề vẫn cần tháo
Hà Nội triển khai hợp tác với Bắc Kinh giai đoạn 2026-2030

Hà Nội triển khai hợp tác với Bắc Kinh giai đoạn 2026-2030

LNV - UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 321/KH-UBND về triển khai thực hiện Bản ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, Thủ đô nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026
Khuyến công tạo lực đẩy cho sản xuất, mở rộng thị trường

Khuyến công tạo lực đẩy cho sản xuất, mở rộng thị trường

LNV - Từ hỗ trợ đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ đến quảng bá thương hiệu, xúc tiến thương mại, hoạt động khuyến công đang tạo thêm động lực để các cơ sở công nghiệp nông thôn nâng cao năng lực sản xuất, từng bước mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn v
Hải Phòng ưu tiên mở rộng diện tích hành, tỏi trong vụ đông

Hải Phòng ưu tiên mở rộng diện tích hành, tỏi trong vụ đông

LNV - Hải Phòng đặt mục tiêu gieo trồng 28.500 ha cây vụ đông năm 2026, đồng thời thúc đẩy liên kết sản xuất, bao tiêu nông sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao hiệu quả và giá trị cây trồng.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động