Hà Nội: 29°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 27°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 25°C Thừa Thiên Huế

Làng nghề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

LNV - Ngày 9/3/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị số 01-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trong bài này, xin nêu lên một số kiến nghị để các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề có thể tham khảo trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng (dưới đây, gọi tắt là Đại hội XIII) là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025; Xác định chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045; có giá trị định hướng và lãnh đạo, chỉ đạo toàn bộ các hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội. Các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề chúng ta cần nghiên cứu và vận dụng cụ thể, đề ra Chương trình, Kế hoạch hành động đưa Nghị quyết vào cuộc sống của làng nghề.

KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ BỀN VỮNG

Đại hội XIII đã quyết định “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; Phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (trích Báo cáo Chính trị tại Đại hội). Mục tiêu cụ thể: đến năm 2025: Là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.


Khát vọng phát triển đất nước do Đại hội XIII hiệu triệu cần được chuyển thành khát vọng phát triển làng nghề bền vững, thấm sâu vào mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề, vào từng người lao động, biến thành hành động và kết quả cụ thể, thiết thực đáp ứng hiệu triệu của Đảng.

Muốn vậy, làng nghề phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển: Một tầm nhìn mới về văn hóa làng nghề, về sự phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ trong giai đoạn mới của công cuộc phát triển đất nước. Phải nêu cao ý chí, khát vọng vươn lên, phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, để kinh tế làng nghề thịnh vượng hơn, đời sống của cư dân làng nghề khá hơn nhiều so với hiện nay. Điều đáng mừng là nhiều chủ cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề đang trong độ tuổi thanh niên, một số nghệ nhân học tập bài bản, tốt nghiệp các trường mỹ thuật công nghiệp nay chí thú về quê hương lập nghiệp. Họ đang có hoài bão làm ăn lớn, thay đổi bộ mặt làng nghề. Theo tinh thần ấy, mỗi cơ sở làng nghề cần xây dựng Chương trình, Kế hoạch, đặt mục tiêu phấn đấu cao trong những năm tới về năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như về tăng trưởng doanh thu hằng năm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người lao động.

CẦN NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO

Nếu như ý chí, khát vọng phát triển là đột phá trong tư duy về mục tiêu phấn đấu của làng nghề, thì trong thực hiện, rất cần có đổi mới, sáng tạo mạnh mẽ trong biện pháp. Đại hội XIII quyết định “Xây dựng khung khổ pháp luật, môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số; Hỗ trợ, khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh vực mới, mô hình kinh doanh mới” (trích Báo cáo Chính trị tại Đại hội).

Như mọi người đã biết, chất lượng và sức cạnh tranh đang là yếu tố sống còn của sản phẩm làng nghề trong điều kiện hiện nay. Những biện pháp cần thực hiện đã rõ, đó là: (i) xác định sản phẩm chủ lực đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường; (ii) quy hoạch vùng nguyên liệu (một số nghề đang thiếu nguyên liệu, phải mua từ xa, tốn chi phí vận chuyển); (iii) đấy mạnh thiết kế, đổi mới mẫu mã; (iv) cải tiến quy trình sản xuất, tiến tới sản xuất xanh, bảo vệ môi trường; (v) áp dụng kinh tế số, xây dựng thương hiệu, nhãn mã vạch xuất xứ; (vi) tăng cường tiếp thị, mở rộng thị trường, phát triển du lịch, v.v… Những biện pháp này, lâu nay vẫn thực hiện, song lần này phải được thực hiện mạnh mẽ hơn, sáng tạo hơn và đạt kết quả cao hơn, trên cơ sở ứng dụng công nghệ 4.0.


Một số biện pháp cần được chú trọng trong điều kiện hiện nay, nhất là khi đại dịch Covid-19 vẫn còn hoành hành trên khắp thế giới:

Một là, cải tiến mẫu mã. Lâu nay, mẫu mã hàng thủ công vẫn bị coi là cũ kỹ, chậm đổi mới, nay cần được quan tâm trước tiên. Có thể phân ra ba loại: (i) loại sản phẩm làm đúng theo hình dáng, màu sắc, kích cỡ cổ truyền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng thích chơi đồ cổ; (ii) loại sản phẩm theo mẫu mã cũ nhưng có cải tiến, hiện đại hơn về hình dáng, màu sắc, v.v…; (iii) loại sản phẩm có mẫu mã hoàn toàn mới, thực hiện theo sáng tạo của nghệ nhân; đáng mừng là ngày càng có thêm nhiều sản phẩm thuộc loại này, thể hiện tư duy sáng tạo phong phú của nghệ nhân, được khách hàng ưa chuộng. Các cơ sở làng nghề cần tìm hiểu nhu cầu của khách hàng đối với mặt hàng của cơ sở mình mà cải tiến mẫu mã phù hợp.

Hai là, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm làng nghề. Cơ sở sản xuất làng nghề cần quan tâm thực hiện những biện pháp liên quan, như: chỉ dẫn địa lý, thương hiệu, mã vạch xuất xứ (QR Code), v.v…Đó là những thông tin rất cần thiết để khách hàng nắm được xuất xứ của hàng hóa, như sản xuất tại cơ sở nào, bằng nguyên liệu gì, mẫu mã ra sao, giá cả thế nào, v.v… qua đó tăng độ tin cậy của khách hàng với sản phẩm, mở rộng thị trường, nhất là bán hàng qua internet đang trở nên phổ biến ngày nay.

Ba là, thực hiện các quan hệ liên kết, kết nối. Đó là liên kết giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh trong cùng ngành nghề; Giữa các cơ sở trong một làng hoặc một vùng địa lý; Liên kết giữa các cơ sở với các cơ quan thuộc các bộ, ngành (thuế, quản lý thị trường, quản lý môi trường, vận tải …) hoặc các tổ chức dịch vụ, tư vấn (các viện, trường), v.v… qua đó, tạo thêm nguồn lực cho các cơ sở làng nghề. Cần quan tâm liên kết theo chuỗi giá trị, tức là liên kết toàn diện, hoàn chỉnh, từ khâu cung ứng nguyên vật liệu đến thiết kế mãu mã, tổ chức sản xuất, đến tiếp thị, đưa hàng hóa ra thị trường…nhằm mục tiêu sản xuất hàng hóa có chất lượng và đem lại hiệu quả cao, đồng thời phân chia lợi ích hợp lý giữa các bên tham gia quá trình sản xuất kinh doanh.

HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN

Để bảo đảm cho làng nghề đổi mới sáng tạo, thực hiện khát vọng phát triển, Nhà nước cần tiếp tục chuyển đổi chức năng, tạo môi trường thuận lợi hơn nữa cho làng nghề trong thực hiện nhiệm vụ kép chống dịch Covid-19 và phát triển sản xuất kinh doanh.

Những năm qua, cùng với sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường, Nhà nước ta đã chuyển dần sang Nhà nước kiến tạo phát triển. Theo các nhà nghiên cứu, “Nhà nước kiến tạo phát triển” là một mô hình quản lý nhà nước được Giáo sư Mỹ Chalmers Ashby Jonhson (1931-2010) nêu lên đầu tiên, trong đó Nhà nước đề ra các chính sách mang tính định hướng và thúc đẩy sự phát triển với tốc độ cao; Tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; Tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô... tạo được sự phát triển nhanh của đất nước. Nhiều nước đã vận dụng thành công mô hình này, tùy theo đặc điểm của từng nước, song vẫn có một số đặc trưng chung. Đó là: (i) Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; (ii) Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước được tổ chức tinh gọn với đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, mẫn cán và trong sạch; (iii) Xử lý hợp lý quan hệ nhà nước – thị trường – doanh nghiệp; (iv) Thiết lập và phát triển nền hành chính công phục vụ quá trình phát triển.

Đại hội XIII đã quyết định “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước” (trích Báo cáo Chính trị tại Đại hội). Từ thực tiễn, xin kiến nghị một số điểm sau đây:

Trước hết, là tiếp tục hoàn chỉnh thể chế. Đó là hệ thống thể chế phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân, ý chí, khát vọng, sức sáng tạo; Giải phóng mọi lực lượng sản xuất; Tạo sự đồng thuận của toàn dân tộc. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cùng cạnh tranh bình đẳng. Nhà nước đảm bảo thực thi nguyên tắc thượng tôn pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; Toàn án xét xử theo luật, không chịu tác động của bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào. Thực hiện đầy đủ các quyền của công dân đã được quy định tại Điều 25 Hiếp pháp 2013 “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”.

Hai là, tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả. Nhà nước phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân; Công chức tinh thông nghiệp vụ, trong sạch, liêm chính, phòng ngừa và đẩy lùi tình trạng tham nhũng và các biểu hiện tha hóa quyền lực. Đẩy mạnh cải cách hành chính: Tiếp tục xóa bỏ những đối xử bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nhất là trong tiếp cận đất đai và tín dụng; Xóa bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết đang là rào cản ảnh hưởng đến sức vươn lên của các làng nghề.

Ba là, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa ba trụ cột của nền kinh tế: Nhà nước, thị trường, xã hội. Nhà nước thực hiện đúng chức năng kiến tạo phát triển; Thị trường vận hành theo đúng các quy luật của thị trường hiện đại; Các tổ chức xã hội thực hiện những dịch vụ mà Nhà nước không cần tham gia, đồng thời khỏa lấp những khiếm khuyết của thị trường. Cần tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động của các tổ chức xã hội, như Đại hội XIII đã quyết định “Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường” (trích Báo cáo Chính trị tại Đại hội).

Bốn là, tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện đồng bộ các chính sách tài khóa, tiền tệ, thương mại, đầu tư (như giãn, hoãn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, tiền thuê đất, các chính sách nới lỏng về tín dụng, cho vay với lãi suất thấp để trả lương cho người lao động, v.v…), giúp các cơ sở làng nghề tiếp cận các chính sách ấy cùng các chính sách hiện hành và khai thác các thuận lợi trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà nước ta đã ký kết với các đối tác, để phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh.

Hy vọng rằng các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề nước ta quán triệt sâu sắc và thực hiện sáng tạo Nghị quyết Đại hội XIII, với khát vọng phát triển mạnh mẽ hơn, bền vững hơn, sẽ đạt nhiều thành tựu mới, đóng góp xứng đáng vào công cuộc phát triển đất nước.


CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.

Tin khác

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

Chung tay hành động vì thương hiệu Việt – quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại

LNV - Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là biểu tượng của uy tín quốc gia. Bảo vệ thương hiệu Việt chính là bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, song song với những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển kinh tế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn đang diễn biến phức tạp, gây tổn hại nặng nề cho doanh nghiệp và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

Sáng tạo đổi mới tư duy phát triển sản phẩm thủ công truyền thống đưa sản phẩm “made in Việt Nam” ra thế giới

LNV - Việt Nam hiện có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, hầu hết đều có truyền thống từ lâu đời, có những nghề đã phát triển từ mấy nghìn năm trước như đúc đồng, gốm, dệt, đan mây tre..., có những nghề phát triển rực rỡ trong khoảng 6, 7 thế kỷ nay như điêu khắc, thêu, chạm bạc, khảm trai…, cũng có những nghề mới hình thành từ mấy chục năm như ren, dệt thảm, hoa lụa ....
Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

Cần một chiến lược tổng thể để ngành thủ công mỹ nghệ tỉnh Phú Thọ phát triển sau sáp nhập

LNV - Sau khi thực hiện việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và huyện theo Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ vào năm 2025, tỉnh Phú Thọ đã hình thành một hệ thống quản lý hành chính tinh gọn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch lại vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ (TCMN) theo hướng bền vững và chuyên sâu.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ

LNV - Chiều ngày 17/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đến dâng hoa, dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và thăm động viên lực lượng thực hiện nhiệm
Xúc động xem trưng bày "Thanh xuân gửi lại"

Xúc động xem trưng bày "Thanh xuân gửi lại"

Ngày 17/7/2026, tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (số 12 Đào Tấn, phường Giảng Võ, Hà Nội), Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (Bộ Nội vụ) đã chính thức khai mạc không gian trưng bày tài liệu và kỷ vật của cán bộ đi B, mang chủ đề “Thanh xuân gửi lại”. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026).
Hội thảo nâng cao hiệu quả quản lý kinh phí khuyến công Quốc gia

Hội thảo nâng cao hiệu quả quản lý kinh phí khuyến công Quốc gia

Hội thảo “Nâng cao hiệu quả xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia"
Nơi giữ lửa “Báu vật” 400 năm Bên bờ sông Đuống

Nơi giữ lửa “Báu vật” 400 năm Bên bờ sông Đuống

Làng tranh Đông Hồ nằm bình yên bên bờ nam sông Đuống, thuộc tổ dân phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Thách thức của làng nghề truyền thống trước làn sóng chuyển đổi số và nhân lực trẻ

Thách thức của làng nghề truyền thống trước làn sóng chuyển đổi số và nhân lực trẻ

Làng nghề Hà Nội đang đối mặt với khó khăn về nhân lực trẻ
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động