Bàn về xây dựng Luật Bảo tồn và phát triển Làng nghề

LNV - Thực tế đã khẳng định làng nghề nước ta có vị thế đặc biệt: là bảo tàng, kho báu lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì vậy, rất cần một đạo Luật đủ hiệu lực để bảo tồn và phát triển làng nghề; Đây cũng là một nguyện vọng tha thiết của cộng đồng làng nghề nước ta từ nhiều năm nay.
Làng nghề chúng ta hoan nghênh Viện Nghiên cứu Lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội từ tháng 9 năm 2019 đã triển khai Đề tài “Định hướng chính sách xây dựng Luật về Làng nghề - lý luận và thực tiễn” do TS Lưu Bình Nhưỡng, Phó Trưởng ban Dân nguyện Quốc hội, đại biểu Quốc hội Khóa XIV đề xuất và làm Chủ nhiệm. Đề tài được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu nhiệt tình tham gia, mặc có thời gian chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 song vẫn được tiếp tục thực hiện. Gần đây, trong bài viết “Phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” đăng Tạp chí Làng nghề Việt Nam số 49 ngày 3/12/2021, Luật sư Lê Việt Trường, nguyên đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII đã dành hẳn một phần để nhấn mạnh ý nghĩa và tác động của việc xây dựng Luật về Làng nghề. TS Tôn Gia Hóa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cũng đã có bài viết “Sự cần thiết xây dựng Luật Làng nghề ở Việt Nam” đăng trong Tạp chí Làng nghề Việt Nam số 50 (83)/ 2021 ra ngày 10/12/2021). Đây là những tín hiệu rất đáng mừng. Làng nghề chúng ta rất nên tham gia đóng góp, nhất là tham gia các cuộc tham vấn, các cuộc điều tra xã hội học, góp thêm thực tiễn để nâng cao chất lượng nghiên cứu, xây dựng một đạo Luật về làng nghề, để kỳ vọng của làng nghề chúng ta về Luật này sớm trở thành hiện thực.


Bài viết này xin nêu lên một số kiến nghị, chủ yếu là về tư duy, quan điểm, nguyên tắc trong việc xây dựng một đạo Luật về Làng nghề, xuất phát từ đường lối, quan điểm của Đảng, thực tiễn các làng nghề và thực trạng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA LUẬT VỀ LÀNG NGHỀ

Thực tiễn các nước trên thế giới đã chứng minh tầm quan trọng của thể chế: một đất nước phồn vinh hay nghèo nàn, không phải do điều kiện đia lý, dân số hoặc một nhân tố nào khác, mà chính là do thể chế quyết định. Vì vậy, Đảng ta, từ Đại hội XII (năm 2016) đến Đại hội XIII (năm 2021) đều coi hoàn thiện thể chế là một trong ba đột phá chiến lược phát triến đất nước trong thời gian tới (hoàn thiện đồng bộ thể chế; Phát triển nguồn nhân lực; Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng). Trong hệ thống thể chế, Luật là văn bản có vị trí quan trọng nhất vì Luật là một loại văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, có hiệu lực pháp lý cao nhất, chỉ dưới Hiến pháp.

Đối với làng nghề nước ta, thực tiễn đã khẳng định những giá trị to lớn về nhiều mặt, như: (i) Quan trọng nhất là những giá trị về văn hóa: làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của nghề thủ công được lưu truyền trong nhân dân từ hàng trăm, hàng nghìn năm nay, góp phần vào kho tàng văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của đất nước ta và giới thiệu văn hóa Việt Nam với thế giới; (ii) Về kinh tế: làng nghề là nơi giải quyết việc làm phi nông nghiệp cho hàng triệu lao động nông thôn; Tạo ra những sản phẩm thiết yếu cho đời sống nhân dân, đóng góp vào GDP; Có những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã được xuất khẩu tới nhiều nước trên thế giới; (iii) Về xã hội: Cư dân làng nghề sống lành mạnh, hầu như không có tệ nạn xã hội; Làng nghề phát triển góp phần làm phong phú bộ mặt nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Tuy nhiên, nhiều năm nay, các cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như các làng nghề vẫn hoạt động theo các quy định tại các quyết định, nghị định, như: Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách phát triển ngành, nghề nông thôn; Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 9/6/2004 về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn; Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về phát triển ngành, nghề nông thôn; Nghị định số 52/2018//NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành, nghề nông thôn, v.v... Cho đến nay, chưa có một đạo Luật về làng nghề, có thể coi đây là một thiệt thòi lớn cho làng nghề nước ta.


Trong tình hình hiện nay, nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong những năm tới, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, vừa phòng, chống dịch Covid-19, rất cần có những nhận thức mới trong bảo vệ và phát triển làng nghề. Đáng chú ý hơn nữa là tại Đại hội Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh cần “quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa của thời đại” (Báo Tuổi trẻ điện tử ngày 24/11/2021). Ý kiến của Tổng bí thư càng cổ vũ, động viên làng nghề chúng ta thêm tự hào về giá trị của văn hóa làng nghề, càng nhận thức sâu sắc thêm về sự cần thiết có một đạo Luật về làng nghề, để làng nghề đóng góp ngày càng xứng đáng hơn vào sự nghiệp phát triển đất nước ta.

XÂY DỰNG LUẬT TRÊN CƠ SỞ PHÁT HUY DÂN CHỦ

Trước hết Luật về làng nghề cần thể hiện yêu cầu bảo tồn và phát triển làng nghề. “Bảo tồn” tức là lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề, kể cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, không để chúng mai một qua thời gian. Đồng thời, lại phải “Phát triển” cũng có nghĩa là “Phát huy” những giá trị ấy trong điều kiện mới, tức là những giá trị truyền thống được nhận thức mới, sâu sắc hơn, qua đó có những cách vận dụng, các hình thức biểu hiện mới, để các giá trị truyền thống phát huy tác dụng thiết thực, có ý nghĩa trong đời sống xã hội ngày nay. Vì vậy, xin đề nghị tên luật là “Luật Bảo vệ và phát triển làng nghề” (dưới đây, xin gọi tắt là Luật).

Luật phải lấy “con người là trung tâm, đồng thời là chủ thể của phát triển”, là động lực của mọi đột phá, sáng tạo trong làng nghề; Vì vậy, luật phải tạo điều kiện để mọi người đều phát huy hết sức mình trong phát triển làng nghề. Hiện nay, trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề, thường có ba thành phần chủ yếu (i) người bỏ vốn lập cơ sở - nhà đầu tư, người quyết định phương hướng, kế hoạch sản xuất, kinh doanh của cơ sở; (ii) Nghệ nhân - người sáng tạo nên các mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm; và (iii) nhà khoa học kỹ thuật, người ứng dụng công nghệ mới, nhất là công nghiệp 4.0 vào sản xuất, kinh doanh của cơ sở. Điều quan trọng là Luật cần đề ra các chính sách nhằm tạo không gian, môi trường thuận lợi cho hoạt động sáng tạo của mọi người trong làng nghề, nhất là nghệ nhân, để họ kịp thời nắm bắt xu thế “kinh tế xanh”, “kinh tế số” của thế giới hiện đại, từng bước hình thành “làng nghề xanh”, “làng nghề số”.

Luật phải bao quát các loại hình sản xuất, kinh doanh làng nghề: Về hình thức tổ chức, có các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh; Về quy mô, chủ yếu là nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ; Về thành phần, đều thuộc kinh tế tư nhân (trong đó có hộ kinh doanh) và hợp tác. Vì vậy, nội dung Luật phải quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các loại hình sản xuất kinh doanh nói trên. Tôn trọng các nguyên tắc của thị trường: Các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh theo pháp luật; Làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước; Đề cao văn hóa kinh doanh, bảo đảm quyền và lợi ích của khách hàng; Quan tâm xây dựng nguồn nhân lực, quyền lợi của người lao động; v.v... Cần có những quy định đối với các “hộ kinh doanh” đang rất phổ biến trong các làng nghề, giúp họ liên kết theo chuỗi giá trị, nhất là tạo điều kiện về cơ chế, chính sách khuyến khích các hộ chuyển lên hình thức doanh nghiệp để có thêm thuận lợi trong kinh doanh.

Một nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng Luật là tổ chức lấy ý kiến tham gia của các cơ sở sản xuất kinh doanh, của các làng nghề. Việc lấy ý kiến cần được tổ chức một cách dân chủ: Mọi người đều có quyền phát biểu ý kiến của mình, mọi ý kiến đều cần được trao đổi, thảo luận, tranh luận về những điểm chưa nhất trí và bộ phận soạn thảo cần tiếp thu một cách nghiêm túc. Việc lấy ý kiến có thể thực hiện với nhiều hình thức như: Tổ chức các cuộc họp trực tiếp hoặc trực tuyến; Dùng phiếu khảo sát (điều tra xã hội học) theo một số nghề tiêu biểu hoặc theo vùng.

Luật cần quy định rõ chức năng quản lý của Nhà nước, chủ yếu là hình thành khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động của làng nghề, không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của cơ sở. Nhà nước có chính sách trợ giúp đỡ những ngành nghề, cơ sở bằng những hình thức phù hợp (ví dụ qua các dự án, mua sắm của Chính phủ, chuyển giao dịch vụ công, v.v…), không bao cấp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ công chức trong sạch, vững mạnh, bộ máy tinh gọn, tạo thuận lợi cho hoạt động của cơ sở và làng nghề.

Một vấn đề khác được rút ra từ thực tiễn: Tốt nhất là Luật nên cụ thể, dễ hiểu; Càng dễ hiểu, dễ áp dụng thì càng tốt; Khi trình dự Luật ra Quốc hội, phải có nghị định hướng dẫn Luật đi kèm và nghị định là văn bản duy nhất hướng dẫn luật, không cần có thông tư nữa. Làm được như vậy, sẽ khắc phục tình trạng Luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư, có nơi thông tư còn phải chờ hướng dẫn của Sở (ở tỉnh, thành phố) nữa, thời gian chờ đợi có khi đến cả năm; hoặc tình trạng văn bản hướng dẫn có những quy định sai trái, làm méo mó tư tưởng đúng đắn của Luật.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI

Theo các nhà nghiên cứu, một đất nước hiện đại phải bảo đảm sự phát triển hài hòa của ba thành tố: Nhà nước, thị trường, xã hội dân sự (ta thường gọi là “tổ chức xã hội”). Các tổ chức xã hội (bao gồm các hội, câu lạc bộ, nhóm thiện nguyện, các quỹ ...) có tác dụng thực hiện những hoạt động mà Nhà nước không làm và khỏa lấp những khiếm khuyết của thị trường, như bảo vệ môi trường; xóa đói giảm nghèo; nâng cao dân trí; hoạt động từ thiện, nhân đạo; ... Đối với các tổ chức xã hội, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; Đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác; Cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên; Phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật “ (trích Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng).

Trong bài này, xin nêu một số việc cụ thể mà Hiệp hội Làng nghề Việt Nam và các tổ chức xã hội-nghề nghiệp khác có liên quan cần thực hiện: (ii) Thông tin cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh nắm bắt kịp thời những nội dung của Luật về làng nghề đang được soạn thảo; (ii) Chuẩn bị ý kiến và tham gia các cuộc tư vấn, phản biện và thẩm định văn bản dự thảo Luật; (iii) Tham gia giám sát việc thực hiện Luật và kịp thời đề xuất những sửa đổi cần thiết. Để các ý kiến đóng góp có chất lượng, các tổ chức xã hội cần có bộ máy, nhân sự đủ tâm huyết và kiến thức, đồng thời thu hút rộng rãi ý kiến của chuyên gia, nhà nghiên cứu.

Tóm lại, Luật Bảo tồn và phát triển làng nghề đang được nghiên cứu xây dựng cần thể hiện những quan điểm chủ yếu như sau: (i) Bảo tồn những giá trị văn hóa làng nghề, đồng thời có những biện pháp để phát huy các giá trị văn hóa ấy trong thời kỳ phát triển mới của đất nước; (ii) Lấy con người là trung tâm, chủ thể của mọi hoạt động trong làng nghề; tạo không gian sáng tạo cho người lao động, trước hết là các nghệ nhân; (iii) Nhà nước ban hành Luật và các quy định cần thiết để thi hành Luật, đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức xã hội để Luật đi vào cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp bảo tồn và phát triển làng nghề.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Thanh Hóa: Hỗ trợ gần 80 tỷ đồng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2026

Thanh Hóa: Hỗ trợ gần 80 tỷ đồng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2026

LNV – Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Tô Anh Dũng vừa ký Quyết định số 3001/QĐ-UBND về phê duyệt bổ sung kinh phí hỗ trợ từ nguồn ngân sách Trung ương để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2026.
Hội chợ Triển lãm Quốc tế mạng lưới Công nghệ xanh - Phát triển bền vững năm 2026

Hội chợ Triển lãm Quốc tế mạng lưới Công nghệ xanh - Phát triển bền vững năm 2026

Ngày 16/9/2026, tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (xã Đông Anh, TP. Hà Nội), Sở Công Thương Hà Nội đã khai mạc Hội chợ Triển lãm Quốc tế Mạng lưới Công nghệ xanh – Phát triển bền vững năm 2026 (GREENTECH HANOI 2026). Sự kiện hướng tới trở thành diễn đàn quốc tế kết nối các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước; tạo không gian chia sẻ các giải pháp, công nghệ mới, thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Phát triển Thủ đô xứng đáng với vị thế đặc biệt và sự tin tưởng của Trung ương

Phát triển Thủ đô xứng đáng với vị thế đặc biệt và sự tin tưởng của Trung ương

LNV - Với sự đồng lòng, chúng ta sẽ tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và các chương trình, kế hoạch hành động của thành phố, tạo những chuyển biến thực chất, phát triển Thủ đô xứng đáng với vị thế đặc biệt và sự tin tưởng,
Bàn giao chức năng quản lý địa chất, khoáng sản, khu công nghiệp về Bộ Công Thương

Bàn giao chức năng quản lý địa chất, khoáng sản, khu công nghiệp về Bộ Công Thương

LNV - Chiều 14/9 tại Hà Nội đã diễn ra Lễ tiếp nhận, bàn giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản và khu công nghiệp.
Trẻ em thuộc đối tượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi được miễn, giảm, hỗ trợ học phí

Trẻ em thuộc đối tượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi được miễn, giảm, hỗ trợ học phí

LNV - Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 353/2026/NĐ-CP quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động