Tháo gỡ những rào cản pháp lý về năng lực tài chính để ngành thủ công mỹ nghệ phát triển và hội nhập quốc tế

Tạp chí Làng nghề Việt Nam! Cơ quan Trung Ương Hiệp Hội Làng Nghề Việt Nam, Tiếng Nói Của Các Làng Nghề, Nghệ Nhân Cả Nước
Sau 30 năm đổi mới, vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế đất nước từng bước được định hình và khẳng định trong các văn kiện của Đảng. Về mặt Nhà nước, những quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân từng bước được thể chế hóa trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử. Theo đó, những cơ sở thủ công mỹ nghệ hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty TNHH) về cơ bản có nhiều thuận lợi, nhất là về cơ hội và điều kiện tiếp cận các nguồn vốn. Các cơ sở thủ công mỹ nghệ hoạt động dưới hình thức hộ gia đình cũng được bảo đảm về mặt pháp lý trên cơ sở các nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành như: Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghị định số 61/2010/NĐ-CP chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 61/2015/NĐ-CP quy định về chính sách tạo việc làm và quỹ quốc gia tạo việc làm; Các thông tư hướng dẫn một số điểm cụ thể của các nghị định này. Có thể khẳng định rằng, hành lang pháp lý nói chung, về góc độ tiếp cận các nguồn vốn nói riêng của ngành TCMN đã được cải thiện đáng kể, cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn vốn tốt hơn cho ngành TCMN tiếp tục phát triển. Theo thông tin từ Bộ NN& PTNT, ngành TCMN đã thu hút khoảng 11 triệu lao động và hằng năm đóng góp vào ngân sách nhà nước khoảng 1,7 tỷ đô la.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta tiếp tục mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, trở thành thành viên của nhiều hiệp định thương mại thế hệ mới, theo đó đi đôi với cơ hội mở ra cũng đã và đang xuất hiện nhiều thách thức không nhỏ đối với tương lai phát triển của ngành TCMN trên con đường hội nhập. Điểm hạn chế chung của ngành TCMN nước ta là quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, chủ yếu dựa trên nền tảng hộ gia đình là chủ yếu. Khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ phía Nhà nước, các tổ chức tín dụng, thị trường vốn, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước rất hạn chế. Do quá trình hình thành và phát triển gắn bó với khu vực nông thôn, ngành TCMN chịu nhiều ảnh hưởng của tư duy sản xuất tiểu nông nhỏ lẻ, dựa trên kinh nghiệm của những cá nhân (nghệ nhân, thợ cả) nên việc tiếp thu những vấn đề mới, vấn đề có tính đột phá về đầu tư, về thay đổi quy trình sản xuất, mẫu mã sản phẩm.v.v thường gặp nhiều khó khăn hơn so với các lĩnh vực khác.


Luật sư Lê Việt Trường.


Năng lực tài chính của ngành TCMN

Năng lực tài chính của ngành TCMN gồm năng lực huy động các nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, năng lực sử dụng hiệu quả các nguồn vốn huy động được, năng lực chống đỡ rủi ro, năng lực quản lý tài chính nội bộ. Do quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ trong phạm vi hộ gia đình, vì vậy năng lực tài chính của ngành TCMN chủ yếu bao gồm vốn của chủ cơ sở sản xuất, một phần vay của các tổ chức tín dụng và vốn vay thông qua các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước. Theo nhiều báo cáo chính thức của cơ quan quản lý chuyên ngành về TCMN và phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng, hầu hết các cơ sở sản xuất TCMN trong cả nước đều gặp khó khăn về vốn. Đây là rào cản lớn nhất đối với ngành TCMN trên con đường tiếp tục đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế.
Cần tháo gỡ những rào cản pháp lý

Với mục đích hỗ trợ, nâng cao năng lực tài chính cho ngành TCMN phát triển và hội nhập, Nghị định 52/2018/NĐ-CP đã quy định về đầu tư, tín dụng (Điều 8) đối với ngành nghề nông thôn, trong đó có ngành TCMN: “(1) Hưởng ưu đãi đầu tư theo Luật đầu tư công. (2) Được áp dụng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. (3) Được ưu tiên vay vốn từ các tổ chức tín dụng, Quỹ quốc gia về việc làm, Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia theo quy định của pháp luật”.

Về lý thuyết, ngành TCMN được hưởng khá nhiều chính sách về huy động vốn cho sản xuất kinh doanh như quy định trên của pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế, các cơ sở sản xuất TCMN luôn gặp khó khăn về vốn, vì để thụ hưởng các nguồn vốn quy định tại Điều 8 Nghị định 52 về đầu tư, tín dụng đòi hỏi đối tượng thụ hưởng phải bảo đảm những tiêu chí và quy trình thủ tục cụ thể khá phức tạp, nhiều trường hợp đã trở thành rào cản đối với hộ gia đình khi tiếp cận các nguồn đầu tư, tín dụng mà pháp luật quy định. Tình hình đó do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là, chưa có sự thống nhất về định danh ngành thủ công mỹ nghệ trong hệ thống pháp luật. Thực tế, ngành TCMN vẫn được hiểu nằm trong khái niệm ngành nghề nông thôn và đã được thể chế hóa về mặt nhà nước tại Nghị định 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Hơn nữa, về pháp lý Hộ gia đình làm nghề TCMN là chủ thể chỉ có tư cách pháp nhân hạn chế trong một số quan hệ dân sự nhất định (quan hệ về đất đai, bảo vệ môi trường và phòng cháy chữa cháy). Mặt khác, quy định của BLDS về trách nhiệm của người đại diện hộ gia đình trong giao dịch dân sự (khoản 2 Điều 138) lại chưa có quy định cụ thể việc xác lập chủ hộ mang tính pháp lý nên việc thỏa thuận cử người đại diện hộ gia đình tham gia giao dịch dân sự theo ủy quyền rất linh hoạt. Vấn đề sổ đỏ của hộ gia đình cũng rất phức tạp khi một số thành viên trong hộ trưởng thành đã tách hộ nhưng vẫn để chung sổ đỏ. Tới đây, nếu dự thảo Luật cư trú sửa đổi được Quốc hội thông qua (cuối năm 2020) khả năng lớn sẽ bỏ sổ hộ khẩu giấy, việc xác định chủ hộ sẽ linh hoạt hơn, tùy mỗi hộ lựa chọn một trong số thành viên từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi dân sự, khi đó vấn đề đại diện hộ gia đình trong các giao dịch dân sự còn phức tạp hơn, nhất là khi giao dịch phát sinh quyền và nghĩa vụ tài sản.

Thứ hai, quy định của pháp luật có nhưng thiếu cụ thể, thiếu khả thi, một số quy định thiếu thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật nên ngành thủ công mỹ nghệ chỉ có thể thụ hưởng các chính sách trên giấy. Quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 52 về đầu tư, tín dụng ngành nghề nông thôn được “Hưởng ưu đãi đầu tư theo Luật đầu tư công” hoàn toàn thiếu tính khả thi, vì với quy mô sản xuất hộ gia đình là chủ yếu, ngành TCMN không thể có được các dự án nhóm A, nhóm B hoặc nhóm C như Luật đầu tư quy định. Tương tự như vậy, khoản 3 Điều 8 của Nghị định về tiếp cận nguồn vốn từ các Quỹ quốc gia tính khả thi cũng thấp, vì hộ gia đình sản xuất thủ công mỹ nghệ khó có thể bảo đảm đủ các tiêu chí và năng lực thực hiện theo quy trình thủ tục để được vay vốn từ các quỹ Quốc gia mà Nghị định đã viện dẫn.

Thứ ba, một số quy định của pháp luật rất đúng nhưng chưa phù hợp với thực tế vô hình chung trở thành rào cản đối với ngành TCMN. Quy định về bảo vệ môi trường làng nghề gắn với việc công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống là một ví dụ. Sản xuất phải bảo vệ môi trường, muốn bảo vệ môi trường phải xử lý chất thải đúng quy định.v.v. Quy định này rất đúng và cần thiết cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, vốn liếng của hộ gia đình làm TCMN có hạn, xử lý chất thải thì tốn kém; Di chuyển đến khu sản xuất tập trung nơi thì thiếu quỹ đất, nơi có đất nhưng giá thuê cao hoặc quá xa bất tiện cho người dân.v.v. dẫn đến các hộ sản xuất TCMN tiến thoái lưỡng nan, làm đúng pháp luật thì họ chỉ có thể đóng cửa hoặc phá sản.

Tháo gỡ rào cản

Nhà nước cần hoàn thiện thể chế đảm bảo thống nhất định danh và địa vị pháp lý cho ngành TCMN. Đây là loại ngành nghề có sự phát triển lâu đời. Trong tương lai ngành TCMN dù phát triển đến đâu thì vẫn phải mang đầy đủ tính đặc thù vốn có của nó là sản phẩm được tạo tác chủ yếu bởi bàn tay và óc thẩm mỹ của người thợ, các nghệ nhân có sự hỗ trợ của công cụ, máy móc một số công đoạn. Nếu ứng dụng khoa học, công nghệ để sản xuất hàng loạt, không còn yếu tố bàn tay, óc thẩm mỹ sáng tạo của người thợ, nghệ nhân thì không còn là sản phẩm TCMN.

Xác định địa vị pháp lý và tư cách pháp nhân của hộ gia đình sản xuất TCMN tạo thuận lợi để hộ gia đình tham gia các quan hệ dân sự được thuận lợi, có điều kiện nâng cao năng lực tài chính của mình. Tại kỳ họp thứ IX vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp sửa đổi và đã tiếp thu ý kiến của đông đảo người dân không đưa hộ gia đình kinh doanh vào phạm vi điều chỉnh của Luật. Hộ gia đình kinh doanh nói chung, hộ gia đình sản xuất kinh doanh TCMN nói riêng cần có một văn bản quy phạm pháp luật riêng, điều chỉnh là rất thỏa đáng, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, không thể nóng vội, áp dụng dập khuôn máy móc kinh nghiệm của các nước khác. Bảo đảm địa vị pháp lý và tư cách pháp nhân cho hàng triệu hộ sản xuất kinh doanh sẽ đem lại lợi ích to lớn cho đất nước về thu ngân sách, việc làm và sự ổn định xã hội.

Cải cách đơn giản hóa quy trình, thủ tục tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, các quỹ hỗ trợ quốc gia, các chính sách ưu đãi đầu tư của Nhà nước để hộ gia đình sản xuất kinh doanh TCMN có thể trở thành bạn hàng thân thiết của các tổ chức tín dụng, gắn kết giúp nhau cùng phát triển. Ở chiều ngược lại, các tổ chức tín dụng, ngân hàng cần chủ động hỗ trợ hộ gia đình trong việc xây dựng hồ sơ vay vốn.
Cụ thể hóa vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị-xã hội trong việc bảo lãnh cho hộ gia đình sản xuất kinh doanh TCMN vay tín chấp. Với quy mô sản xuất kinh doanh hộ gia đình, việc vay vốn bằng đảm bảo tài sản rất khó khăn, do đó cứu cánh đối với hộ gia đình sản xuất kinh doanh TCMN là phương thức vay tín chấp. Điều này đòi hỏi sự chủ động từ 2 phía: hộ gia đình và đại diện các tổ chức chính trị-xã hội, xã hội nghề nghiệp. Tuy nhiên đề bảo đảm sự gắn kết giữa các chủ thể này rất cần vai trò của chính quyền địa phương các cấp trong việc bảo đảm và thúc đẩy bằng những chủ trương, cơ chế, chính sách cụ thể trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Luật sư Lê Việt Trường- Nguyên Phó chủ nhiệm
Ủy ban Quốc phòng - An ninh Quốc Hội

Tin liên quan

Tin mới hơn

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.

Tin khác

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội

LNV - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức. Làm thế nào để những giá trị truyền thống này không bị mai một mà còn vươn xa hơn nữa, định vị được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước?
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Dấu ấn mới trong quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandino

Dấu ấn mới trong quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandino

Từ ngày 10 đến 11/8/2026, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Lê Hồng Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương làm Trưởng đoàn, đã có chương trình làm việc tại Nicaragua với các cơ quan của Đảng, Nhà nước và Quốc hội Nicaragua.
Trưng bày chuyên đề “Tâm son, chí thép” tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò

Trưng bày chuyên đề “Tâm son, chí thép” tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò

LNV - Ngày 12/8/2026, tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), dưới sự chỉ đạo của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò đã tổ chức lễ khai mạc trưng bày chuyên đề “Tâm son, chí thép”. Đ
Hội thảo khoa học "Nhận diện giá trị nổi bật toàn cầu của Khu di tích Cổ Loa"

Hội thảo khoa học "Nhận diện giá trị nổi bật toàn cầu của Khu di tích Cổ Loa"

LNV - Ngày 12/8/2026, tại khu Di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long (19C Hoàng Diệu, Hà Nội), UBND Thành phố Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà
Quảng Trị chia sẻ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển sinh kế

Quảng Trị chia sẻ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển sinh kế

LNV - Qua hơn 15 năm triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM), tỉnh Quảng Trị đã hình thành nhiều mô hình phát triển sinh kế phù hợp, góp phần nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và từng bước thay đổi diện mạo nông thôn, nhất là tại khu vực
Phát động Giải Báo chí toàn quốc ‘Vì sự nghiệp Phát triển Văn hóa Việt Nam lần thứ IV – 2026’

Phát động Giải Báo chí toàn quốc ‘Vì sự nghiệp Phát triển Văn hóa Việt Nam lần thứ IV – 2026’

LNV - Sáng nay (12/8), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức Lễ phát động Giải Báo chí toàn quốc “Vì sự nghiệp phát triển văn hoá Việt Nam” lần thứ IV, năm 2026, nhằm ghi nhận, tôn vinh những đóng góp xuất sắc của các tập thể, cá nhân đội ngũ những người làm báo đối với sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam.
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động