Những gia đình cuối cùng ở Khe Nhè giữ nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan

LNV - Nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan ở bản Khe Nghè(xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) đã có ngay từ những ngày đầu tiên khi họ tới vùng đất vải sinh sống. Dù nắm giữ trong tay những bí quyết riêng tạo nên thương hiệu giấy dó Cao Lan từng một thời được ưu chuộng nhưng giờ đây ở Khe Nhè chỉ còn một vài hộ gia đình còn gìn giữ nghề truyền thống của cha ông bằng lòng đam mê.


Công đoạn tráng bột giấy ra khuôn để làm giấy dó của người Cao Lan. (Ảnh: Báo Bắc Giang).

Sự khác biệt của dó Cao Lan

Nghề giấy dó của người Việt được một số thư tịch cổ nước ngoài nói rằng có từ thế kỷ 3 sau công nguyên. Khi đó, người Giao Chỉ đã biết dùng gỗ mật hương để chế tác thành một loại giấy bản tốt, có tên gọi là giấy mật hương.

Khi nhà nước Đại Việt ra đời và quyết định lựa chọn Thăng Long làm kinh đô thì nghề làm giấy càng phát triển. Bởi thời điểm này nhu cầu của xã hội bắt nguồn từ việc học tập, giao dịch, thi cử phát triển đã giúp nghề làm giấy dó phát triển mạnh mẽ. Ở nhiều địa phương như: làng Đống Cao (Kinh Bắc); làng An Thái, Yên Hòa (Thăng Long); làng An Phúc ở (Hà Tây) và một số đồng bào dân tộc thiểu số cũng có nghề làm giấy dó như dân tộc Mông; Cao Lan; Dao;…

Họa sĩ Đào Ngọc Hân, Ủy viên Ban chấp hành Hội Khảo cổ học Việt Nam, Phó Giám đốc Trung tâm Khảo cổ học ứng dụng từng khẳng định: “Nghề làm giấy dó không chỉ là “đặc sản” của người Kinh sinh sống ở miền Bắc Việt Nam mà một số dân tộc thiểu số nước ta cũng có nghề làm giấy dó từ các nguyên liệu giàu bột giấy như các loại cây dó, cây dướng, thân tre non và cuống rơm”.

Trong số đó, kỹ thuật, chất lượng giấy dó của người Cao Lan sống ở bản Khe Nghè, sườn Tây Yên Tử được nhiều nơi biết tới bởi có nhiều khác biệt với cách làm của những nơi khác.

Bản Khe Nghè có hơn 70 hộ, chủ yếu là người Cao Lan. Đồng bào nơi đây có nhiều nét văn hóa đặc trưng mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó có nghề dệt thổ cẩm và làm giấy dó. Theo lời kể của nhiều bậc cao niên trong làng, từ ngày người Cao Lan tới vùng đất này sinh sống, nghề làm giấy dó đã rất thịnh hành, phần lớn các gia đình ở đây đều làm giấy.


Anh Dương Văn Quang giới thiệu công đoạn cuối cùng để làm giấy dó.

Ở vùng cao, trong đời sống tâm linh, giấy dó được sử dụng trong nhiều nghi lễ truyền thống. Ví dụ như trong đám ma, họ đục hoa văn trên giấy để làm lễ cúng, giống như một loại tranh thờ. Về sau đóng thành quyển để làm sách, viết chữ. Nhiều khách từ các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội đều tìm đến để mua cho kỳ được giấy dó, vì giấy dó của người Cao Lan nổi tiếng là chất lượng tốt nên thu hút được nhiều khách hàng.

Những ngày cả bản nhà nhà, người người làm giấy dó đó chỉ còn trong quá khứ. Ngày nay, ở bản Khe Nghè chỉ còn một vài ba hộ làm để giữ nghề truyền thống chứ không ai thực sự sống được với nghề. Bà Trạc Thị Ngọn (80 tuổi) cùng con trai là Dương Văn Quang là một trong số ít người ở Khe Nghè còn theo đuổi đam mê làm giấy dó. Bà Ngọn cho biết, xưa kia, giấy dó được sử dụng phổ biến để lưu giữ chữ viết, tranh vẽ, tranh thờ, in dập các văn tự cổ, ghi chép gia phả của các dòng họ, gia đình...

Giấy dó được ưa chuộng bởi nó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhòe khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc dòn gẫy, ẩm nát. Tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, trong số những tài liệu giấy, thì tài liệu giấy dó có tuổi thọ cao nhất. Các tài liệu giấy dó là những loại tài liệu được sản sinh lâu đời nhất, từ khi các phương tiện bảo quản chưa được phát triển.

Ở Việt Nam có nhiều nơi làm giấy dó, nhưng mỗi nơi có những kỹ thuật, bí quyết riêng. Điểm khác biệt trong kỹ thuật làm giấy dó của người Cao Lan là họ không seo giấy trong bể seo mà đồ bột giấy lên khuôn tráng có căng lớp vải để thoát nước. Khuôn tráng giấy dó được dựng nghiêng để phơi cho đến khi tách được tờ giấy ra...


Anh Dương Văn Quang giới thiệu cho học sinh về các công đoạn làm giấy dó.

Anh Dương Văn Quang cho biết: “Nguyên liệu chính để làm ra sản phẩm giấy dó của người Cao Lan gồm hai loại là cây vợt pạ và dây hau pau (cây dưỡng). Hai loại cây và dây này đều có trên những ngọn núi, khu rừng cao. Người Cao Lan khi làm giấy phải cất công lên rừng, lên núi, trèo đèo, lội suối để tìm kiếm hai loại cây này. Trong đó, hau pau được dùng để làm thành bột giấy, còn vạt pạ được ngâm để lấy nước, tạo thành chất hồ của giấy”.

Cây hau pau sau khi lấy về sẽ được làm sạch vỏ, ngâm với nước vôi trong và ninh cùng nước hòa tro bếp. Vỏ cây hau pau dễ bóc vỏ, nhất là khoảng tháng 3 và tháng 7. Vỏ cây hau pau sẽ tiếp tục được làm sạch tro bám. Đây là công đoạn mất nhiều thời gian nhất, đòi hỏi sự tỉ mỉ, không thể nóng vội để tạo được độ sáng trắng của giấy. Hau pau sau khi được ninh nhừ sẽ được đem đi giã hoặc đập dập.

Đối với cây vợt pạ phải tách lấy vỏ, cạo sạch lớp vỏ lụa ngoài màu nâu, bó thành cuộn rồi ngâm vào chậu nước sạch một đêm. Sáng hôm sau, mớ vỏ được vớt ra, người làm sẽ thu được một chậu keo có màu trong vắt. Công đoạn cuối cùng là đem phần vỏ được đập nát xuống bể khuấy đều sẽ được một loại nước màu vàng nhạt, đặc sánh. Trong quá trình khuấy trộn cùng nước ngâm vạt pạ để giấy khi vào khung sẽ không bị dính.

Cũng giống nhiều vùng khác, đồng bào Cao Lan cũng tự sáng chế khung làm giấy dó cho mình. Khung được ghép vuông bằng bốn thanh gỗ, ở giữa căng vải màn hay vải xô, độ dày mỏng của vải căng quyết định độ dày, mỏng của giấy dó.Ngoài ra, còn có một nồi nấu chất liệu giấy và một chậu đựng nước pha bột giấy...

“Khi trộn hồ với bột phải bằng cách cảm nhận, không thể đong đếm được. Tôi học làm giấy từ rất lâu rồi, lúc đầu làm cũng thử đong xem nhưng không được bởi vì khi cái cây hồ non thì tỷ lệ hồ kém hơn một chút, nếu mình cứ đong bằng một ca như mọi khi thì lại không đủ, còn cây già hơn một chút thì đong bằng một ca đó lại bị quá nhiều. Vậy nên chỉ bằng cách pha xuống khung, mình sờ tay xuống cảm nhận. Sau này khi mình sờ, cảm nhận bằng tay quen rồi thì đủ lượng là mình biết luôn, mình tráng lên tờ giấy lại phải tráng tay thật đều, thật phẳng không thì tờ giấy bị chỗ mỏng chỗ dầy”, anh Dương Văn Quang cho hay.


Bộ tranh Tố Nữ của họa sĩ Lý Trực Sơn trên chất liệu giấy dó.

Khi bột giấy đã dàn đều thì dựng khung nghiêng, tìm nơi sạch sẽ, thoáng đãng, nhiều nắng gió để phơi giấy cho khô. Khi phơi cũng phải đặt khuôn phẳng mặt thì tờ giấy mới mịn đều. Lấy giấy khô cần gỡ mép trước, sau đó lột cả tờ giấy lên. Sản phẩm cuối cùng, giấy dó có màu trắng, giấy dày đều, phẳng và dai.

Ở trong bản Khe Nghè, những người còn nặng lòng với nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan cùng chung nỗi lo bởi giờ đây còn rất ít người trong bản và những nơi khác biết làm giấy dó truyền thống.Được làm từ bàn tay khéo léo của người Cao Lan theo bí quyết riêng, sản phẩm giấy dó tuy mỏng nhưng dai và bền hơn giấy sản xuất công nghiệp. Nếu bảo quản cẩn thận có thể để vài chục năm vẫn sử dụng tốt. Giấy dó giờ không còn được nhiều ưu chuộng và mua như trước khi giấy công nghiệp đa dạng, rẻ và trở nên thông dụng.

Ngành Văn hóa địa phương đã từng có một số chương trình hỗ trợ bảo tồn, phát huy giá trị nghề làm giấy dó ở Khe Nghè. Ông Nguyễn Văn Quế, Trưởng phòng Chính sách, Ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang cho biết: Là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, tồn tại hàng trăm năm với tên tuổi, bản sắc văn hóa dân tộc, tỉnh Bắc Giang đã và đang thực hiện quy hoạch phát triển làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đến năm 2020, tầm nhìn 2030, trong đó có nghề làm giấy dó ở xã Lục Sơn.

Tuy nhiên, bản thân anh Quang đã nhiều lần được mời tham gia trình diễn làm giấy dó tại Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, song vẫn chưa tìm được người trẻ tâm huyết để truyền nghề. Nguy cơ thất truyền nghề làm giấy dó chỉ là thời gian không xa.

Cơ hội cho giấy dó ở thời đại 4.0

Vào tháng 5/2019, Trung tâm Quản lý văn hoá phổ cổ Hà Nội đã tổ chức toạ đàm chủ đề: “Dó Việt xưa - nay” tại đình Kim Ngân (phố Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội).

Cũng như một số nghề truyền thống khác của người Việt xưa, nghề làm giấy dó đã có nhiều thế kỷ hưng thịnh trước khi bị dòng thời gian và sự biến đổi, phát triển của xã hội làm mai một. Được đánh giá là một trong những loại giấy bền nhất thế giới có niên đại lên đến 500 – 600 năm, giấy dó một thời huy hoàng trong đời sống người Việt.

Trước khi làm ra giấy, từ thời cổ, người Việt cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới đã dùng các loại vật liệu khác để ghi chép như khắc trên đồng, trên đá, trên mai rùa, xương thú, trên đất sét, đất nung, viết trên tre, nứa, trúc, trên lá cọ, trên lụa,... Những loại “sách vở” ấy đến nay còn lại khá nhiều ở nước ta. Các nhà khảo cổ, các nhà dân tộc học gần đây còn phát hiện được sách đồng ở Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam và sách đá ở Thanh Hoá…

Họa sĩ Đào Ngọc Hân cho biết, nghề làm giấy dó ở Việt Nam xuất hiện trong sử sách và các tư liệu vào thế kỷ thứ 3 cho đến khi nước Đại Việt ra đời, định đô ở Thăng Long. Vào thời xưa, giấy dó rất hưng thịnh, trong các khu chợ bán giấy như làng Yên Thái, Nghĩa Đô, Cầu Giấy… người mua kẻ bán rất tấp nập, cả làng trắng xóa bởi giấy dó đem phơi…

Theo họa sỹ Đào Ngọc Hân, câu chuyện về tổ nghề giấy ở Việt Nam có nhiều dị bản khác nhau nhưng nhìn chung, theo những ghi chép về giấy của ta thời thượng cổ do người Việt viết thì đến nay vẫn chưa tìm thấy trong vốn sách sử cổ còn sót lại của nước nhà. Sách “Thiên tự Văn” của Trung Quốc viết rằng: Thái Luân đã sáng chế ra giấy, bằng cách dùng vỏ cây có xơ, gọi là ma chỉ, dùng vải cũ, lưới đánh cá cũ giã ra làm giấy gọi là võng chỉ, dùng cây dó làm giấy gọi là cốc chỉ. Thái Luân làm quan và chế ra giấy vào đời vua Hoà Đế nhà Hán.

Trong quá trình lịch sử, trên lĩnh vực sản xuất giấy, thợ thủ công Việt Nam đã tỏ ra hết sức tài khéo. Họ làm ra nhiều loại giấy, trong đó có một số loại giấy quý, rất đẹp và qua thử thách của thời gian, khí hậu, đã tỏ ra vô cùng bền. Do đó, ngay từ thời vua Lý Cao Tông (1176-1210) một số loại giấy tốt của ta đã thuộc vào hàng đặc sản cống phẩm cho nhà Tống.

Khoảng cuối đời nhà Lý đến đầu đời nhà Trần mới thấy có tài liệu lịch sử ghi lại rằng: “Ở phía Tây của kinh đô Thăng Long, có một xóm thợ thủ công chuyên về làm giấy. Đó là phường giấy làng Dịch Vọng. Gần đấy có Cầu Giấy”. Đến thế kỷ thứ 15, một phường làm giấy khác nổi lên, phồn thịnh hơn cả phường giấy Dịch Vọng, đó là phường giấy Yên Thái (làng Bưởi - Hà Nội). Sách “Dư địa chí” trong “Nguyễn Trãi toàn tập” của Nguyễn Trãi có nói đến làng giấy này. Nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn, ở thế kỷ 18, trong bộ sách bách khoa “Vân đài loại ngữ” của ông đã có khảo cứu về nghề làm giấy ở nước ta…

Như vậy, nghề làm giấy ở nước ta có lịch sử lâu đời và đến đầu thế kỉ 18 thì đã phát triển khá rộng rãi ở nhiều địa phương. Sản lượng giấy lúc này đạt mức đủ đảm bảo để in được nhiều sách bằng “giấy nội hoá”.

Là một họa sĩ có nhiều tác phẩm tham gia triển lãm “Dó Việt xưa-nay”, họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức, chia sẻ: Trong đời sống xã hội ngày nay, giấy dó đã được sử dụng phổ biến hơn trong mỹ thuật, trở thành chất liệu để sáng tạo văn hóa mỹ thuật Việt. Tôi rất thích sử dụng giấy dó để vẽ, bởi nó có giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật rất đắc địa và có sự phóng túng, mộc mạc, dung dị hơn hẳn nguyên liệu vẽ tranh lụa.

“Các chuyên gia quốc tế đánh giá rất cao về giá trị của giấy dó Việt, họ khẳng định giấy dó Việt là tốt nhất. Điều đáng tiếc là, nguồn chất liệu quý giá siêu bền giờ mới chỉ phục hồi trong mỹ thuật, cung cấp một chất liệu sáng tạo văn hóa và phục vụ được nhóm đối tượng rất nhỏ. Chúng ta cần đưa giấy dó đi chinh phục để nhiều người biết đến và có thể ứng dụng rộng rãi vào đời sống đương đại”, ông Đức nhấn mạnh.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, giấy Dó truyền thống đang bị lấn át bởi các loại giấy khác. Hiện nay, rất khó để có thể tìm được một cửa hàng bán tranh vẽ trên giấy dó.

Theo nghệ nhân Ngô Thu Huyền, một trong những người trẻ hiếm hoi của làng Dương Ổ, phường Phong Khê, thành phố Bắc Ninh còn tiếp tục theo nghiệp làm giấy dó, đối với một nghề truyền thống thì không chỉ để dành cho việc trưng bày mà nó cần phải có giá trị ứng dụng vào đời sống cao. Ngày nay, sự ra đời của công nghệ in ấn, giấy công nghiệp ngày càng chiếm ưu thế, được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội bởi sự tiện lợi phù hợp với nhu cầu sử dụng. Do đó, muốn giấy Dó được nhiều người sử dụng, cần làm tăng giá trị ứng dụng của nó.

Chị Ngô Thu Huyền chia sẻ: “Về giấy dó trên thị trường hiện nay thì nhu cầu sử dụng của mọi người cũng khác nhau. Ví dụ như dòng giấy để lưu trữ bảo quản thì phải có chất lượng rất tốt. Thứ hai là nếu muốn sử dụng dòng giấy thủ công thì cần phải có tính thẩm mỹ, ví dụ mình có thêm họa tiết khác nhau để tạo nên những tờ giấy có tính thẩm mỹ cao. Và mình cũng sản xuất thêm dòng giấy dành cho các bạn viết thư pháp phương Tây và vẽ màu nước. Vẫn là chất liệu giấy Dó nhưng phải có sự thay đổi để phù hợp với nhu cầu sử dụng”.

Do đó, Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho rằng để giấy Dó không bị mai một, chúng ta cần hỗ trợ về công nghệ, tạo ra một thị trường rộng hơn cho những người sản xuất, thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu cho một vài đối tượng như hiện nay, có như vậy những nghệ nhân mới có thể sống được với nghề.

Cao Lan là một trong hai nhóm của dân tộc Sán Chay (Cao Lan - Sán Chí). Trước đây các học giả người Pháp coi người Cao Lan là một bộ phận của dân tộc Dao. Người Cao Lan còn được gọi là người Trại. Cho đến nay, người Cao Lan ở Bắc Giang vẫn tự nhận mình là người dân tộc Cao Lan, có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái.

Theo kết quả khảo sát, nguồn gốc của người Cao Lan ở Bắc Giang là từ Quảng Đông, Quảng Tây, Dương Châu, Quý Châu (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam đã được 300 năm. Đến Việt Nam, người Cao Lan cư trú ở tỉnh Quảng Ninh sau đó di cư đến các huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang.

Theo số liệu thống kê năm 2014, nhóm dân tộc Cao Lan - Sán Chí ở Bắc Giang có khoảng trên 25 nghìn người, sống tập trung ở 4 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế.

Theo Tiểu Vũ

Tin liên quan

Tin mới hơn

Hội chợ Xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sản 3 miền “đổ bộ”, người dân mê mẩn mua sắm

Hội chợ Xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sản 3 miền “đổ bộ”, người dân mê mẩn mua sắm

Sáng 6/2, Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Lễ khai mạc Hội chợ Xuân Bính Ngọ 2026 với chủ đề “Sắm Tết rộn ràng - Đón Xuân vẹn ý”.
Xã Kiều Phú rực rỡ sắc xuân với Hội chợ Hoa Xuân Bính Ngọ 2026

Xã Kiều Phú rực rỡ sắc xuân với Hội chợ Hoa Xuân Bính Ngọ 2026

Tối 6/2, tại đường Hoa Quỳnh, xã Kiều Phú (Hà Nội), Không gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm tiêu biểu gắn với Hội chợ Hoa Xuân Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 chính thức khai mạc. Sự kiện mở đầu chuỗi hoạt động mua sắm, thưởng lãm hoa xuân và trải nghiệm văn hóa Tết cổ truyền, phục vụ người dân và du khách trong dịp giáp Tết.
Anh thúc đẩy hợp tác phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam

Anh thúc đẩy hợp tác phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam

LNV - Đặc phái viên thương mại Chính phủ Anh Matt Western cùng phái đoàn doanh nghiệp đường sắt Anh vừa có chuyến thăm Việt Nam. Thông qua các buổi làm việc tại Hà Nội và TP. HCM, Anh cam kết trở thành đối tác tin cậy của Việt Nam trong phát triển hệ thống đường sắt đô thị, giao thông công cộng.
NNND Ngô Văn Đảm và tình yêu trọn đời với âm nhạc dân gian

NNND Ngô Văn Đảm và tình yêu trọn đời với âm nhạc dân gian

LNV - Trải qua hơn tám thập kỷ gắn bó với nghệ thuật truyền thống, Nghệ nhân nhân dân (NNND) Ngô Văn Đảm không chỉ là một “đại thụ” của âm nhạc dân gian Việt Nam, mà còn là người lặng thầm gìn giữ, trao truyền những giá trị tinh hoa của chèo, ca trù, xẩm, trống quân cho cộng đồng và các thế hệ mai sau.
Những “đôi tay vàng” phía sau đại cảnh “Giang sơn cẩm tú”

Những “đôi tay vàng” phía sau đại cảnh “Giang sơn cẩm tú”

LNV - Ghé thăm xưởng chế tác của anh Đỗ Thế Bình (phường Hiệp Bình, TP. HCM) hồi cuối tháng 1, chúng tôi không chỉ bị thu hút bởi những khung sắt thép đồ sộ mà còn vì sự tận tụy hiện rõ trên gương mặt hơn 50 người thợ lành nghề. Tiếng máy cắt, máy mài, trao đổi vang lên không ngớt giữa họ cho thấy sự tất bật bất kể ngày đêm, đảm bảo tiến độ thi công đại cảnh “Giang sơn cẩm tú” trên đường hoa Nguyễn Huệ Tết Bính Ngọ 2026.
TP Cần Thơ có 74 nghệ sĩ, nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu

TP Cần Thơ có 74 nghệ sĩ, nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu

LNV - Sau hợp nhất, TP Cần Thơ hiện có 74 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú và Nghệ nhân Ưu tú, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cải lương, đờn ca tài tử và văn hóa – nghệ thuật Khmer Nam Bộ. Đây là lực lượng nòng cốt trong bảo tồn, phát huy các loại hình di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố.

Tin khác

Gia Lai: Phù Mỹ Nam giữ gìn hồn quê với dải lụa trắng ngần từ sợi bún mì số 8

Gia Lai: Phù Mỹ Nam giữ gìn hồn quê với dải lụa trắng ngần từ sợi bún mì số 8

LNV - Giữa nắng gió vùng đất Phù Mỹ Nam, nơi đất không màu mỡ, mưa nắng thất thường, có một nghề âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân suốt hàng trăm năm qua. Đó là nghề làm bún mì số 8 ở thôn Vĩnh Nhơn, một nghề dân dã, mộc mạc nhưng kết tinh trong đó là sự cần cù, khéo léo và bền bỉ của con người miền quê Gia Lai.
Làng nghề tô điểm sắc Xuân cho Đường hoa thành phố Hồ Chí Minh

Làng nghề tô điểm sắc Xuân cho Đường hoa thành phố Hồ Chí Minh

LNV - Với chủ đề “Xuân hội tụ - Vững bước vươn mình”, Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Bính Ngọ 2026 được kỳ vọng sẽ góp phần gìn giữ bản sắc Tết Việt, đồng thời tôn vinh những nghề lâu đời trên địa bàn thành phố, điển hình như làng mai vàng Bình Lợi.
Làng hương Đông Khê và hành trình gìn giữ nghề truyền thống trăm năm

Làng hương Đông Khê và hành trình gìn giữ nghề truyền thống trăm năm

LNV - Những ngày cận Tết Nguyên đán 2026, làng Đông Khê (xã Hoằng Giang, Thanh Hóa) lại ngập trong mùi hương bài quen thuộc. Từ những khoảng sân nhỏ, ven bờ tường rêu phong, hàng nghìn que hương phơi nắng không chỉ báo hiệu mùa Tết đang về, mà còn gợi lại một nếp sinh hoạt làng quê đã được gìn giữ bền bỉ qua bao thế hệ.
Điều gì làm cho làng thêu Quất Động bền bỉ qua thời gian

Điều gì làm cho làng thêu Quất Động bền bỉ qua thời gian

LNV - Giữa nhịp sống hiện đại hối hả của vùng ven đô Hà Nội, làng Quất Động (Hà Nội) vẫn giữ được nhịp điệu riêng – nhịp điệu của những khung thêu lặng lẽ, những mũi chỉ cần mẫn kết nối hiện tại với quá khứ hàng trăm năm. Ít ai ngờ rằng, chính từ ngôi làng thuần nông này, một dòng chảy nghề nghiệp đã lan tỏa, góp phần tạo nên diện mạo của nghề thêu truyền thống Việt Nam, bền bỉ tồn tại qua bao biến thiên của lịch sử.
Tất bật mùa Tết ở các làng nghề truyền thống Huế

Tất bật mùa Tết ở các làng nghề truyền thống Huế

LNV - Những ngày cận Tết Nguyên đán, không khí sản xuất tại các làng nghề truyền thống ở TP Huế trở nên rộn ràng, tất bật hơn thường lệ. Từ mứt gừng Kim Long, tượng ông Táo Địa Linh đến hoa giấy Thanh Tiên, các hộ làm nghề đang “đỏ lửa” chạy đơn hàng, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường Tết, vừa góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa nghề truyền thống đặc trưng của xứ Huế.
Phát huy giá trị làng nghề, tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn Ninh Bình

Phát huy giá trị làng nghề, tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn Ninh Bình

LNV - Với hơn 102.500 cơ sở sản xuất nghề, 171 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận, hệ thống làng nghề đang trở thành trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn của tỉnh Ninh Bình, đồng thời góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa bản địa đặc sắc.
Câu lạc bộ nghệ nhân – thợ giỏi  xã Bát Tràng tổng kết năm và kết nạp hội viên mới năm 2025.

Câu lạc bộ nghệ nhân – thợ giỏi xã Bát Tràng tổng kết năm và kết nạp hội viên mới năm 2025.

Chiều 30/01 lúc 16.00 tại xã Bát Tràng, câu lạc bộ nghệ nhân – thợ giỏi năm 2025 xã Bát Tràng đã diễn ra lễ tổng kết năm và kết nạp hội viên mới
Người có công đưa cây đào Nhật Tân về xã Ô Diên, làm giàu đẹp cho quê hương

Người có công đưa cây đào Nhật Tân về xã Ô Diên, làm giàu đẹp cho quê hương

LNV - Đến Làng nghề trồng đào Hồng Hà, xã Ô Diên, Hà Nội vào thời điểm này không khí Tết như đến sớm hơn các địa phương khác, bởi cánh đồng HTX đã rực rỡ sắc đào, người và phương tiện ra vào mua bán đào tấp nập.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Thúc đẩy phát triển thủ công mỹ nghệ năm 2026

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Thúc đẩy phát triển thủ công mỹ nghệ năm 2026

LNV - Bước sang năm Bính Ngọ 2026, làng nghề Việt Nam đứng trước vận hội mới nhưng cũng đầy thách thức từ xu hướng “xanh hóa” và “số hóa” toàn cầu. Trong cuộc trao đổi đầu xuân với Tạp chí Làng nghề Việt Nam, NGƯT Trịnh Quốc Đạt – Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam nhìn lại các hoạt động đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề; vinh danh 155 nghệ nhân trong năm qua, đồng thời thông tin nhiều hoạt động trọng tâm trong năm 2026 đưa sản phẩm Việt vươn tầm thế giới...
Làng gốm Lái Thiêu tạo hình linh vật ngựa

Làng gốm Lái Thiêu tạo hình linh vật ngựa

LNV - Những ngày giáp Tết Bính Ngọ 2026, làng gốm Lái Thiêu (phường Lái Thiêu, TP.Hồ Chí Minh) rộn ràng khi các xưởng bước vào mùa tạo hình linh vật ngựa. Không khí tạo linh vật bao trùm khắp làng nghề, các xưởng đỏ lửa từ sớm.
Nước mắm truyền thống bán nhiều trong dịp Tết

Nước mắm truyền thống bán nhiều trong dịp Tết

LNV - Những ngày này, về các làng mắm truyền thống ở phía Đông của tỉnh như Gành Đỏ (phường Xuân Đài), Long Thủy (phường Bình Kiến), Mỹ Quang (xã Tuy An Nam) tỉnh Đắc Lắc, dễ dàng cảm nhận nhịp sản xuất đang dần sôi động. Trong các xưởng mắm, công nhân ra vào tấp nập; ngoài đường làng, ngõ xóm, những chuyến xe chở hàng liên tục lăn bánh.
Gặp nghệ nhân 10 năm liên tiếp “thổi hồn” vào linh vật đường hoa

Gặp nghệ nhân 10 năm liên tiếp “thổi hồn” vào linh vật đường hoa

LNV - Dưới cái nắng gắt giữa những ngày giáp Tết Bính Ngọ (2026), xưởng chế tác của Nghệ nhân Đinh Văn Tòng tại phường An Phú Đông (TP. HCM) vẫn rộn rã tiếng máy, tiếng đục. Ở tuổi 75, ông Tòng vẫn miệt mài cùng học trò tỉ mỉ từng nét vẽ, nhát cắt để kịp mang linh vật Xuân đến với người dân thành phố.
Làng nghề nón lá Gò Găng: Giữ hồn truyền thống giữa đại ngàn Tây Nguyên

Làng nghề nón lá Gò Găng: Giữ hồn truyền thống giữa đại ngàn Tây Nguyên

LNV - Phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai là nơi núi rừng Tây Nguyên hội tụ không chỉ vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên mà còn là vùng đất lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo. Trong đó, làng nghề nón lá Gò Găng nổi bật như một biểu tượng văn hóa thủ công, vừa là nghề tạo thu nhập bền vững cho người dân, vừa giữ trọn tinh hoa bản sắc dân tộc.
TP. HCM: Tăng tốc hoàn thiện linh vật phục vụ Đường hoa Nguyễn Huệ

TP. HCM: Tăng tốc hoàn thiện linh vật phục vụ Đường hoa Nguyễn Huệ

(LNV) - Các nghệ nhân tại xưởng chế tác thủ công trên địa bàn phường An Phú Đông (TP. HCM) đang gấp rút hoàn thiện linh vật ngựa quy mô lớn phục vụ Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Bính Ngọ 2026. Đây là sự kiện văn hóa thường niên diễn ra trên địa bàn thành phố, dự kiến kéo dài từ 19h ngày 15/2 (28 tháng Chạp) đến 21h ngày 22/2 (mùng 6 Tết Bính Ngọ).
TP. HCM: Tăng tốc hoàn thiện linh vật phục vụ Đường hoa Nguyễn Huệ

TP. HCM: Tăng tốc hoàn thiện linh vật phục vụ Đường hoa Nguyễn Huệ

(LNV) - Các nghệ nhân tại xưởng chế tác thủ công trên địa bàn phường An Phú Đông (TP. HCM) đang gấp rút hoàn thiện linh vật ngựa quy mô lớn phục vụ Đường hoa Nguyễn Huệ Tết Bính Ngọ 2026. Đây là sự kiện văn hóa thường niên diễn ra trên địa bàn thành phố, dự kiến kéo dài từ 19h ngày 15/2 (28 tháng Chạp) đến 21h ngày 22/2 (mùng 6 Tết Bính Ngọ).
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hội chợ Xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sản 3 miền “đổ bộ”, người dân mê mẩn mua sắm

Hội chợ Xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sản 3 miền “đổ bộ”, người dân mê mẩn mua sắm

Hội chợ trưng bày, giới thiệu và bán các sản phẩm của hơn 23 tỉnh, TP trong cả nước như: trà shan tuyết, giò chả Ước Lễ,
Hà Nội: Khai mạc Lễ hội hoa, cây cảnh, sản phẩm OCOP và đặc sản vùng miền năm 2026

Hà Nội: Khai mạc Lễ hội hoa, cây cảnh, sản phẩm OCOP và đặc sản vùng miền năm 2026

LNV - Tối 6/2, tại Công viên Thiên văn học (phường Dương Nội, Hà Nội), Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hà Nội phối hợp với UBND phường Dương Nội tổ chức khai mạc Lễ hội hoa, cây cảnh, sản phẩm OCOP và đặc sản vùng miền năm 2026.
Xã Kiều Phú rực rỡ sắc xuân với Hội chợ Hoa Xuân Bính Ngọ 2026

Xã Kiều Phú rực rỡ sắc xuân với Hội chợ Hoa Xuân Bính Ngọ 2026

Tối 6/2, tại đường Hoa Quỳnh, xã Kiều Phú (Hà Nội), Không gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm tiêu biểu gắn với Hội chợ Hoa Xuân Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 chính thức khai mạc.
Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026: Đổi mới quản lý, phát triển bền vững và nâng cao trải nghiệm của du khách!

Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026: Đổi mới quản lý, phát triển bền vững và nâng cao trải nghiệm của du khách!

LNV - Sáng ngày 06/02/2026, Ban Tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương năm 2026 đã tổ chức hội nghị thông tin báo chí về công tác tổ chức, quản lý Lễ hội Du lịch Chùa Hương năm 2026 với chủ đề “An toàn - Thân thiện - Chất lượng”. Lễ hội kỳ vọng sẽ có những chu
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tăng cường hợp tác với Ấn Độ trong lĩnh vực tơ lụa và thủ công mỹ nghệ

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tăng cường hợp tác với Ấn Độ trong lĩnh vực tơ lụa và thủ công mỹ nghệ

LNV - Sáng ngày 6/2/2026, tại Văn phòng Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, đã diễn ra buổi làm việc giữa Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (VICRAFT) và đoàn công tác Ủy ban Tơ lụa Trung ương, Bộ Dệt may Ấn Độ, do TS. Naresh Babu N., Vụ trưởng (phụ trách kỹ thuật) & G
Giao diện di động