Những gia đình cuối cùng ở Khe Nhè giữ nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan

LNV - Nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan ở bản Khe Nghè(xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) đã có ngay từ những ngày đầu tiên khi họ tới vùng đất vải sinh sống. Dù nắm giữ trong tay những bí quyết riêng tạo nên thương hiệu giấy dó Cao Lan từng một thời được ưu chuộng nhưng giờ đây ở Khe Nhè chỉ còn một vài hộ gia đình còn gìn giữ nghề truyền thống của cha ông bằng lòng đam mê.


Công đoạn tráng bột giấy ra khuôn để làm giấy dó của người Cao Lan. (Ảnh: Báo Bắc Giang).

Sự khác biệt của dó Cao Lan

Nghề giấy dó của người Việt được một số thư tịch cổ nước ngoài nói rằng có từ thế kỷ 3 sau công nguyên. Khi đó, người Giao Chỉ đã biết dùng gỗ mật hương để chế tác thành một loại giấy bản tốt, có tên gọi là giấy mật hương.

Khi nhà nước Đại Việt ra đời và quyết định lựa chọn Thăng Long làm kinh đô thì nghề làm giấy càng phát triển. Bởi thời điểm này nhu cầu của xã hội bắt nguồn từ việc học tập, giao dịch, thi cử phát triển đã giúp nghề làm giấy dó phát triển mạnh mẽ. Ở nhiều địa phương như: làng Đống Cao (Kinh Bắc); làng An Thái, Yên Hòa (Thăng Long); làng An Phúc ở (Hà Tây) và một số đồng bào dân tộc thiểu số cũng có nghề làm giấy dó như dân tộc Mông; Cao Lan; Dao;…

Họa sĩ Đào Ngọc Hân, Ủy viên Ban chấp hành Hội Khảo cổ học Việt Nam, Phó Giám đốc Trung tâm Khảo cổ học ứng dụng từng khẳng định: “Nghề làm giấy dó không chỉ là “đặc sản” của người Kinh sinh sống ở miền Bắc Việt Nam mà một số dân tộc thiểu số nước ta cũng có nghề làm giấy dó từ các nguyên liệu giàu bột giấy như các loại cây dó, cây dướng, thân tre non và cuống rơm”.

Trong số đó, kỹ thuật, chất lượng giấy dó của người Cao Lan sống ở bản Khe Nghè, sườn Tây Yên Tử được nhiều nơi biết tới bởi có nhiều khác biệt với cách làm của những nơi khác.

Bản Khe Nghè có hơn 70 hộ, chủ yếu là người Cao Lan. Đồng bào nơi đây có nhiều nét văn hóa đặc trưng mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó có nghề dệt thổ cẩm và làm giấy dó. Theo lời kể của nhiều bậc cao niên trong làng, từ ngày người Cao Lan tới vùng đất này sinh sống, nghề làm giấy dó đã rất thịnh hành, phần lớn các gia đình ở đây đều làm giấy.


Anh Dương Văn Quang giới thiệu công đoạn cuối cùng để làm giấy dó.

Ở vùng cao, trong đời sống tâm linh, giấy dó được sử dụng trong nhiều nghi lễ truyền thống. Ví dụ như trong đám ma, họ đục hoa văn trên giấy để làm lễ cúng, giống như một loại tranh thờ. Về sau đóng thành quyển để làm sách, viết chữ. Nhiều khách từ các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội đều tìm đến để mua cho kỳ được giấy dó, vì giấy dó của người Cao Lan nổi tiếng là chất lượng tốt nên thu hút được nhiều khách hàng.

Những ngày cả bản nhà nhà, người người làm giấy dó đó chỉ còn trong quá khứ. Ngày nay, ở bản Khe Nghè chỉ còn một vài ba hộ làm để giữ nghề truyền thống chứ không ai thực sự sống được với nghề. Bà Trạc Thị Ngọn (80 tuổi) cùng con trai là Dương Văn Quang là một trong số ít người ở Khe Nghè còn theo đuổi đam mê làm giấy dó. Bà Ngọn cho biết, xưa kia, giấy dó được sử dụng phổ biến để lưu giữ chữ viết, tranh vẽ, tranh thờ, in dập các văn tự cổ, ghi chép gia phả của các dòng họ, gia đình...

Giấy dó được ưa chuộng bởi nó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhòe khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc dòn gẫy, ẩm nát. Tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, trong số những tài liệu giấy, thì tài liệu giấy dó có tuổi thọ cao nhất. Các tài liệu giấy dó là những loại tài liệu được sản sinh lâu đời nhất, từ khi các phương tiện bảo quản chưa được phát triển.

Ở Việt Nam có nhiều nơi làm giấy dó, nhưng mỗi nơi có những kỹ thuật, bí quyết riêng. Điểm khác biệt trong kỹ thuật làm giấy dó của người Cao Lan là họ không seo giấy trong bể seo mà đồ bột giấy lên khuôn tráng có căng lớp vải để thoát nước. Khuôn tráng giấy dó được dựng nghiêng để phơi cho đến khi tách được tờ giấy ra...


Anh Dương Văn Quang giới thiệu cho học sinh về các công đoạn làm giấy dó.

Anh Dương Văn Quang cho biết: “Nguyên liệu chính để làm ra sản phẩm giấy dó của người Cao Lan gồm hai loại là cây vợt pạ và dây hau pau (cây dưỡng). Hai loại cây và dây này đều có trên những ngọn núi, khu rừng cao. Người Cao Lan khi làm giấy phải cất công lên rừng, lên núi, trèo đèo, lội suối để tìm kiếm hai loại cây này. Trong đó, hau pau được dùng để làm thành bột giấy, còn vạt pạ được ngâm để lấy nước, tạo thành chất hồ của giấy”.

Cây hau pau sau khi lấy về sẽ được làm sạch vỏ, ngâm với nước vôi trong và ninh cùng nước hòa tro bếp. Vỏ cây hau pau dễ bóc vỏ, nhất là khoảng tháng 3 và tháng 7. Vỏ cây hau pau sẽ tiếp tục được làm sạch tro bám. Đây là công đoạn mất nhiều thời gian nhất, đòi hỏi sự tỉ mỉ, không thể nóng vội để tạo được độ sáng trắng của giấy. Hau pau sau khi được ninh nhừ sẽ được đem đi giã hoặc đập dập.

Đối với cây vợt pạ phải tách lấy vỏ, cạo sạch lớp vỏ lụa ngoài màu nâu, bó thành cuộn rồi ngâm vào chậu nước sạch một đêm. Sáng hôm sau, mớ vỏ được vớt ra, người làm sẽ thu được một chậu keo có màu trong vắt. Công đoạn cuối cùng là đem phần vỏ được đập nát xuống bể khuấy đều sẽ được một loại nước màu vàng nhạt, đặc sánh. Trong quá trình khuấy trộn cùng nước ngâm vạt pạ để giấy khi vào khung sẽ không bị dính.

Cũng giống nhiều vùng khác, đồng bào Cao Lan cũng tự sáng chế khung làm giấy dó cho mình. Khung được ghép vuông bằng bốn thanh gỗ, ở giữa căng vải màn hay vải xô, độ dày mỏng của vải căng quyết định độ dày, mỏng của giấy dó.Ngoài ra, còn có một nồi nấu chất liệu giấy và một chậu đựng nước pha bột giấy...

“Khi trộn hồ với bột phải bằng cách cảm nhận, không thể đong đếm được. Tôi học làm giấy từ rất lâu rồi, lúc đầu làm cũng thử đong xem nhưng không được bởi vì khi cái cây hồ non thì tỷ lệ hồ kém hơn một chút, nếu mình cứ đong bằng một ca như mọi khi thì lại không đủ, còn cây già hơn một chút thì đong bằng một ca đó lại bị quá nhiều. Vậy nên chỉ bằng cách pha xuống khung, mình sờ tay xuống cảm nhận. Sau này khi mình sờ, cảm nhận bằng tay quen rồi thì đủ lượng là mình biết luôn, mình tráng lên tờ giấy lại phải tráng tay thật đều, thật phẳng không thì tờ giấy bị chỗ mỏng chỗ dầy”, anh Dương Văn Quang cho hay.


Bộ tranh Tố Nữ của họa sĩ Lý Trực Sơn trên chất liệu giấy dó.

Khi bột giấy đã dàn đều thì dựng khung nghiêng, tìm nơi sạch sẽ, thoáng đãng, nhiều nắng gió để phơi giấy cho khô. Khi phơi cũng phải đặt khuôn phẳng mặt thì tờ giấy mới mịn đều. Lấy giấy khô cần gỡ mép trước, sau đó lột cả tờ giấy lên. Sản phẩm cuối cùng, giấy dó có màu trắng, giấy dày đều, phẳng và dai.

Ở trong bản Khe Nghè, những người còn nặng lòng với nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan cùng chung nỗi lo bởi giờ đây còn rất ít người trong bản và những nơi khác biết làm giấy dó truyền thống.Được làm từ bàn tay khéo léo của người Cao Lan theo bí quyết riêng, sản phẩm giấy dó tuy mỏng nhưng dai và bền hơn giấy sản xuất công nghiệp. Nếu bảo quản cẩn thận có thể để vài chục năm vẫn sử dụng tốt. Giấy dó giờ không còn được nhiều ưu chuộng và mua như trước khi giấy công nghiệp đa dạng, rẻ và trở nên thông dụng.

Ngành Văn hóa địa phương đã từng có một số chương trình hỗ trợ bảo tồn, phát huy giá trị nghề làm giấy dó ở Khe Nghè. Ông Nguyễn Văn Quế, Trưởng phòng Chính sách, Ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang cho biết: Là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, tồn tại hàng trăm năm với tên tuổi, bản sắc văn hóa dân tộc, tỉnh Bắc Giang đã và đang thực hiện quy hoạch phát triển làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đến năm 2020, tầm nhìn 2030, trong đó có nghề làm giấy dó ở xã Lục Sơn.

Tuy nhiên, bản thân anh Quang đã nhiều lần được mời tham gia trình diễn làm giấy dó tại Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, song vẫn chưa tìm được người trẻ tâm huyết để truyền nghề. Nguy cơ thất truyền nghề làm giấy dó chỉ là thời gian không xa.

Cơ hội cho giấy dó ở thời đại 4.0

Vào tháng 5/2019, Trung tâm Quản lý văn hoá phổ cổ Hà Nội đã tổ chức toạ đàm chủ đề: “Dó Việt xưa - nay” tại đình Kim Ngân (phố Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội).

Cũng như một số nghề truyền thống khác của người Việt xưa, nghề làm giấy dó đã có nhiều thế kỷ hưng thịnh trước khi bị dòng thời gian và sự biến đổi, phát triển của xã hội làm mai một. Được đánh giá là một trong những loại giấy bền nhất thế giới có niên đại lên đến 500 – 600 năm, giấy dó một thời huy hoàng trong đời sống người Việt.

Trước khi làm ra giấy, từ thời cổ, người Việt cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới đã dùng các loại vật liệu khác để ghi chép như khắc trên đồng, trên đá, trên mai rùa, xương thú, trên đất sét, đất nung, viết trên tre, nứa, trúc, trên lá cọ, trên lụa,... Những loại “sách vở” ấy đến nay còn lại khá nhiều ở nước ta. Các nhà khảo cổ, các nhà dân tộc học gần đây còn phát hiện được sách đồng ở Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam và sách đá ở Thanh Hoá…

Họa sĩ Đào Ngọc Hân cho biết, nghề làm giấy dó ở Việt Nam xuất hiện trong sử sách và các tư liệu vào thế kỷ thứ 3 cho đến khi nước Đại Việt ra đời, định đô ở Thăng Long. Vào thời xưa, giấy dó rất hưng thịnh, trong các khu chợ bán giấy như làng Yên Thái, Nghĩa Đô, Cầu Giấy… người mua kẻ bán rất tấp nập, cả làng trắng xóa bởi giấy dó đem phơi…

Theo họa sỹ Đào Ngọc Hân, câu chuyện về tổ nghề giấy ở Việt Nam có nhiều dị bản khác nhau nhưng nhìn chung, theo những ghi chép về giấy của ta thời thượng cổ do người Việt viết thì đến nay vẫn chưa tìm thấy trong vốn sách sử cổ còn sót lại của nước nhà. Sách “Thiên tự Văn” của Trung Quốc viết rằng: Thái Luân đã sáng chế ra giấy, bằng cách dùng vỏ cây có xơ, gọi là ma chỉ, dùng vải cũ, lưới đánh cá cũ giã ra làm giấy gọi là võng chỉ, dùng cây dó làm giấy gọi là cốc chỉ. Thái Luân làm quan và chế ra giấy vào đời vua Hoà Đế nhà Hán.

Trong quá trình lịch sử, trên lĩnh vực sản xuất giấy, thợ thủ công Việt Nam đã tỏ ra hết sức tài khéo. Họ làm ra nhiều loại giấy, trong đó có một số loại giấy quý, rất đẹp và qua thử thách của thời gian, khí hậu, đã tỏ ra vô cùng bền. Do đó, ngay từ thời vua Lý Cao Tông (1176-1210) một số loại giấy tốt của ta đã thuộc vào hàng đặc sản cống phẩm cho nhà Tống.

Khoảng cuối đời nhà Lý đến đầu đời nhà Trần mới thấy có tài liệu lịch sử ghi lại rằng: “Ở phía Tây của kinh đô Thăng Long, có một xóm thợ thủ công chuyên về làm giấy. Đó là phường giấy làng Dịch Vọng. Gần đấy có Cầu Giấy”. Đến thế kỷ thứ 15, một phường làm giấy khác nổi lên, phồn thịnh hơn cả phường giấy Dịch Vọng, đó là phường giấy Yên Thái (làng Bưởi - Hà Nội). Sách “Dư địa chí” trong “Nguyễn Trãi toàn tập” của Nguyễn Trãi có nói đến làng giấy này. Nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn, ở thế kỷ 18, trong bộ sách bách khoa “Vân đài loại ngữ” của ông đã có khảo cứu về nghề làm giấy ở nước ta…

Như vậy, nghề làm giấy ở nước ta có lịch sử lâu đời và đến đầu thế kỉ 18 thì đã phát triển khá rộng rãi ở nhiều địa phương. Sản lượng giấy lúc này đạt mức đủ đảm bảo để in được nhiều sách bằng “giấy nội hoá”.

Là một họa sĩ có nhiều tác phẩm tham gia triển lãm “Dó Việt xưa-nay”, họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức, chia sẻ: Trong đời sống xã hội ngày nay, giấy dó đã được sử dụng phổ biến hơn trong mỹ thuật, trở thành chất liệu để sáng tạo văn hóa mỹ thuật Việt. Tôi rất thích sử dụng giấy dó để vẽ, bởi nó có giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật rất đắc địa và có sự phóng túng, mộc mạc, dung dị hơn hẳn nguyên liệu vẽ tranh lụa.

“Các chuyên gia quốc tế đánh giá rất cao về giá trị của giấy dó Việt, họ khẳng định giấy dó Việt là tốt nhất. Điều đáng tiếc là, nguồn chất liệu quý giá siêu bền giờ mới chỉ phục hồi trong mỹ thuật, cung cấp một chất liệu sáng tạo văn hóa và phục vụ được nhóm đối tượng rất nhỏ. Chúng ta cần đưa giấy dó đi chinh phục để nhiều người biết đến và có thể ứng dụng rộng rãi vào đời sống đương đại”, ông Đức nhấn mạnh.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, giấy Dó truyền thống đang bị lấn át bởi các loại giấy khác. Hiện nay, rất khó để có thể tìm được một cửa hàng bán tranh vẽ trên giấy dó.

Theo nghệ nhân Ngô Thu Huyền, một trong những người trẻ hiếm hoi của làng Dương Ổ, phường Phong Khê, thành phố Bắc Ninh còn tiếp tục theo nghiệp làm giấy dó, đối với một nghề truyền thống thì không chỉ để dành cho việc trưng bày mà nó cần phải có giá trị ứng dụng vào đời sống cao. Ngày nay, sự ra đời của công nghệ in ấn, giấy công nghiệp ngày càng chiếm ưu thế, được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội bởi sự tiện lợi phù hợp với nhu cầu sử dụng. Do đó, muốn giấy Dó được nhiều người sử dụng, cần làm tăng giá trị ứng dụng của nó.

Chị Ngô Thu Huyền chia sẻ: “Về giấy dó trên thị trường hiện nay thì nhu cầu sử dụng của mọi người cũng khác nhau. Ví dụ như dòng giấy để lưu trữ bảo quản thì phải có chất lượng rất tốt. Thứ hai là nếu muốn sử dụng dòng giấy thủ công thì cần phải có tính thẩm mỹ, ví dụ mình có thêm họa tiết khác nhau để tạo nên những tờ giấy có tính thẩm mỹ cao. Và mình cũng sản xuất thêm dòng giấy dành cho các bạn viết thư pháp phương Tây và vẽ màu nước. Vẫn là chất liệu giấy Dó nhưng phải có sự thay đổi để phù hợp với nhu cầu sử dụng”.

Do đó, Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho rằng để giấy Dó không bị mai một, chúng ta cần hỗ trợ về công nghệ, tạo ra một thị trường rộng hơn cho những người sản xuất, thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu cho một vài đối tượng như hiện nay, có như vậy những nghệ nhân mới có thể sống được với nghề.

Cao Lan là một trong hai nhóm của dân tộc Sán Chay (Cao Lan - Sán Chí). Trước đây các học giả người Pháp coi người Cao Lan là một bộ phận của dân tộc Dao. Người Cao Lan còn được gọi là người Trại. Cho đến nay, người Cao Lan ở Bắc Giang vẫn tự nhận mình là người dân tộc Cao Lan, có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái.

Theo kết quả khảo sát, nguồn gốc của người Cao Lan ở Bắc Giang là từ Quảng Đông, Quảng Tây, Dương Châu, Quý Châu (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam đã được 300 năm. Đến Việt Nam, người Cao Lan cư trú ở tỉnh Quảng Ninh sau đó di cư đến các huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang.

Theo số liệu thống kê năm 2014, nhóm dân tộc Cao Lan - Sán Chí ở Bắc Giang có khoảng trên 25 nghìn người, sống tập trung ở 4 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế.

Theo Tiểu Vũ

Tin liên quan

Tin mới hơn

Phú Nghĩa: Làng nghề mây tre đan Phú Vinh đón đoàn Hội đồng Thủ công Thế Giới tới thăm và làm việc

Phú Nghĩa: Làng nghề mây tre đan Phú Vinh đón đoàn Hội đồng Thủ công Thế Giới tới thăm và làm việc

LNV - Chiều ngày 9/5/2026, Đoàn Hội đồng Thủ công Thế giới cùng đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã tới thăm, khảo sát thực tế và làm việc tại làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa. Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng nhằm quảng bá, kết nối và đưa các giá trị thủ công truyền thống của địa phương vươn tầm quốc tế.
Đoàn Hội đồng Thủ công Thế giới tham quan làng nghề áo dài truyền thống Trạch Xá

Đoàn Hội đồng Thủ công Thế giới tham quan làng nghề áo dài truyền thống Trạch Xá

LNV - Chiều 10/5, Đoàn Hội đồng Thủ công Thế giới cùng đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tới tham quan làng nghề may áo dài truyền thống thôn Trạch Xá, xã Ứng Hòa.
Khôi phục và phát triển làng gốm Phù Lãng: Giữ hồn đất, giữ lửa nghề trong thời đại mới

Khôi phục và phát triển làng gốm Phù Lãng: Giữ hồn đất, giữ lửa nghề trong thời đại mới

LNV - Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nghệ thuật gốm cổ Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ một phần ký ức văn hóa dân tộc qua từng lớp men da lươn, từng sắc nâu trầm mặc của đất và lửa.
Lộc biển

Lộc biển

LVN - Những ngày này, vùng biển Đồ Sơn bước vào chính vụ sứa. Từ sáng sớm, khu vực cảng cá Ngọc Hải rộn ràng tiếng máy nổ, tiếng gọi nhau í ới của ngư dân sau mỗi chuyến ra khơi. Không cần đi xa, chỉ quanh vùng nước gần bờ, những chiếc bè, mảng nhỏ vẫn đều đặn mang về từng mẻ sứa, thứ “lộc biển” ngắn ngày nhưng đủ sức nuôi sống nhiều gia đình ven biển.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đẩy mạnh hoạt động 6 tháng đầu năm, góp ý hoàn thiện chính sách phát triển bền vững

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đẩy mạnh hoạt động 6 tháng đầu năm, góp ý hoàn thiện chính sách phát triển bền vững

LVN - Ngày 28/4/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức cuộc họp Thường vụ nhằm tổng kết công tác 4 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm trong tháng 5, 6 năm 2026. Cuộc họp do ông Trịnh Quốc Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam chủ trì, với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Hiệp hội, Hội đồng Tư vấn và Văn phòng.
Hà Nội đón nhận danh hiệu “Thành viên Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới” của hai làng nghề Sơn Đồng và Chuyên Mỹ

Hà Nội đón nhận danh hiệu “Thành viên Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới” của hai làng nghề Sơn Đồng và Chuyên Mỹ

LNV - Tối 8-5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn và tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.

Tin khác

Hà Nội đón thêm 2 làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

Hà Nội đón thêm 2 làng nghề gia nhập mạng lưới thủ công sáng tạo thế giới

LNV - Tối 8/5, tại Khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Ba Đình, Hà Nội), UBND TP Hà Nội tổ chức lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của Mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới. Sự kiện diễn ra từ ngày 8 đến 10/5, gắn với hoạt động trưng bày, trình diễn và tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
Giữ lửa nghề mứt gừng truyền thống ở Mỹ Chánh

Giữ lửa nghề mứt gừng truyền thống ở Mỹ Chánh

LNV - Những ngày giáp Tết, thôn Mỹ Chánh, xã Nam Hải Lăng lại rộn ràng vào mùa làm mứt gừng truyền thống. Khắp xóm làng, những bếp than đỏ lửa suốt ngày đêm, hương gừng cay nồng hòa quyện trong không khí như báo hiệu mùa xuân đang cận kề.
Người giữ “hồn” tò he Phú Xuyên

Người giữ “hồn” tò he Phú Xuyên

LNV - Hơn 20 năm gắn bó với những nắm bột đầy sắc màu, anh Đặng Văn Hậu (sinh năm 1985, làng Phượng Dực, xã Phượng Dực, thành phố Hà Nội) không chỉ là một nghệ nhân làm tò he, mà còn là người kiên trì gìn giữ và thổi sức sống mới cho một loại hình nghệ thuật dân gian đang đứng trước nhiều thách thức. Với anh, “truyền thống không chỉ là quá khứ, mà còn là tương lai”.
Giữ bản sắc người Hà Nội: Nối dài dòng chảy ngàn năm

Giữ bản sắc người Hà Nội: Nối dài dòng chảy ngàn năm

LNV - Phát triển văn hóa chính là phát triển con người, và ngược lại, con người là nền tảng để bồi đắp, lan tỏa các giá trị văn hóa. Vì vậy, gìn giữ bản sắc người Hà Nội cũng chính là cách tiếp nối dòng chảy văn hiến ngàn năm, để văn hóa trở thành “nguồn lực mềm”, góp phần khẳng định vị thế và bản sắc riêng của Thủ đô trong khu vực và trên thế giới.
Gia Lai: Độc đáo Lễ cúng mừng nhà Rông mới của người Jrai tại làng Ơp

Gia Lai: Độc đáo Lễ cúng mừng nhà Rông mới của người Jrai tại làng Ơp

LNV - Lễ cúng mừng nhà Rông mới có ý nghĩa cảm tạ thần linh đã luôn giúp đỡ dân làng. Đồng thời cầu mong khi về nhà rông mới, thần sẽ tiếp tục phù hộ cho dân làng khỏe mạnh, bình an.
Người Vĩnh Chánh bền bỉ giữ nghề bó chổi cọng dừa

Người Vĩnh Chánh bền bỉ giữ nghề bó chổi cọng dừa

LNV - Suốt hơn 30 năm qua, làng nghề bó chổi cọng dừa Vĩnh Chánh (xã Phú Hòa, tỉnh An Giang) vẫn bền bỉ giữ gìn phương thức sản xuất truyền thống, không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn tạo sinh kế ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Kết nối du lịch làng nghề Đà Nẵng: Từ tiềm năng đến chuỗi giá trị trải nghiệm

Kết nối du lịch làng nghề Đà Nẵng: Từ tiềm năng đến chuỗi giá trị trải nghiệm

LNV - Được xem là loại hình du lịch giàu trải nghiệm gắn với văn hóa bản địa, du lịch làng nghề đang dần trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của Đà Nẵng. Trong bối cảnh không gian đô thị ngày càng mở rộng và kết nối thuận lợi hơn, việc khai thác hiệu quả các làng nghề được kỳ vọng sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến.
Gốm Thanh Hà: Kết tinh của tâm huyết, tình yêu và hành trình gìn giữ nghề truyền thống

Gốm Thanh Hà: Kết tinh của tâm huyết, tình yêu và hành trình gìn giữ nghề truyền thống

LNV - Nằm nép mình bên dòng sông Thu Bồn hiền hòa, làng gốm Thanh Hà (Hội An) không chỉ là một làng nghề truyền thống mà còn là nơi lưu giữ linh hồn văn hóa của xứ Quảng. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, từng sản phẩm gốm nơi đây vẫn mang theo hơi thở của đất, của con người và của một tình yêu nghề bền bỉ qua bao thế hệ.
Nghệ nhân làng nghề: Mong “đãi ngộ xứng đáng” để giữ lửa nghề

Nghệ nhân làng nghề: Mong “đãi ngộ xứng đáng” để giữ lửa nghề

LNV - Trong căn xưởng nhỏ ở làng Chuyên Mỹ (Hà Nội), nghệ nhân Nguyễn Xuân Dũng vẫn miệt mài khảm ốc xà cừ từng chi tiết trên bức tranh chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Với ông, mỗi sản phẩm không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là cách giữ gìn ký ức và hồn cốt của nghề truyền thống. Nhưng phía sau những tác phẩm tinh xảo ấy, không ít nghệ nhân vẫn đang đối mặt với bài toán mưu sinh.
Định giá lại thủ công mỹ nghệ Việt Nam: Khi di sản trở thành giá trị toàn cầu

Định giá lại thủ công mỹ nghệ Việt Nam: Khi di sản trở thành giá trị toàn cầu

LNV - Một chiếc khăn thổ cẩm có thể chỉ được bán với giá vài chục nghìn đồng trong nước, nhưng khi bước ra thị trường quốc tế, giá trị của nó có thể lên tới hàng trăm USD. Khoảng cách ấy không nằm ở chi phí nguyên liệu hay công sức, mà được tạo nên từ câu chuyện văn hóa và thông điệp bền vững mà sản phẩm mang theo. Với hàng nghìn làng nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang sở hữu một “mỏ vàng” nhưng chưa được khai thác đúng mức.
Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch bảo tồn Di tích quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn (Hà Nội)

Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch bảo tồn Di tích quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn (Hà Nội)

LNV- Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 756/QĐ-TTg ngày 28/4/2026 phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn, xã Hát Môn, thành phố Hà Nội.
Điện Biên chú trọng phát triển nghề, làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

Điện Biên chú trọng phát triển nghề, làng nghề truyền thống gắn với sinh kế bền vững

LNV - Tỉnh Điện Biên hiện có 44 nghề và làng nghề truyền thống, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa của các dân tộc và giá trị văn hóa bản địa đặc trưng. Nhằm duy trì và phát triển các nghề này, đồng thời tạo điều kiện để người dân có thể sống được bằng nghề và gắn bó lâu dài, tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp như hỗ trợ bảo tồn, phục dựng cũng như công nhận các nghề, làng nghề truyền thống.
Trát Cầu - nơi nhịp trống hội hòa cùng nhịp thở của làng nghề

Trát Cầu - nơi nhịp trống hội hòa cùng nhịp thở của làng nghề

Mỗi độ tháng Ba âm lịch, khi tiết xuân còn vương trên những triền sông Nhuệ, làng Trát Cầu lại thức dậy trong một nhịp điệu rất riêng. Đó là nhịp trống hội vang lên từ Đền làng, hòa cùng tiếng máy may, máy chần bông rộn ràng trong từng xưởng nhỏ. Một không gian vừa linh thiêng, vừa đời thường - nơi truyền thống và hiện đại cùng song hành trong một mạch chảy không ngừng.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Đẩy mạnh hoạt động 6 tháng đầu năm, góp ý hoàn thiện chính sách phát triển bền vững

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Đẩy mạnh hoạt động 6 tháng đầu năm, góp ý hoàn thiện chính sách phát triển bền vững

LNV - Ngày 28/4/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức cuộc họp Thường vụ nhằm tổng kết công tác 4 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm trong tháng 5, 6 năm 2026. Cuộc họp do ông Trịnh Quốc Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam chủ trì, với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Hiệp hội, Hội đồng Tư vấn và Văn phòng.
Làng Xuân Trạch văn hiến tiên phong trong số hóa di sản

Làng Xuân Trạch văn hiến tiên phong trong số hóa di sản

LNV- Trong dòng chảy không ngừng của thời gian, mỗi làng quê Việt Nam luôn là nơi kết tinh những giá trị văn hóa bền vững – từ truyền thống gia đình, dòng họ đến những ký ức cộng đồng được gìn giữ qua bao thế hệ. Xuân Trạch, mảnh đất giàu truyền thống, cũng đang lưu giữ trong mình một kho tàng di sản quý báu, từ đình làng, lễ hội, gia phả cho đến những câu chuyện đời thường đầy ý nghĩa.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Gia Lai: Quy Nhơn Đông tổ chức Lễ hội du lịch lần thứ I với nhiều hoạt động đặc sắc

Gia Lai: Quy Nhơn Đông tổ chức Lễ hội du lịch lần thứ I với nhiều hoạt động đặc sắc

LNV - Lễ hội du lịch phường Quy Nhơn Đông lần thứ I diễn ra từ ngày 29 – 30/5/206. Đây là sự kiện hưởng ứng Năm Du lịch Quốc gia Gia Lai 2026.
Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài tiếp tục giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc  Việt Nam khóa XI

Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài tiếp tục giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI

LNV - Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương,
Ảnh: Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI

Ảnh: Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI

LNV - Sáng 13/5, tại Trung tâm hội nghị Quốc gia (Hà Nội), Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, tiến hành phiên bế mạc.
Gia Lai xếp thứ 16 cả nước về chỉ số cải cách hành chính năm 2025

Gia Lai xếp thứ 16 cả nước về chỉ số cải cách hành chính năm 2025

LNV - Theo kết quả công bố Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2025, tỉnh Gia Lai đứng thứ 16/34 tỉnh, thành trên cả nước với mức điểm đạt 90,2%.
Đại đoàn kết, sức mạnh nội sinh cho phát triển quốc gia

Đại đoàn kết, sức mạnh nội sinh cho phát triển quốc gia

LNV - Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI đã gợi mở một bước chuyển rất đáng chú ý trong nhận thức về đại đoàn kết toàn dân tộc
Giao diện di động