Những gia đình cuối cùng ở Khe Nhè giữ nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan

LNV - Nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan ở bản Khe Nghè(xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) đã có ngay từ những ngày đầu tiên khi họ tới vùng đất vải sinh sống. Dù nắm giữ trong tay những bí quyết riêng tạo nên thương hiệu giấy dó Cao Lan từng một thời được ưu chuộng nhưng giờ đây ở Khe Nhè chỉ còn một vài hộ gia đình còn gìn giữ nghề truyền thống của cha ông bằng lòng đam mê.


Công đoạn tráng bột giấy ra khuôn để làm giấy dó của người Cao Lan. (Ảnh: Báo Bắc Giang).

Sự khác biệt của dó Cao Lan

Nghề giấy dó của người Việt được một số thư tịch cổ nước ngoài nói rằng có từ thế kỷ 3 sau công nguyên. Khi đó, người Giao Chỉ đã biết dùng gỗ mật hương để chế tác thành một loại giấy bản tốt, có tên gọi là giấy mật hương.

Khi nhà nước Đại Việt ra đời và quyết định lựa chọn Thăng Long làm kinh đô thì nghề làm giấy càng phát triển. Bởi thời điểm này nhu cầu của xã hội bắt nguồn từ việc học tập, giao dịch, thi cử phát triển đã giúp nghề làm giấy dó phát triển mạnh mẽ. Ở nhiều địa phương như: làng Đống Cao (Kinh Bắc); làng An Thái, Yên Hòa (Thăng Long); làng An Phúc ở (Hà Tây) và một số đồng bào dân tộc thiểu số cũng có nghề làm giấy dó như dân tộc Mông; Cao Lan; Dao;…

Họa sĩ Đào Ngọc Hân, Ủy viên Ban chấp hành Hội Khảo cổ học Việt Nam, Phó Giám đốc Trung tâm Khảo cổ học ứng dụng từng khẳng định: “Nghề làm giấy dó không chỉ là “đặc sản” của người Kinh sinh sống ở miền Bắc Việt Nam mà một số dân tộc thiểu số nước ta cũng có nghề làm giấy dó từ các nguyên liệu giàu bột giấy như các loại cây dó, cây dướng, thân tre non và cuống rơm”.

Trong số đó, kỹ thuật, chất lượng giấy dó của người Cao Lan sống ở bản Khe Nghè, sườn Tây Yên Tử được nhiều nơi biết tới bởi có nhiều khác biệt với cách làm của những nơi khác.

Bản Khe Nghè có hơn 70 hộ, chủ yếu là người Cao Lan. Đồng bào nơi đây có nhiều nét văn hóa đặc trưng mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó có nghề dệt thổ cẩm và làm giấy dó. Theo lời kể của nhiều bậc cao niên trong làng, từ ngày người Cao Lan tới vùng đất này sinh sống, nghề làm giấy dó đã rất thịnh hành, phần lớn các gia đình ở đây đều làm giấy.


Anh Dương Văn Quang giới thiệu công đoạn cuối cùng để làm giấy dó.

Ở vùng cao, trong đời sống tâm linh, giấy dó được sử dụng trong nhiều nghi lễ truyền thống. Ví dụ như trong đám ma, họ đục hoa văn trên giấy để làm lễ cúng, giống như một loại tranh thờ. Về sau đóng thành quyển để làm sách, viết chữ. Nhiều khách từ các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội đều tìm đến để mua cho kỳ được giấy dó, vì giấy dó của người Cao Lan nổi tiếng là chất lượng tốt nên thu hút được nhiều khách hàng.

Những ngày cả bản nhà nhà, người người làm giấy dó đó chỉ còn trong quá khứ. Ngày nay, ở bản Khe Nghè chỉ còn một vài ba hộ làm để giữ nghề truyền thống chứ không ai thực sự sống được với nghề. Bà Trạc Thị Ngọn (80 tuổi) cùng con trai là Dương Văn Quang là một trong số ít người ở Khe Nghè còn theo đuổi đam mê làm giấy dó. Bà Ngọn cho biết, xưa kia, giấy dó được sử dụng phổ biến để lưu giữ chữ viết, tranh vẽ, tranh thờ, in dập các văn tự cổ, ghi chép gia phả của các dòng họ, gia đình...

Giấy dó được ưa chuộng bởi nó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhòe khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc dòn gẫy, ẩm nát. Tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, trong số những tài liệu giấy, thì tài liệu giấy dó có tuổi thọ cao nhất. Các tài liệu giấy dó là những loại tài liệu được sản sinh lâu đời nhất, từ khi các phương tiện bảo quản chưa được phát triển.

Ở Việt Nam có nhiều nơi làm giấy dó, nhưng mỗi nơi có những kỹ thuật, bí quyết riêng. Điểm khác biệt trong kỹ thuật làm giấy dó của người Cao Lan là họ không seo giấy trong bể seo mà đồ bột giấy lên khuôn tráng có căng lớp vải để thoát nước. Khuôn tráng giấy dó được dựng nghiêng để phơi cho đến khi tách được tờ giấy ra...


Anh Dương Văn Quang giới thiệu cho học sinh về các công đoạn làm giấy dó.

Anh Dương Văn Quang cho biết: “Nguyên liệu chính để làm ra sản phẩm giấy dó của người Cao Lan gồm hai loại là cây vợt pạ và dây hau pau (cây dưỡng). Hai loại cây và dây này đều có trên những ngọn núi, khu rừng cao. Người Cao Lan khi làm giấy phải cất công lên rừng, lên núi, trèo đèo, lội suối để tìm kiếm hai loại cây này. Trong đó, hau pau được dùng để làm thành bột giấy, còn vạt pạ được ngâm để lấy nước, tạo thành chất hồ của giấy”.

Cây hau pau sau khi lấy về sẽ được làm sạch vỏ, ngâm với nước vôi trong và ninh cùng nước hòa tro bếp. Vỏ cây hau pau dễ bóc vỏ, nhất là khoảng tháng 3 và tháng 7. Vỏ cây hau pau sẽ tiếp tục được làm sạch tro bám. Đây là công đoạn mất nhiều thời gian nhất, đòi hỏi sự tỉ mỉ, không thể nóng vội để tạo được độ sáng trắng của giấy. Hau pau sau khi được ninh nhừ sẽ được đem đi giã hoặc đập dập.

Đối với cây vợt pạ phải tách lấy vỏ, cạo sạch lớp vỏ lụa ngoài màu nâu, bó thành cuộn rồi ngâm vào chậu nước sạch một đêm. Sáng hôm sau, mớ vỏ được vớt ra, người làm sẽ thu được một chậu keo có màu trong vắt. Công đoạn cuối cùng là đem phần vỏ được đập nát xuống bể khuấy đều sẽ được một loại nước màu vàng nhạt, đặc sánh. Trong quá trình khuấy trộn cùng nước ngâm vạt pạ để giấy khi vào khung sẽ không bị dính.

Cũng giống nhiều vùng khác, đồng bào Cao Lan cũng tự sáng chế khung làm giấy dó cho mình. Khung được ghép vuông bằng bốn thanh gỗ, ở giữa căng vải màn hay vải xô, độ dày mỏng của vải căng quyết định độ dày, mỏng của giấy dó.Ngoài ra, còn có một nồi nấu chất liệu giấy và một chậu đựng nước pha bột giấy...

“Khi trộn hồ với bột phải bằng cách cảm nhận, không thể đong đếm được. Tôi học làm giấy từ rất lâu rồi, lúc đầu làm cũng thử đong xem nhưng không được bởi vì khi cái cây hồ non thì tỷ lệ hồ kém hơn một chút, nếu mình cứ đong bằng một ca như mọi khi thì lại không đủ, còn cây già hơn một chút thì đong bằng một ca đó lại bị quá nhiều. Vậy nên chỉ bằng cách pha xuống khung, mình sờ tay xuống cảm nhận. Sau này khi mình sờ, cảm nhận bằng tay quen rồi thì đủ lượng là mình biết luôn, mình tráng lên tờ giấy lại phải tráng tay thật đều, thật phẳng không thì tờ giấy bị chỗ mỏng chỗ dầy”, anh Dương Văn Quang cho hay.


Bộ tranh Tố Nữ của họa sĩ Lý Trực Sơn trên chất liệu giấy dó.

Khi bột giấy đã dàn đều thì dựng khung nghiêng, tìm nơi sạch sẽ, thoáng đãng, nhiều nắng gió để phơi giấy cho khô. Khi phơi cũng phải đặt khuôn phẳng mặt thì tờ giấy mới mịn đều. Lấy giấy khô cần gỡ mép trước, sau đó lột cả tờ giấy lên. Sản phẩm cuối cùng, giấy dó có màu trắng, giấy dày đều, phẳng và dai.

Ở trong bản Khe Nghè, những người còn nặng lòng với nghề làm giấy dó của đồng bào Cao Lan cùng chung nỗi lo bởi giờ đây còn rất ít người trong bản và những nơi khác biết làm giấy dó truyền thống.Được làm từ bàn tay khéo léo của người Cao Lan theo bí quyết riêng, sản phẩm giấy dó tuy mỏng nhưng dai và bền hơn giấy sản xuất công nghiệp. Nếu bảo quản cẩn thận có thể để vài chục năm vẫn sử dụng tốt. Giấy dó giờ không còn được nhiều ưu chuộng và mua như trước khi giấy công nghiệp đa dạng, rẻ và trở nên thông dụng.

Ngành Văn hóa địa phương đã từng có một số chương trình hỗ trợ bảo tồn, phát huy giá trị nghề làm giấy dó ở Khe Nghè. Ông Nguyễn Văn Quế, Trưởng phòng Chính sách, Ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang cho biết: Là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, tồn tại hàng trăm năm với tên tuổi, bản sắc văn hóa dân tộc, tỉnh Bắc Giang đã và đang thực hiện quy hoạch phát triển làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đến năm 2020, tầm nhìn 2030, trong đó có nghề làm giấy dó ở xã Lục Sơn.

Tuy nhiên, bản thân anh Quang đã nhiều lần được mời tham gia trình diễn làm giấy dó tại Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, song vẫn chưa tìm được người trẻ tâm huyết để truyền nghề. Nguy cơ thất truyền nghề làm giấy dó chỉ là thời gian không xa.

Cơ hội cho giấy dó ở thời đại 4.0

Vào tháng 5/2019, Trung tâm Quản lý văn hoá phổ cổ Hà Nội đã tổ chức toạ đàm chủ đề: “Dó Việt xưa - nay” tại đình Kim Ngân (phố Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội).

Cũng như một số nghề truyền thống khác của người Việt xưa, nghề làm giấy dó đã có nhiều thế kỷ hưng thịnh trước khi bị dòng thời gian và sự biến đổi, phát triển của xã hội làm mai một. Được đánh giá là một trong những loại giấy bền nhất thế giới có niên đại lên đến 500 – 600 năm, giấy dó một thời huy hoàng trong đời sống người Việt.

Trước khi làm ra giấy, từ thời cổ, người Việt cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới đã dùng các loại vật liệu khác để ghi chép như khắc trên đồng, trên đá, trên mai rùa, xương thú, trên đất sét, đất nung, viết trên tre, nứa, trúc, trên lá cọ, trên lụa,... Những loại “sách vở” ấy đến nay còn lại khá nhiều ở nước ta. Các nhà khảo cổ, các nhà dân tộc học gần đây còn phát hiện được sách đồng ở Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam và sách đá ở Thanh Hoá…

Họa sĩ Đào Ngọc Hân cho biết, nghề làm giấy dó ở Việt Nam xuất hiện trong sử sách và các tư liệu vào thế kỷ thứ 3 cho đến khi nước Đại Việt ra đời, định đô ở Thăng Long. Vào thời xưa, giấy dó rất hưng thịnh, trong các khu chợ bán giấy như làng Yên Thái, Nghĩa Đô, Cầu Giấy… người mua kẻ bán rất tấp nập, cả làng trắng xóa bởi giấy dó đem phơi…

Theo họa sỹ Đào Ngọc Hân, câu chuyện về tổ nghề giấy ở Việt Nam có nhiều dị bản khác nhau nhưng nhìn chung, theo những ghi chép về giấy của ta thời thượng cổ do người Việt viết thì đến nay vẫn chưa tìm thấy trong vốn sách sử cổ còn sót lại của nước nhà. Sách “Thiên tự Văn” của Trung Quốc viết rằng: Thái Luân đã sáng chế ra giấy, bằng cách dùng vỏ cây có xơ, gọi là ma chỉ, dùng vải cũ, lưới đánh cá cũ giã ra làm giấy gọi là võng chỉ, dùng cây dó làm giấy gọi là cốc chỉ. Thái Luân làm quan và chế ra giấy vào đời vua Hoà Đế nhà Hán.

Trong quá trình lịch sử, trên lĩnh vực sản xuất giấy, thợ thủ công Việt Nam đã tỏ ra hết sức tài khéo. Họ làm ra nhiều loại giấy, trong đó có một số loại giấy quý, rất đẹp và qua thử thách của thời gian, khí hậu, đã tỏ ra vô cùng bền. Do đó, ngay từ thời vua Lý Cao Tông (1176-1210) một số loại giấy tốt của ta đã thuộc vào hàng đặc sản cống phẩm cho nhà Tống.

Khoảng cuối đời nhà Lý đến đầu đời nhà Trần mới thấy có tài liệu lịch sử ghi lại rằng: “Ở phía Tây của kinh đô Thăng Long, có một xóm thợ thủ công chuyên về làm giấy. Đó là phường giấy làng Dịch Vọng. Gần đấy có Cầu Giấy”. Đến thế kỷ thứ 15, một phường làm giấy khác nổi lên, phồn thịnh hơn cả phường giấy Dịch Vọng, đó là phường giấy Yên Thái (làng Bưởi - Hà Nội). Sách “Dư địa chí” trong “Nguyễn Trãi toàn tập” của Nguyễn Trãi có nói đến làng giấy này. Nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn, ở thế kỷ 18, trong bộ sách bách khoa “Vân đài loại ngữ” của ông đã có khảo cứu về nghề làm giấy ở nước ta…

Như vậy, nghề làm giấy ở nước ta có lịch sử lâu đời và đến đầu thế kỉ 18 thì đã phát triển khá rộng rãi ở nhiều địa phương. Sản lượng giấy lúc này đạt mức đủ đảm bảo để in được nhiều sách bằng “giấy nội hoá”.

Là một họa sĩ có nhiều tác phẩm tham gia triển lãm “Dó Việt xưa-nay”, họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức, chia sẻ: Trong đời sống xã hội ngày nay, giấy dó đã được sử dụng phổ biến hơn trong mỹ thuật, trở thành chất liệu để sáng tạo văn hóa mỹ thuật Việt. Tôi rất thích sử dụng giấy dó để vẽ, bởi nó có giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật rất đắc địa và có sự phóng túng, mộc mạc, dung dị hơn hẳn nguyên liệu vẽ tranh lụa.

“Các chuyên gia quốc tế đánh giá rất cao về giá trị của giấy dó Việt, họ khẳng định giấy dó Việt là tốt nhất. Điều đáng tiếc là, nguồn chất liệu quý giá siêu bền giờ mới chỉ phục hồi trong mỹ thuật, cung cấp một chất liệu sáng tạo văn hóa và phục vụ được nhóm đối tượng rất nhỏ. Chúng ta cần đưa giấy dó đi chinh phục để nhiều người biết đến và có thể ứng dụng rộng rãi vào đời sống đương đại”, ông Đức nhấn mạnh.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, giấy Dó truyền thống đang bị lấn át bởi các loại giấy khác. Hiện nay, rất khó để có thể tìm được một cửa hàng bán tranh vẽ trên giấy dó.

Theo nghệ nhân Ngô Thu Huyền, một trong những người trẻ hiếm hoi của làng Dương Ổ, phường Phong Khê, thành phố Bắc Ninh còn tiếp tục theo nghiệp làm giấy dó, đối với một nghề truyền thống thì không chỉ để dành cho việc trưng bày mà nó cần phải có giá trị ứng dụng vào đời sống cao. Ngày nay, sự ra đời của công nghệ in ấn, giấy công nghiệp ngày càng chiếm ưu thế, được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội bởi sự tiện lợi phù hợp với nhu cầu sử dụng. Do đó, muốn giấy Dó được nhiều người sử dụng, cần làm tăng giá trị ứng dụng của nó.

Chị Ngô Thu Huyền chia sẻ: “Về giấy dó trên thị trường hiện nay thì nhu cầu sử dụng của mọi người cũng khác nhau. Ví dụ như dòng giấy để lưu trữ bảo quản thì phải có chất lượng rất tốt. Thứ hai là nếu muốn sử dụng dòng giấy thủ công thì cần phải có tính thẩm mỹ, ví dụ mình có thêm họa tiết khác nhau để tạo nên những tờ giấy có tính thẩm mỹ cao. Và mình cũng sản xuất thêm dòng giấy dành cho các bạn viết thư pháp phương Tây và vẽ màu nước. Vẫn là chất liệu giấy Dó nhưng phải có sự thay đổi để phù hợp với nhu cầu sử dụng”.

Do đó, Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho rằng để giấy Dó không bị mai một, chúng ta cần hỗ trợ về công nghệ, tạo ra một thị trường rộng hơn cho những người sản xuất, thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu cho một vài đối tượng như hiện nay, có như vậy những nghệ nhân mới có thể sống được với nghề.

Cao Lan là một trong hai nhóm của dân tộc Sán Chay (Cao Lan - Sán Chí). Trước đây các học giả người Pháp coi người Cao Lan là một bộ phận của dân tộc Dao. Người Cao Lan còn được gọi là người Trại. Cho đến nay, người Cao Lan ở Bắc Giang vẫn tự nhận mình là người dân tộc Cao Lan, có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái.

Theo kết quả khảo sát, nguồn gốc của người Cao Lan ở Bắc Giang là từ Quảng Đông, Quảng Tây, Dương Châu, Quý Châu (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam đã được 300 năm. Đến Việt Nam, người Cao Lan cư trú ở tỉnh Quảng Ninh sau đó di cư đến các huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang.

Theo số liệu thống kê năm 2014, nhóm dân tộc Cao Lan - Sán Chí ở Bắc Giang có khoảng trên 25 nghìn người, sống tập trung ở 4 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế.

Theo Tiểu Vũ

Tin liên quan

Tin mới hơn

Văn phòng đại diện Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng: Tự hào đồng hành cùng sự phát triển của thành phố

Văn phòng đại diện Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng: Tự hào đồng hành cùng sự phát triển của thành phố

LVN - Văn Phòng Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng đã bám sát các Làng nghề, nghệ nhân, Hội viên để khôi phục phát triển Làng nghề Việt Nam, mỗi xã một sản phẩm (OCOP), xây dụng nông thôn mới và hoạt động của thành phố Hải Phòng.
Giữ gìn tinh hoa văn hóa, thúc đẩy kinh tế từ làng nghề truyền thống

Giữ gìn tinh hoa văn hóa, thúc đẩy kinh tế từ làng nghề truyền thống

LVN - Mỗi làng nghề truyền thống trên dải đất hình chữ S không chỉ là đơn vị sản xuất kinh tế thuần túy, mà còn là một kho tàng văn hóa sống động, nơi lưu giữ “hồn cốt” của dân tộc qua bao thế hệ. Trong dòng chảy hối hả của nền kinh tế số, việc khơi dậy tiềm năng từ những giá trị văn hoá để tạo nên sức bật mới đang trở thành hướng đi tất yếu, giúp các làng nghề không chỉ “sống khỏe” mà còn vươn tầm thế giới.
Hải Phòng: Một gia đình có hai nghệ nhân Ưu tú

Hải Phòng: Một gia đình có hai nghệ nhân Ưu tú

Hai anh em Dương Minh Đức và Dương Văn Tiến vinh dự đều được Nhà nước phong tặng Nghệ nhân ưu tú, kế thừa và phát huy nghề đắp, vẽ mỹ thuật truyền thống, góp phần giữ gìn làng nghề, bảo tồn di sản văn hóa Hải Phòng.
Hà Nội: Bánh cuốn Thanh Trì di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Hà Nội: Bánh cuốn Thanh Trì di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Vừa qua, phường Vĩnh Hưng tổ chức Lễ công bố Quyết định ghi danh nghề làm bánh cuốn Thanh Trì vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Bảo Việt giữ gìn và phát huy di sản truyền thống trong kỷ nguyên mới

Bảo Việt giữ gìn và phát huy di sản truyền thống trong kỷ nguyên mới

Công ty Bảo Việt phối hợp cùng các cấp hiệp hội làng nghề, nghệ nhân, lãnh đạo doanh nghiệp để lan tỏa giá trị di sản, góp phần vào sự phát triển bền vững của làng nghề.
Ấn tượng không gian trình diễn văn hóa nghệ thuật dân gian các dân tộc tại Gia Lai

Ấn tượng không gian trình diễn văn hóa nghệ thuật dân gian các dân tộc tại Gia Lai

LNV - Nằm trong chuỗi các hoạt động Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai lần thứ I năm 2026, không gian trình diễn văn hoá nghệ thuật dân gian các dân tộc để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân và du khách.

Tin khác

Làng nghề khắc in mộc bản gần 600 năm tuổi ở Hải Phòng

Làng nghề khắc in mộc bản gần 600 năm tuổi ở Hải Phòng

LVN - Nghề khắc in mộc bản Thanh Liễu (thuộc phường Tân Hưng, TP.Hải Dương, nay TP. Hải Phòng) đã xuất hiện đến nay đã gần 600 năm. Tuy nhiên, giống với đa số các nghề truyền thống khác, nghề in khắc mộc bản ở Thanh Liễu cũng đối mặt với nguy cơ mai một. Những nghệ nhân làng Thanh Liễu đang cố gắng gìn giữ và tiếp nối nghề của cha ông để lại.

Đông Giao: Tinh hoa chạm khắc gỗ

LNV - Làng nghề mộc Đông Giao (xã Cẩm Giàng, TP Hải Phòng) không chỉ là nơi hội tụ tinh hoa sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ nhân mà còn là biểu tượng của sức sống bền bỉ trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Trải qua hơn 300 năm hình thành, nghề chạm khắc gỗ nơi đây đã vượt qua những thăng trầm lịch sử để khẳng định giá trị vững chắc trong đời sống đương đại.
Nghề kim hoàn Châu Khê giữ gìn tinh hoa nghề truyền thống

Nghề kim hoàn Châu Khê giữ gìn tinh hoa nghề truyền thống

Nằm giữa vùng đất Kinh Bắc văn hiến, làng Châu Khê (thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, nay là xã Đường An, TP. Hải Phòng) từ lâu đã nổi danh là một trong những cái nôi lớn nhất của nghề kim hoàn Việt Nam. Trải qua hơn 500 năm thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, nghề vàng bạc Châu Khê không chỉ là một kế sinh nhai mà còn là biểu tượng của sự tinh hoa, khéo léo và tinh thần bền bỉ của người thợ thủ công Việt.
Gia Lai: Tái hiện sống động Lễ cưới hỏi truyền thống của người Jrai

Gia Lai: Tái hiện sống động Lễ cưới hỏi truyền thống của người Jrai

LNV - Giữa không gian rộn ràng tiếng cồng chiêng, Lễ cưới hỏi truyền thống của người Jrai được người dân làng Kép phục dựng công phu, tái hiện sinh động đời sống tinh thần giàu bản sắc qua nhiều thế hệ.
Di sản văn hóa Huế lan tỏa giữa đại ngàn Gia Lai

Di sản văn hóa Huế lan tỏa giữa đại ngàn Gia Lai

LNV - Không gian trưng bày chuyên đề Di sản văn hóa Huế tại Gia Lai trở thành điểm hẹn văn hóa thu hút đông đảo người dân và du khách.
Khai mạc Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu gắn với Lễ hội truyền thống quốc gia chùa Tây Phương năm 2026

Khai mạc Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu gắn với Lễ hội truyền thống quốc gia chùa Tây Phương năm 2026

LNV - Tối ngày 20/4/2026, tại khu vực Lễ hội truyền thống Quốc gia Chùa Tây Phương, Sở Công Thương Hà Nội long trọng tổ chức khai mạc Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu thành phố Hà Nội gắn với Lễ hội truyền thống quốc gia chùa Tây Phương năm 2026. Sự kiện thu hút sự tham dự của đông đảo đại biểu Trung ương, thành phố, địa phương cùng các doanh nghiệp, nghệ nhân và Nhân dân.
Từ lễ hội đến hội chợ: Hành trình lan tỏa giá trị làng nghề Hà Nội

Từ lễ hội đến hội chợ: Hành trình lan tỏa giá trị làng nghề Hà Nội

LNV - Tối ngày 20/4, tại khu vực đường vào chùa Tây Phương (xã Tây Phương, thành phố Hà Nội), Sở Công Thương Hà Nội phối hợp với UBND xã Tây Phương tổ chức Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu thành phố Hà Nội gắn với các hoạt động của Lễ hội truyền thống quốc gia chùa Tây Phương năm 2026. Hội chợ mở cửa từ 09h00 đến 21h00 hằng ngày, hứa hẹn trở thành điểm đến văn hóa – thương mại hấp dẫn đối với người dân và du khách.
Nghề làm nồi đất cổ xưa của Trù Sơn

Nghề làm nồi đất cổ xưa của Trù Sơn

LNV - Làng Trù Sơn, xã Bạch Hà, tỉnh Nghệ An bao năm nay vẫn luôn ấm cúng bởi ánh lửa rực hồng của các lò nung làm nồi đất. Nơi đây là vùng duy nhất làm ra các loại nồi bằng đất ở xứ Nghệ và cũng là nơi hiếm hoi trong cả nước đến nay còn duy trì nghề làm nồi đất.
Quảng Trị: Đặt hàng trước hướng đi giúp nông dân yên tâm sản xuất

Quảng Trị: Đặt hàng trước hướng đi giúp nông dân yên tâm sản xuất

LNV - Tại xã Bắc Trạch (tỉnh Quảng Trị), nhiều nông dân đang dần thay đổi phương thức sản xuất, chuyển từ nhỏ lẻ, phụ thuộc thương lái sang tham gia các chuỗi liên kết. Thông qua mô hình hợp tác xã gắn kết với doanh nghiệp, đầu ra nông sản được đảm bảo ổn định hơn, đồng thời giá trị sản phẩm cũng được nâng lên, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững.
Nghề khảm trai Chuôn Ngọ: Bảo tồn di sản trong thời đại số

Nghề khảm trai Chuôn Ngọ: Bảo tồn di sản trong thời đại số

LNV - Làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ đối mặt thử thách từ công nghiệp hóa, nhưng đang đổi mới để giữ gìn giá trị truyền thống và vươn xa thị trường quốc tế
Làng nghề ủ ấm Sơn Vi hồi sinh nhờ chương trình OCOP

Làng nghề ủ ấm Sơn Vi hồi sinh nhờ chương trình OCOP

OVN - Sản phẩm ủ ấm Sơn Vi đạt chứng nhận 3 sao, mở rộng thị trường quốc tế, tạo việc làm và giữ gìn nét văn hóa truyền thống của địa phương.
Làng gốm Thanh Hà Giữ nhịp thời gian bên dòng Thu Bồn

Làng gốm Thanh Hà Giữ nhịp thời gian bên dòng Thu Bồn

Nằm thanh bình bên dòng sông Thu Bồn thơ mộng, làng gốm Thanh Hà, phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng không chỉ là một điểm đến du lịch hấp dẫn mà còn là một “bảo tàng sống” lưu giữ nét đẹp lao động và nghệ thuật gốm thủ công truyền thống suốt hơn 500 năm qua.
Không gian di tích ở Hà Nội hồi sinh nghề thủ công truyền thống

Không gian di tích ở Hà Nội hồi sinh nghề thủ công truyền thống

Các không gian sáng tạo trong di tích giúp nghề thủ công Hà Nội sống động, trải nghiệm thực hành, kết hợp công nghệ số và văn hóa địa phương.
"Trăm Nghề Trăm Nghệ” tái hiện sinh động bức tranh làng nghề Việt

"Trăm Nghề Trăm Nghệ” tái hiện sinh động bức tranh làng nghề Việt

Sự kiện “‘Trăm Nghề Trăm Nghệ” tại tại AEON Mall Long Biên (Hà Nội) mang làng nghề vào đời sống đô thị, kết hợp giá trị truyền thống và mỹ thuật ứng dụng để nâng cao nhận thức cộng đồng
“Chạm nghề phố cổ 2026” - Lan tỏa giá trị sơn ta trong dòng chảy di sản và sáng tạo

“Chạm nghề phố cổ 2026” - Lan tỏa giá trị sơn ta trong dòng chảy di sản và sáng tạo

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và hướng tới 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và phố cổ Hà Nội phối hợp cùng các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa đặc sắc với chủ đề “Chạm nghề phố cổ 2026”.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Tây Ninh

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Tây Ninh

Sáng 27-4 tại Tây Ninh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn công tác của Trung ương đến dâng hoa, dâng hương tưởng niệm, tri ân các Anh hùng - Liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Tân Biên.
Cà Mau tăng cường liên kết, nâng cao giá trị chuỗi lúa gạo

Cà Mau tăng cường liên kết, nâng cao giá trị chuỗi lúa gạo

Ngành lúa gạo Cà Mau đang từng bước chuyển đổi theo hướng nâng cao chất lượng, giảm phát thải và xây dựng chuỗi liên kết bền vững
Văn phòng đại diện Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng: Tự hào đồng hành cùng sự phát triển của thành phố

Văn phòng đại diện Tạp chí Làng nghề Việt Nam tại Hải Phòng: Tự hào đồng hành cùng sự phát triển của thành phố

Phát triển Làng nghề Việt Nam, mỗi xã một sản phẩm, xây dụng nông thôn mới và hoạt động tại thành phố Hải Phòng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ, trò chuyện với nhân dân tại Đền Hùng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ, trò chuyện với nhân dân tại Đền Hùng

Trong không khí thiêng liêng của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, ngay sau Lễ dâng hương tại Đền Thượng, dâng hoa, dâng hương tại Lăng Hùng Vương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp gỡ, nói chuyện thân mật với bà con nhân dân tại đây.
Nuôi hàu đại dương - Khát vọng vươn mình ra biển lớn

Nuôi hàu đại dương - Khát vọng vươn mình ra biển lớn

Mô hình nuôi hàu Đại Dương, hướng mới đầy triển vọng, hình mẫu cho tư duy nông nghiệp hiện đại.
Giao diện di động