Hà Nội: 33°C Hà Nội
Đà Nẵng: 28°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 28°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 31°C Thừa Thiên Huế

Nghị quyết 19 TW 5 Khóa XIII- cơ hội mới cho làng nghề

LNV - Một tin vui rất quan trọng đối với làng nghề chúng ta: Ban Chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết mới về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong đó quy định nhiều vấn đề có ý nghĩa chiến lược, tạo cơ hội mới cho bảo tồn và phát triển làng nghề


Ngày 16 tháng 6 năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 19/NQ-TW của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành trung ương Đảng (Khóa XIII) “Về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045”. Bài viết này nhấn mạnh những nội dung chủ yếu liên quan đến làng nghề và đề xuất một số nhiệm vụ để làng nghề chúng ta tham khảo, thực hiện.

BƯỚC ĐỘT PHÁ MỚI QUAN TRỌNG VỀ THỂ CHẾ

1.Trước hết, xin nhấn mạnh lại sự quan tâm từ nhiều năm nay của Đảng đối với làng nghề. Trong Báo cáo Chính trị tại nhiều kỳ Đại hội Đảng, đều đã có chủ trương về phát triển làng nghề.

Báo cáo Chinh tri Đại hội VIII (6/1996): “Phát triển các ngành nghê, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân”.

Báo cáo Chính trị Đại hội IX (4/2001): “Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn”.
Báo cáo Chính trị Đại hội X (4/2006): “Phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành các ngành nghề, làng nghề, hợp tác xã, trang trại, tạo ra những sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao”.

Báo cáo Chính trị Đại hội XI (1/2011): “Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường”.
Tiếp theo đó, tại Nghị quyết số 26-NQ-TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đã đề ra nhiệm vụ “Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu và thị trường, đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương trình bảo tồn và phát triển
làng nghề”.

Trên cơ sở các văn bản của Đảng nói trên, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản đề ra các biện pháp để thực hiện, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến làng nghề. Đó là: Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành dộng của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 26/2008, xác định nhiệm vụ xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình, mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, trong đó đã ghi rõ “Bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với du lịch sinh thái, khuyến khích phát triển mỗi làng một nghề, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, cải tiến mẫu mã bao bì sản phẩm cho sản phẩm làng nghề”. Ngày 22/02/2022, tại Quyết định số 263/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Chương trình OCOP cũng được triển khai, đạt kết quả tốt, trong đó, nhiều sản phẩm thủ công được sản xuất.

Tiếp theo là các Nghị định, như Nghị định số 66/2007/NĐ-CP, Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn. Đáng chú ý nhất là Nghị định số 52/2018 thay thế Nghị định 66/2007 gồm 04 chương, 25 điều đã đề cập toàn diện nhiều vấn đề về làng nghề, từ tiêu chí nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống đến các chính sách bảo tồn, phát triển làng nghề, khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có các ngành nghề thủ công nghiệp và thủ công mỹ nghệ, đồng thời quy định chức năng quản lý nhà nước của Bộ NN&PTNT và các sở NN&PTNT đối với làng nghề.

Hai năm gần đây, do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, làng nghề cũng như toàn bộ hoạt động kinh tế-xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn chồng chất, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, biện pháp có hiệu lực, như: Tăng trợ cấp, giảm, hoãn nhiều loại thuế, giảm lãi suất tín dụng, v.v...; qua đó, nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh đã trụ vững, nay đang trên đà khôi phục và phát triển.

Qua các trích dẫn trên đây, có thể khẳng định: Tuy chưa có một văn bản pháp quy riêng cho làng nghề, song từ nhiều năm nay, Đảng và Chính phủ đã quan tâm vị trí, vai trò của các nghề thủ công ở nông thôn, qua đó đề ra nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích nghề thủ công, bảo tồn và phát triển các làng nghề, kể cả làng nghề truyền thống và làng nghề mới. Việc thực hiện các văn bản đó đã đạt dược những kết quả tích cực rất đáng ghi nhận.

2.Đến nay, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành trung ương Đảng Khóa XIII “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045” (dưới đây xin gọi tắt là Nghị quyết 19/2022), trên cơ sở tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 26 (2008) và bám sát thực tiễn, đã quyết định những chủ trương, chính sách rất cơ bản. Nghị quyết 19/2022 quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, là một bước đột phá rất sâu sắc và toàn diện về thể chế, khẳng định hình thành “Nông nghiệp sinh thái; Nông dân văn minh; Nông thôn hiện đại”, mở ra những triển vọng mới đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta. Với những quy định như “Phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề” hoặc “Bảo tồn, phát triển các ngành nghề, làng nghề”, Nghị quyết 19/2022 đã thực sự là một bước đột phá tạo ra cơ hội mới rất to lớn cho làng nghề chúng ta.

ĐƯA NGHỊ QUYẾT VÀO CUỘC SỐNG LÀNG NGHỀ

Nghị quyết 19/2022 của Trung ương Đảng đã thực sự là một bước đột phá về thể chế, theo Nghị quyết của Đại hội XIII, coi hoàn chỉnh thể chế là đột phá đầu tiên trong ba đột phá (cùng với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng kết cấu hạ tầng) trong thời gian tới. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là quán triệt Nghị quyết 19/2022, đưa Nghị quyết vào cuộc sống làng nghề với hiệu quả cao. Dưới đây, xin kiến nghị một số nhiệm vụ chủ yếu để các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các làng nghề cùng tham khảo, thực hiện.

Một là, về quan điểm, nhận thức.

Đây là một vấn đề hết sức hệ trọng, vì trong Nghị quyết 10/2022, Trung ương Đảng đã nhận định “Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 26 (2008) của Ban Chấp hành trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nước ta đã đạt được những tành tựu rất to lớn, song còn những hạn chế, yếu kém. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức về vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa thật đầy đủ, đúng mức” (xin lưu ý: những đoạn ghi trong ngoặc kép của phần này đều là trích Nghị quyết 19/2022). Đến nay, Trung ương xác định “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba thành tó có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời, có vai trò, vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tỏ quốc, là cơ sở, lực lượng to lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”,

Những quyết định trên của Nghị quyết 19/2022 đòi hỏi làng nghề chúng ta đặt sự nghiệp bảo tồn và phát triển làng nghề trong tổng thể “tam nông”, quan tâm hơn nữa trong gắn bó sự phát triển của làng nghề với phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong mỗi hoạt động của cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như của mỗi làng nghề.

Hai là, về mục tiêu.

Trung ương xác định “Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Mục tiêu cao nhất trong phát triển nông nghiệp, nông thôn là nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và cư dân nông thôn”.

“Mục tiêu tổng quát đến năm 2030: nông thôn phát triển toàn diện, có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ, hiện đại, cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, môi trường sống an toàn, lành mạnh, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh”. Nhiều mục tiêu cụ thể đến năm 2030 đã được quyết định, trong đó có hai mục tiêu quan trọng: “tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp đạt bình quân khoảng 3%/năm; thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2030 tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020”.
Đối với làng nghề chúng ta, những mục tiêu này thúc đẩy chúng ta khơi dậy khát vọng phát triển theo hiệu triệu của Đại hội XIII: khát vọng phát triển hơn nữa nghề thủ công truyền thống, xây dựng làng nghề văn hóa phải được thấm sâu và biến thành hành động cụ thể đem lại hiệu quả thiết thực trong mỗi người lao động, mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh và mỗi làng nghề. Mỗi làng nghề truyền thống phải trở thành một làng văn hóa: đây là một kho báu, một bảo tàng, bộ sưu tập sản phẩm thủ công phong phú và kỹ thuật chế tác độc đáo của mỗi nghề thủ công, kế thừa và phát huy qua các thế hệ, bảo đảm sự phát triển bền vững của làng nghề. Nghị quyết 19/2022 nhắc nhở “ chú trọng đào tạo, tôn vinh nghệ nhân ở nông thôn” chính là nhằm xác định vai trò nghệ nhân - tài năng sáng tạo vô tận lưu giữ kho báu tinh hoa đó của văn hóa dân tộc.

Ba là, phát triển các ngành, nghề.

Nghị quyết 19/2022 quyết định “phát triển mạnh công nghiệp ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc, vật tư phục vụ nông nghiệp. Đầu tư phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề phù hợp với quy hoạch và điều kiện cụ thể tại địa phương”,..“Bảo tồn, phát triển các ngành nghề, làng nghề, dịch vụ nông thôn, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái”... “Phát huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng trong liên kết sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ nông sản”... “Hoàn thiện chính sách phát tiển trang trại, kinh tế hộ, kinh tế tập thể, liên kết, hợp tác sản xuất kinh doanh, tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã”.

Đây là định hướng quan trọng cho phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề, vừa phát triển đúng hướng các ngành, nghề gắn bó chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn, vừa hình thành nhiều hình thức hợp tác phong phú, nhất là tạo mối liên kết theo chuỗi giá trị, nhắm tăng giá trị của sản phẩm làng nghề. Cần chú trọng việc nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng của khách hàng trong tình hình mới; đẩy mạnh khâu thiết kế, sáng tạo mẫu mã mới. Đẩy mạnh sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nhất là những mặt hàng có nguồn gốc làm từ nguyên liệu tự nhiên thân thiện với môi trường như mây, tre, cói, bèo, tơ dừa, tơ sen… đang được người tiêu dùng quan tâm mà nước ta có điều
kiện phát triển.

Bốn là, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội.

Nghị quyết 19/2022, cùng với quy định nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, đã quy định “Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức cộng đồng dân cư tham gia phát triển nông nghiệp, nông dân,
nông thôn”.

Đối với làng nghề chúng ta, đó là các tổ chức xã hội: những hội, hiệp hội hoạt động trong các lĩnh vực nghề thủ công, thủ công mỹ nghệ và làng nghề đang được tổ chức ở nhiều cấp, nhiều ngành, nghề. Phát huy hơn nữa tác dụng của các tổ chức này theo đúng chức năng, nhiệm vụ của tổ chức xã hội là rất cần thiết; đòi hỏi sự nỗ lực vươn lên của bản thân các tổ chức này, đồng thời đòi hỏi Nhà nước tiếp tục hoàn chỉnh hành lang pháp lý tạo thuận lợi cho các tổ chức xã hội trong hoạt động.
Tóm lại, Nghị quyết 19/2022 đã tạo ra bước đột phá trong thể chế về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; trong đó, mở ra những thuận lợi mới, cơ hội mới rất quan trọng cho làng nghề mà làng nghề chúng ta cần nắm bắt kịp thời và triển khai thực hiện với hiệu quả thiết thực. Đưa Nghị quyết vào cuộc sống làng nghề là một nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hỏi sự nghiên cứu sâu sắc nội dung và công tác tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết. Bài này mới nêu lên một số gợi ý bước đầu, rất mong có nhiều ý kiến bổ sung, hoàn chỉnh.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)

LNV - Kỳ 3: Giải pháp phát triển thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ với các làng nghề và làng nghề truyền thống.
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức

LNV - Hà Nội là cái nôi của các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) với 331 làng nghề và làng nghể truyền thống được công nhận, trong đó có 22 làng nghề chuyên sản xuất TCMN. Các sản phẩm rất đa dạng, từ gôm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre đan, đến khảm trai, sơn mài... mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và sự tinh xảo của các nghệ nhân.
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng trao 28 triệu đồng học bổng, quà tặng trong chương trình "Ngày nữa để yêu thương"

Hội Văn hóa Doanh nhân Hải Phòng trao 28 triệu đồng học bổng, quà tặng trong chương trình "Ngày nữa để yêu thương"

LNV - Ngày 18/8/2026, tại Trường Phổ thông Hermann Gmeiner Hải Phòng, Hội Văn hóa Doanh nhân thành phố Hải Phòng phối hợp cùng nhà trường tổ chức chương trình thiện nguyện "Ngày nữa để yêu thương", trao tặng 18 suất học bổng cùng nhiều phần quà ý nghĩa, t
Hà Nội: Khởi công dự án xây dựng khu nhà ở xã hội Tiên Dương 2

Hà Nội: Khởi công dự án xây dựng khu nhà ở xã hội Tiên Dương 2

Ngày 18/8/2026, tại xã Phúc Thịnh (Hà Nội), Liên danh Công ty Cổ phần Khu công nghiệp Sài Gòn – Bắc Giang và Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Bền vững Evergreen Bắc Giang long trọng tổ chức Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng Khu nhà ở xã hội Tiên Dương 2 với tên thương mại Evergreen Premium.
Ứng dụng công nghệ số thúc đẩy kinh tế làng nghề Mê Linh

Ứng dụng công nghệ số thúc đẩy kinh tế làng nghề Mê Linh

LNV - Từ sản xuất, quảng bá đến kết nối tiêu thụ sản phẩm, công nghệ số đang từng bước được đưa vào hoạt động của các làng nghề tại xã Mê Linh (Hà Nội).
Đổi mới sáng tạo hướng đi nâng tầm quà tặng gốm Bát Tràng

Đổi mới sáng tạo hướng đi nâng tầm quà tặng gốm Bát Tràng

LNV - Hà Nội sở hữu nhiều tiềm năng phát triển ngành thủ công mỹ nghệ với hệ thống làng nghề phong phú, giàu bản sắc và giá trị văn hóa. Tuy nhiên, để nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường, các làng nghề vẫn cần tháo
Hà Nội triển khai hợp tác với Bắc Kinh giai đoạn 2026-2030

Hà Nội triển khai hợp tác với Bắc Kinh giai đoạn 2026-2030

LNV - UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 321/KH-UBND về triển khai thực hiện Bản ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, Thủ đô nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-33
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-53
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-57
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-58
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-62
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động