Hà Nội: 25°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 32°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 30°C Thừa Thiên Huế

Nam Định: Làng Bịch giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống

LNV - Làng Bịch, xã Minh Thuận (Vụ Bản) là vùng đất cổ còn lưu giữ nhiều dấu ấn văn hóa truyền thống đậm đặc. Trong quá trình phát triển nông thôn, tốc độ đô thị hóa nhanh song làng Bịch vẫn gìn giữ và phát huy được bản sắc văn hóa làng quê, tạo nền tảng cho việc thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở địa phương.


Cầu ngói làng Bịch, xã Minh Thuận (Vụ Bản).


Theo cuốn “Lịch sử phát triển xã Minh Thuận”, làng Bịch có từ thời Hùng Vương, nổi tiếng là một làng quê trù phú. Cũng như nhiều làng cổ khác trong huyện Vụ Bản, làng Bịch có cảnh quan đẹp, phong thủy hữu tình. Làng có 1 ngôi đình nằm ở giữa làng, gần chợ nên người dân quen gọi là Đình Chợ, có 2 cung xây theo kiểu chữ Nhị. Cung đệ nhất gồm 5 gian bằng gỗ, các xà nóc, câu đầu được chạm trổ hoa văn đơn giản là nơi thờ Thành hoàng làng và các vị thần của làng. Cung ngoài là tiền đình gồm 5 gian, 2 chái. Trước kia, những năm được mùa, đến ngày hội làng, dân làng tổ chức lễ hội, rước kiệu các Nữ thần từ các phủ, miếu quanh làng về Đình Chợ để tế lễ và tổ chức các hoạt động vui chơi, ca hát từ 3-10 ngày. Cách Đình Chợ không xa là Đền thờ Câu Mang Đại Vương - vị thủy thần thời Hùng Duệ Vương. Hàng năm, vào ngày 30-3 âm lịch (ngày sinh) và ngày rằm tháng 7 âm lịch (ngày hóa) của Câu Mang Đại Vương, người dân làng Bịch lại tổ chức các hoạt động tế lễ trang trọng nhằm tri ân công lao trị thủy, giúp dân đánh giặc của ông. Trước Đền thờ Câu Mang Đại Vương là cây cầu Bịch cổ kính làm bằng chất liệu ngói và gỗ. Cầu bắc qua một lạch nước chảy ra sông Tiểu Liêm và sông Sắt. Vào thời Trần, trên hai tuyến sông này có nhiều thuyền bè đi lại, vận chuyển hàng hóa, lúa gạo vào Hành cung Thiên Trường. Cầu làng Bịch có dáng dấp “thượng gia, hạ trì” (trên là nhà, dưới là nước) dài hơn 20m, 7 gian, mái lợp ngói nam, dựng bằng cột lim vững chãi. Hai bên thành cầu là 2 hàng ghế để khách bộ hành nghỉ chân. Trên cầu có một khám thờ nhỏ, đặt bát hương, tương truyền thờ phụng bà chúa nước - Thủy tinh Công chúa. Cầu làng Bịch không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại của người dân mà còn là địa điểm vui chơi của đám trẻ làng với các trò chơi dân gian, các cụ già ngồi uống nước chè, ngâm thơ, chơi cờ tướng… Cầu ngói làng Bịch là cây cầu có mái còn lại duy nhất ở huyện Vụ Bản và là 1 trong 4 cây cầu cổ nổi tiếng của tỉnh hiện vẫn bảo lưu được kiến trúc nghệ thuật truyền thống. Nằm cách cầu ngói không xa là Chùa làng Bịch (tên chữ An Minh tự). Chùa 7 gian, xây theo kiểu chữ Công, phong cách kiến trúc thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Chùa hiện còn lưu giữ 3 văn bia thời Tự Đức 22 (1869). Trong Phật điện có nhiều tượng đẹp, đồ sộ như: tượng Cửu Long, tượng Phật Quan Âm. Bên trái chùa là nhà thờ tổ, phủ thờ Tam tòa Thánh Mẫu có tuổi đời trên 100 năm. Ngoài ra, làng Bịch còn có Điện thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Có thể thấy, làng Bịch là vùng đất cổ đậm đặc các di sản văn hóa vật thể phong phú, đa dạng gồm tổng thể các công trình tín ngưỡng thờ cúng dân gian của làng quê Việt Nam. Trong số các đình, đền, chùa, phủ, miếu, điện ở làng Bịch thì Đền làng Bịch là nơi diễn ra nhiều sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng nhất. Đây là nơi thờ phụng Vua Đinh Tiên Hoàng và vợ chồng danh tướng thời nhà Đinh có công mở mang làng Bịch cách đây hơn 1.000 năm, được nhân dân suy tôn là thánh, thần. Đó là Khai Thiên Đại Vương và Quế Hoa Công chúa (tức Tướng quân Lê Khai và phu nhân Trần Thị Quế). Không chỉ có công lao khai khẩn cải tạo vùng đất trũng thành ruộng cấy, giúp dân sản xuất, vợ chồng Tướng quân Lê Khai và Trần Thị Quế còn cùng người dân địa phương xây thành, hào để làm căn cứ; quy tụ người dân tham gia nghĩa quân cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Cạnh đền làng Bịch còn có am thờ và lăng mộ Quế Hoa Công chúa. Tại Đền làng Bịch hiện còn bảo lưu được nguyên vẹn thần phả của Tướng quân Lê Khai và phu nhân Trần Thị Quế cùng 23 đạo sắc phong từ thời Vĩnh Trị đến thời Tây Sơn. Lễ hội Đền làng Bịch được dân làng tổ chức thường niên vào tháng Giêng với các nghi thức tế lễ và những sinh hoạt văn hóa truyền thống, trò chơi dân gian đặc sắc. Trong đó, ngày mồng 6 tháng Giêng có tục dâng Thánh bằng các lễ vật gồm: bánh dầy nướng, chè kho, hoa quả... Bánh dầy được dân làng làm nặng chừng 1,5kg, cắt lát, tỉa thành hình voi, ngựa, gà, đầu rồng rồi được nướng cho nở phồng, tô màu sắc sặc sỡ để dâng Thánh. Từ ngày 13 đến 17 tháng Giêng diễn ra lễ Khánh hạ (Kỳ phúc). Trong lễ hội có các nghi thức rước kiệu quanh làng rồi về đình để tế lễ. Kèm theo phần lễ, các hoạt động phần hội cũng diễn ra rất sôi nổi như: thi đấu cờ tướng, vật võ, múa roi vào ban ngày, hát chèo vào buổi tối.

Ngoài lễ hội Đền làng Bịch tổ chức vào tháng Giêng, những tục lệ đầu năm như: tục lệ trong đêm Trừ tịch, lễ Thần Nông, lễ Thượng điền, lễ Hạ điền, lễ Tân thường (cơm mới) hay cúng rằm tháng Giêng, cúng Thổ công từ xa xưa cũng được nhân dân ở địa phương lưu giữ, bảo tồn. Lễ Thượng điền (hội giằng cột xẻ) rất sôi nổi. Người dân dựng cây nêu cao khoảng 4m; thân cây quấn giấy xanh, đỏ; ngọn cây buộc lông đuôi gà trống và cờ ngũ sắc sặc sỡ. Sau khi tế trời đất và các vị thần xong, chủ tế cầm cây nêu lễ tạ rồi dựng cây nêu ở sân đền. Trai làng đầu chít khăn đỏ, đóng khố vàng chạy ra sân tranh nhau cây nêu. Người giành được cây nêu sau đó chạy đến khu ruộng cấy lúa cách đền 300m để cắm xuống. Sau lễ Thượng điền là lễ Hạ điền, dân làng nô nức xuống đồng đầu xuân với mong muốn một năm mới cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, cuộc sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

Khi nói đến văn hoá truyền thống làng Bịch, không thể không nhắc tới phiên chợ quê truyền thống. Chợ Bịch tương truyền có từ thời nhà Đinh do bà Trần Thị Quế lập ra trong lúc chuẩn bị lương thảo phục vụ nghĩa quân của Tướng quân Lê Khai tập luyện. Chợ có đình và lều quán buôn bán sầm uất khu vực miền thượng huyện Vụ Bản. Thời gian đầu chỉ là những phiên họp nhỏ với ít người trong vùng, hàng hóa chủ yếu là tại các địa phương lân cận trao đổi, buôn bán. Chợ Bịch ngày nay họp tất cả các ngày trong tháng, hàng hóa phong phú của các vùng miền.

Cùng với các di sản văn hoá, làng Bịch còn bảo lưu được các giá trị văn hóa thông qua việc duy trì nền nếp gia phong trong mỗi gia đình, dòng họ. Người dân ai cũng ý thức thực hiện quy định nếp sống văn hóa. Nhiều thuần phong mỹ tục truyền thống vẫn được duy trì qua việc thực hiện hương ước. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã góp phần bồi dưỡng, gìn giữ những giá trị đạo đức truyền thống như: lòng hiếu thảo, lòng nhân ái, tính cộng đồng, tính cần cù, sáng tạo, lòng hiếu học, lòng yêu nước của người dân làng Bịch từ xưa đến nay. Dòng họ Đào là dòng họ lớn nhất làng, có từ đường dòng họ cổ kính thờ tổ Đào Đăng Soạn. Dòng họ Đào Duy có truyền thống về y học. Thời Lê - Nguyễn dòng họ có nhiều người được vào chữa bệnh cho người trong Hoàng cung. Ngày nay, nhiều con cháu trong dòng họ Đào Duy là những y, bác sĩ giỏi. Dòng họ Nguyễn có truyền thống hiếu học với nhiều người thi đỗ khoa cử, nhiều cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Làng Bịch là làng có nhiều người học hành đỗ đạt cao nhất ở xã Minh Thuận. Với truyền thống hiếu học, hoạt động khuyến học - khuyến tài trong các dòng họ ở làng Bịch đang ngày càng được phát huy.

Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, những năm qua, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng NTM ở làng Bịch được đẩy mạnh thực hiện. Nhiều năm liền làng Bịch giữ vững danh hiệu “Làng văn hóa”./.

Khánh Dũng/báo Nam Định

Tin liên quan

Tin mới hơn

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

Công nghiệp văn hóa thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề Việt Nam

LNV - Làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên diện mạo văn hóa, kinh tế của nhiều vùng quê Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa được xem như “chìa khóa” để làng nghề không chỉ hồi sinh mà còn phát triển bền vững, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế sáng tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

Hướng đi nào để bảo tồn và phát triển không gian, kiến trúc làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các làng nghề không chỉ mang nhiều giá trị về mặt kinh tế mà còn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc và mang đậm dấu ấn của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Khai thác tiềm năng của làng nghề để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đang được coi là một trong những hướng đi triển vọng của đất nước. Tuy nhiên, làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới cũng đang đặt ra những thách thức đặc biệt là bảo tồn và phát triển về không gian kiến trúc.
Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

Sức sống mới cho làng nghề qua du lịch trải nghiệm và sáng tạo

LNV - Phát triển du lịch trải nghiệm không chỉ dừng lại ở việc tham quan và mua sắm đơn thuần, mà đang trở thành “chìa khóa vàng” giúp khôi phục các làng nghề truyền thống và thổi sức sống mới vào di sản văn hóa Việt.
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững

LNV - Để làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, cần gìn giữ giá trị cốt lõi của làng nghề và xây dựng sản phẩm du lịch bài bản, phù hợp.
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng

LNV - Làng nghề truyền thống từ lâu đã được định vị là không gian lưu giữ sinh động các giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn của cộng đồng cư dân bản địa. Trải qua hàng thế kỷ, các kỹ nghệ thủ công được trao truyền theo mô hình phụ hệ hoặc gia tộc theo nguyên tắc “cha truyền con nối”, hình thành nên những trung tâm sản xuất có tính nhận diện cao như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, hay đúc đồng Đại Bái... Tuy nhiên, khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế số và tự động hóa, tư duy bảo tồn theo lối cũ, tức là nỗ lực duy trì nguyên trạng kỹ thuật và sản phẩm truyền thống đang bộc lộ những giới hạn mang tính sống còn. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, việc chỉ “giữ nghề” theo phương thức tiếp cận tĩnh học liệu có còn đủ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các làng nghề hay không?
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV- Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.

Tin khác

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (5 tỷ USD năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số

LNV - Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam là một trong xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa. Bài những ngành hàng viết này tập trung phân tích sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) TCMN xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy, mặc dù các chính sách ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã tạo lợi thế cạnh tranh về giá và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng ổn định (hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2025), nhưng DN TCMN vẫn đối mặt với nhiều hạn chế cố hữu như mẫu mã đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, năng lực số hóa thấp và vướng mắc về thủ tục hành chính liên quan đến lao động không thường xuyên tại làng nghề. Dựa trên những hạn chế này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2030, tập trung vào: (1) Số hóa xúc tiến thương mại (XTTM) và e-commerce xuyên biên giới; (2) Chính sách hỗ trợ thiết kế, sáng tạo mẫu mã và xây dựng thương hiệu số; (3) Minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế và hải quan cho các làng nghề. Mục tiêu là giúp DN TCMN tận dụng tối đa lợi thế số hóa, nâng cao giá trị gia tăng, và đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu bền vững, khẳng định vị thế sản phẩm Việt Nam trên bản đồ TCMN thế giới.
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định

LNV - Nâng cao tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ và năng lực sư phạm, mở rộng cơ hội cho chuyên gia, nghệ nhân tham gia giảng dạy qua các cơ chế đánh giá minh bạch.
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề

LNV - Hà Nội với hơn 1.350 làng nghề đang đổi mới, đối mặt thách thức như thiếu lao động trẻ, cần giải pháp để giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. Thực tế, người trẻ không quay lưng với truyền thống, họ chỉ đang tìm kiếm một phương thức sinh kế thông minh hơn và họ cần động lực để tiếp nối nghề của cha ông.
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số

LNV - Chiến lược đổi mới kết hợp bảo tồn di sản, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm… để giữ lửa làng nghề và thúc đẩy làng nghề Việt Nam phát triển bền vững.
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo

LNV - Trong mô hình phát triển mới của đất nước, khoa học cơ bản được định vị lại như một hạ tầng chiến lược, là nền móng sinh tồn cho năng lực cạnh tranh quốc gia và là điểm khởi đầu của mọi chuỗi giá trị công nghệ.
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số

LNV - Việt Nam, quốc gia với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, tự hào là nơi kết tinh của những giá trị văn hóa độc đáo, trong đó hệ thống các làng nghề truyền thống đóng vai trò như những bảo tàng sống sinh động nhất. Tính đến nay, cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề, thu hút hàng triệu lao động miệt mài ngày đêm gìn giữ những sợi chỉ, thớ gỗ, mảnh gốm hay nét cọ của cha ông.
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LNV- Để phát huy những kết quả đạt được, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, vấn đề đặt ra trong công tác khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội cần tập trung triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề

LVN - Bộ Công Thương vừa ban hành Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề. Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại để đạt được mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông thôn.
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa

LVN - Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề và nghệ nhân nhiều nhất cả nước. Quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, Thành phố có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nền tảng và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh hiện nay.
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập

LNV - Chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ nghề truyền thống, thu hút thế hệ trẻ, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng làng nghề.
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu

LNV - Với sự sáng tạo của nghệ nhân trẻ, làng nghề Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và mở rộng thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc

Năng suất sắn của Việt Nam hiện vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở mô hình sản xuất chưa phù hợp, việc luân canh và ổn định vùng trồng còn thiếu định hướng rõ ràng, đồng thời mối liên kết giữa nông dân và các nhà máy chế biến chưa chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị bền vững.
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”

LNV - Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghệ 4.0), mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đều đang thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), blockchain… không còn là những khái niệm xa lạ mà đã và đang trở thành đòn bẩy then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tối ưu chuỗi cung ứng.
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Theo con số thống kê từ năm 2020, cả nước có 168 nghề truyền thống, phân bổ trong hàng nghìn làng nghề được bố trí rải rác trên địa bàn cả nước, tập trung nhiều nhất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Một điều đáng lưu ý là có đến khoảng gần năm mươi làng nghề, mặc dù đã được công nhận nhưng đã ngừng hoạt động hoặc hầu như đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nữa…
Xem thêm
Mới nhất Đọc nhiều
Ấn tượng chương trình nghệ thuật “Khai Văn” tôn vinh đạo học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Ấn tượng chương trình nghệ thuật “Khai Văn” tôn vinh đạo học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Ngày 12/9/2026, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức chương trình nghệ thuật “Khai Văn”, một trong những hoạt động văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 và hướng tới mốc son kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076 - 2026). “Khai Văn” không chỉ tôn vinh hành trình phát triển ngàn năm của đạo học Việt Nam mà còn đánh thức nguồn sức mạnh di sản, thắp sáng khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ hôm nay.
Doanh nghiệp cùng Gaia chung sức trồng gần 70.000 cây rừng đầu nguồn

Doanh nghiệp cùng Gaia chung sức trồng gần 70.000 cây rừng đầu nguồn

LNV - Ngày 12/9, tại Vườn quốc gia Cúc Phương, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia phối hợp cùng các doanh nghiệp triển khai hoạt động trồng rừng trong khuôn khổ chương trình “Chung sức trồng rừng 2026”. Chương trình hướng tới trồng gần 70.000 cây bản địa
Thanh Hóa: Chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới và các đợt mưa lớn

Thanh Hóa: Chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới và các đợt mưa lớn

LNV – UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành Công điện số 05/CĐ-UBND về việc về việc tập trung ứng phó với áp thấp nhiệt đới và đợt mưa lớn trên địa bàn tỉnh trong những ngày tới.
Dũng Đào Quán: Địa chỉ ẩm thực quen thuộc tại Tam Nông

Dũng Đào Quán: Địa chỉ ẩm thực quen thuộc tại Tam Nông

LNV - Nằm trên trục đường liên xã Tam Nông - Đào Xá, Dũng Đào Quán tại thôn 10, xã Tam Nông, tỉnh Phú Thọ là địa chỉ ăn uống quen thuộc của nhiều người dân địa phương và khách qua đường. Sau khoảng 8 năm hoạt động, nhà hàng từng bước tạo dựng được lượng k
Hà Nội tạo chuyển biến rõ nét trong kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm

Hà Nội tạo chuyển biến rõ nét trong kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm

LNV - Từ một địa bàn có hàng trăm điểm giết mổ nhỏ lẻ, phân tán, Hà Nội đang từng bước tổ chức lại hoạt động giết mổ theo hướng tập trung, có kiểm soát. Đến ngày 9/9/2026, Thành phố đã chỉ đạo chấm dứt hoạt động của các hộ giết mổ nhỏ lẻ, duy trì 71 cơ sở
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-47
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-2
so-2526-tap-chi-lang-nghe-viet-nam-2026-63
gex
xet-tuyen-dai-hoc
Giao diện di động