Hà Nội: 30°C Hà Nội
Đà Nẵng: 30°C Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh: 31°C TP Hồ Chí Minh
Thừa Thiên Huế: 30°C Thừa Thiên Huế

Làng nghề và việc làm ở nông thôn

LNV - Trong quá trình công nghiệp hóa, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu sang một nước công nghiệp phát triển, tất yếu phải chuyển dịch cơ cấu lao động của nền kinh tế theo hướng tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống; Tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên. Trong quá trình này, làng nghề chúng ta có thể góp một phần quan trọng.
Việc làm và năng suất lao động

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để có thể đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện. Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và việc làm năm 2019, số dân nước ta năm đó là 96.208.984 người (theo Liên hợp quốc, đến tháng 8/2022, dân số nước ta đã là 99.066.469 người), trong đó số dân sống ở nông thôn chiếm 65,6% . Đến những năm 2021-2022, số dân sống ở nông thôn tuy có giảm, song vẫn còn chiếm tới 62,9% tổng dân số cả nước. Như vậy, việc làm cho khu vực nông thôn là rất cấp bách.

Về lý luận, thị trường lao động bền vững gồm sáu yếu tố: (i) Cơ hội người lao động có việc làm; (ii) Điều kiện làm việc; (iii) Năng suất lao động; (iv) Bình đẳng; (v) An toàn tại nơi làm việc; (vi) Thu nhập thỏa đáng và bảo đảm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Trong bài viết này, chỉ xin đề cập hai nhóm vấn đề cần được quan tâm: Một là giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; Hai là nâng cao chất lượng nguồn lao động, cũng tức là nâng cao năng suất lao động.


1.Tình trạng thiếu việc làm trong khu vực nông thôn có thể do nhiều nguyên nhân. (i) Phần lớn nông dân nước ta lâu nay chỉ quen nghề nông, không có hoặc có rất ít sự hiểu biết về các ngành nghề phi nông nghiệp; Trong khi đó, vùng đồng bằng, trung du hầu hết đều ở vào tình trạng “đất chật, người đông”, diện tích đất canh tác tính theo đầu người rất thấp; dẫn tình trạng lao động nông thôn không đủ việc làm; thời kỳ “nông nhàn” trong năm rất dài. (ii) Tác động của quá trình công nghiệp hóa: một mặt tạo ra thêm những việc làm mới trong lĩnh vực phi nông nghiệp, nhưng mặt khác, do yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, cho nên lao động nông thôn không qua đào tạo càng khó tìm kiếm được việc làm.

Rõ ràng là tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm trong lao động nông thôn dã trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội cần được giải quyết kịp thời, tránh gây ra mất ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn đang chiếm tới gần 70% dân số cả nước này.

2. Tiếp theo, xin dề cập vấn đề năng suất lao động, bởi vì giải quyết việc làm không chỉ là tìm được việc làm cho người lao động, mà còn cần xem việc đó làm ra bao nhiêu của cải cho xã hội, cũng tức là chất lượng lao động và năng suất lao động. Trong bối cảnh hội nhập sâu sắc, lao động di chuyển tự do, cách mạng 4.0 với những tác động nhanh, nhạy của thế giới ngày nay, nguồn nhân lực có chất lượng cao đang trở thành sự đòi hỏi gay gắt của cả xã hội, của mọi ngành, của các doanh nghiệp.


Đối với nước ta, trải qua những năm đổi mới đến nay, tuy nền kinh tế đã đạt được những thành tựu quan trọng, song nhìn chung, việc chuyển dịch cơ cấu lao động có nhiều khó khăn. Lao động nông thôn đông, nhưng so với thành thị thì còn kém về học vấn, trình độ tiếp thu khoa học kỹ thuật, v.v...Đó chính là một nguyên nhân chủ yếu làm cho năng suất lao động nước ta còn quá thấp. Điều này rất quan trọng, vì năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm được người lao động sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, phản ánh năng lực tạo ra của cải của người lao động. Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất hay của một phương thức lao động, một xã hội, là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Theo ước tính của Tổ chức Lao động thế giới (ILO), năng năng suất lao động bình quân của Việt Nam năm 2019 mới đạt mức 117,94 triệu đồng, tương đương khoảng 5.081 USD/lao động, thấp hơn 26 lần so với Singapore, 7 lần so với Malaysia, 4 lần so với Tung Quốc, 2 lần so với Philippines, 3 lần so với Thái Lan. Báo cáo năm 2020 của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) cũng cho thấy, năng suất lao động Việt Nam tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với Malaysia 40 năm và Thái Lan 10 năm.

Từ kinh nghiệm của các nước, có thể thấy rõ để tăng năng suất lao động, cần thực hiện hàng loạt giải pháp như: (i) Đẩy mạnh cải cách thể chế theo hướng hiện đại; Xây dựng Chính phủ kiến tạo, hành động, Chính phủ xanh, Chính phủ số; (ii) Gia tăng quy mô nền kinh tế (quy mô GDP), duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, gia tăng những ngành/lĩnh vực có giá trị gia tăng cao (công nghiệp và dịch vụ); (iii) Tạo ra nhiều việc làm và đảm bảo toàn dụng lao động; Đẩy mạnh thực hiện Chương trình OCOP; (iv) Hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp minh bạch, thuận lợi...

Mở rộng cánh cửa việc làm

Theo điều tra của Bộ NN&PTNT, năm 2020, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn bình quân là 2,94% (cả nước là 2,52%). Ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn thì tỷ lệ này còn cao hơn bình quân chung (có thể lên đến 20% hoặc cao hơn). Trong khi đó, hằng năm cả nước vẫn có khoảng 1,0-1,5 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động mà chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn. Cùng với tốc độ đô thị hóa cao, bình quân diện tích sản xuất nông nghiệp tính theo đầu người thấp dần, tạo ra áp lực về việc làm ngày càng nặng nề, dẫn đến nhiều lao động nông thôn phải di chuyển ra thành phố và các khu công nghiệp hoặc ra nước ngoài kiếm việc làm, tạo ra những khó khăn nhất định cho quản lý xã hội. Trước tình hình đó, rất cần tạo việc làm cho lao động nông thôn ngay trong khu vực nông thôn, giúp cho người nông dân có thể có việc làm, có thu nhập, làm giàu ngay trên quê hương mình.

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu đến năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao: theo tiêu chí của Liên hợp quốc, GDP bình quân đầu người phải đạt trên 12.535 USD/năm, trong khi đó năm 2020, thu nhập bình quân đầu người mới đạt 2.779 USD, vẫn là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp (theo Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 27/8/222). Như vậy, phải đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà một nội dung chủ yếu là thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu lao dộng xã hội. Ở các nước phát triển, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp chỉ là 5-7% trong tổng dân số, thậm chí chỉ là 3-5%; trong khi đó, tỷ lệ này ở nước ta năm 2020 còn chiếm tới 34,78% (công nghiệp và xây dựng chiếm 32,65%; Thương mại và dịch vụ chiếm 32,57%). Vì vậy, phải chuyển dịch mạnh hơn nữa lực lượng lao động ra khỏi nông nghiệp, tạo nhiều việc làm phi nông nghiệp cho họ, đồng thời cũng nhằm góp phần tăng năng suất lao động của nước ta.

Hiện nay, hệ thống công nghiệp nông thôn đang bao gồm các ngành nghề như: (i) Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; (ii) Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; (iii) Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; (iv) Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; (v) Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh...

Hệ thống doanh nghiệp đó đang phát triển với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; Với tinh thần xuyên suốt là một tổng thể gắn bó, liên kết, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh bình đẳng, tạo nên năng lực cạnh tranh của đất nước. Mục tiêu đề ra là có 1,3 - 1,5 triệu doanh nghiệp vào năm 2025, trong đó có 15 - 20 doanh nghiệp tư nhân có vốn hóa đạt trên 1 tỷ USD. Với khoảng 810.000 doanh nghiệp tính đến năm 2020, để đạt mục tiêu trên, tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp trong 5 năm tới phải đạt 12 - 14%/năm, tính ra mỗi năm sẽ có thêm 100.000 - 150.000 doanh nghiệp. Tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP hiện nay khoảng 55%; Đến năm 2030, tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP phải đạt 60 - 65%; Cùng với 810.000 doanh nghiệp, còn có khoảng 5,4 triệu hộ kinh doanh, mà theo quan điểm của thế giới "bất cứ cá nhân nào có hoạt động đầu tư, kinh doanh có mục đích tìm kiếm lợi nhuận đều được coi là doanh nghiệp” thì trong số này, đã có khá nhiều doanh nghiệp. Hơn nữa, theo các số liệu thống kê, hơn 800.000 DN chỉ đóng góp 10% GDP, trong khi khu vực hộ kinh doanh đóng góp tới 30% GDP. Như vậy, tiềm năng phát triển doanh nghiệp, thu hút lao động còn rất lớn.

Trong thời gian tới, để cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo diều kiện cho phát triển doanh nghiệp, cần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà cộng đồng doanh nghiệp thường gặp, tập trung vào cải cách hành chính: Tiếp tục cải tiến thủ tục thuế, hải quan, tiếp cận đất đai, thanh tra, kiểm tra, môi trường... Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước gắn với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công khai, minh bạch hoạt động công vụ; Đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Tạo môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, xây dựng và phát triển thị trường khoa học và công nghệ; phát triển các tổ chức và thiết chế hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ...

Xuất khẩu lao động được xem là một giải pháp tích cực trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững cho khu vực nông thôn. Đến nay, cả nước có hơn 600.000 lao động đang làm việc tại 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, mỗi năm chuyển về gần 4 tỷ USD. Thế nhưng, vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ, đó là: Chất lượng lao động đi làm việc; Bài toán sinh kế sau khi họ về nước; Tình trạng lao động cư trú bất hợp pháp. Thời gian tới, cần chấm dứt việc đưa lao động phổ thông đi làm ở nước ngoài, chỉ đưa đi số lao động tay nghề cao có thể tiếp cận khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý để sau này trở về phục vụ đất nước. Điều này cũng rất phù hợp khi cuộc đua thu hút lao động có tay nghề cao ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Châu Á - Thái Bình Dương đang nóng lên trong bối cảnh khu vực đang phải đối mặt với tình cảnh thiếu lao động, dân số già và cạnh tranh toàn cầu gia tăng. Công tác quản lý Nhà nước cần được tăng cường, khắc phục những tiêu cực như tệ nạn lừa đảo, buôn người, “việc nhẹ, lương cao”, đi chui, gây ra những thảm cảnh đau lòng đã xảy ra lâu nay.

Đóng góp của Làng nghề

Có thể khẳng định rằng ngành nghề thủ công trong làng nghề chúng ta rất phong phú; tiềm năng giải quyết việc làm còn rất rộng rãi. Thực tế cho thấy làng nghề có thể đóng góp vào toàn bộ quá trình tạo việc làm cho lao động nông thôn, thực hiện cuộc chuyển dịch cơ cấu lao động và góp phần tăng năng suất lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta.

Xin được nhấn mạnh thêm rằng, trên thế giới, trong quá trình công nghiệp hóa, các nước đều rất coi trọng khu vực nông thôn. Đó là vì khu vực này thường chiếm một diện tích và số dân đáng kể của mỗi quốc gia, đồng thời là cái nôi về văn hóa và kinh tế của mỗi đất nước, nhưng lại thường là khu vực tập trung những người nghèo khổ nhất. Công cuộc công nghiệp. phát triển đô thị đang kéo theo sự phân hóa giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, cũng đồng thời làm lu mờ bản sắc văn hóa, lối sống của cộng đồng dân cư nông thôn và của cả quốc gia. Chính vì vây, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia đều đã quan tâm phát triển khu vực nông thôn, xây dựng những chương trình, kế hoạch như “Mỗi làng một sản phẩm” mà trọng tâm là phát triển các nghề phi nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Đối với nước ta, nông thôn đã thể hiện rất rõ vai trò “bệ đỡ” cho nền kinh tế; Mỗi khi có biến động, như tác động của đại dịch Covid-19 vừa qua, nông thôn là nơi tiếp nhận và thu xếp việc làm cho số lao động các đô thị mất việc trở về; kết quả rất khả quan.

Cho đến năm 2020, theo Bộ NN&PTNT, làng nghề nước ta có 216.357 cơ sở sản xuất, kinh doanh (tăng 1,45 lần so với năm 2011) thu hút trên 672.000 lao động, bao gồm 2.141 doanh nghiệp, 715 hợp tác xã, 712 tổ hợp tác và trên 212.700 hộ gia đình. Khả năng giải quyết việc làm trong làng nghề đang còn rất lớn. Dưới đây, xin đề cập một số công việc cụ thể mà làng nghề chúng ta có thể thực hiện, góp phần tạo việc làm cho lao động nông thôn.

Theo các nhà nghiên cứu, làng nghề nước ta gồm những ngành nghề rất phong phú, chủ yếu là: (i) Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, như gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài, thêu, ren, thảm; khảm, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, chạm mạ vàng bạc; dệt tơ tằm, thổ cẩm; mây tre đan... (ii) Các ngành nghề sản xuất công cụ sản xuất, như: Rèn sắt, làm cày bừa, nông cụ, đóng thuyền... (iii) Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như: dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ rá, sọt, bồ, bện thừng, chạo, dệt vải, may mặc... (iv) Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống, như nề, mộc, hàn, đúc đồng, gang, sản xuất vật liệu xây dựng,... (v) Các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm, như xay xát, làm bún bánh, đường, mật, làm tương, đậu phụ, nấu rượu, chế biến hải sản các loại.

Xin nhấn mạnh thêm về mặt hàng thủ công mỹ nghệ là nhóm sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao. Theo thống kê của Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, cứ 1 triệu USD xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ mang lại lợi nhuận gấp 5-10 lần so với ngành khai thác; giải quyết việc làm từ 3 - 5 nghìn lao động. Hiện nay, mặt hàng này xuất khẩu khoảng 2,2 tỷ USD/năm và thuộc nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất của Việt Nam, trong đó, Mỹ là thị trường lớn nhất chiếm 35% tổng kim ngạch. Mục tiêu đề ra về kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ năm 2025 là 4 tỷ USD, năm 2030 là 6 tỷ USD.

Dưới đây, xin kiến nghị một số công việc cần được các làng nghề triển khai ở các địa phương, đáp ứng nhu cầu tạo việc làm đồng thời tăng năng suất lao động cho lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay.

Một là, tích cực tham gia tạo nghề, “cấy” nghề ở các địa phương chưa có nghề, qua đó, phát triển ngành nghề sản xuất, kinh doanh các sản phẩm làng nghề hết sức phong phú như đã nói trên. Đương nhiên, việc xác định ngành nghề cụ thể phải dựa trên nhu cầu của thị trường trong nước và ngoài nước, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế về truyền thống, phong tục, tập quán, trình độ, kiến thức của người lao động mỗi địa phương;

Hai là, mở rộng các hình thức đào tạo nghề cho những lao động chưa có nghề, như: Tập huấn, tổ chức các lớp dạy nghề tại tại trường của địa phương hoặc tại các lớp do làng nghề tổ chức, do các nghệ nhân hướng dẫn..., thông qua các hình thức du nhập, học tập, phổ biến, nhân rộng từ các mô hình, làng nghề, làng nghề truyền thống đang hoạt động có hiệu quả. Phương thức đào tạo cần thiết thực, hiệu quả, có thể miễn phí hoặc trợ giúp phí đào tạo.

Ba là, giúp người lao động đã có nghề vào làm việc tại các cơ sở hiện có hoặc khởi nghiệp, lập cơ sở mới. Số cơ sở sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp hiện còn quá ít, vừa về số lượng vừa về ngành nghề, vì vậy, tạo điều kiện cho người lao động khởi nghiệp là rất cần thiết, có thể từ quy mô hộ kinh doanh tiến lên doanh nghiệp. Có thể tổ chức các “vườn ươm” theo từng ngành nghề để hướng dẫn người lao động các bước thực hành trước khi chính thức khởi nghiệp. Điều quan trọng là khơi dậy sức sáng tạo của người lao động, khuyến khích, động viên họ bồi dưỡng thêm kiến thức và tạo điều kiện cho họ thử nghiệm, tạo thêm mẫu mã mới, sản phẩm mới.

Làm được như vậy, làng nghề có thể giúp người lao động chưa có nghề được đào tạo thành người có nghề cũng như người đã có nghề đều có thể vào làm việc tại các cơ sở làng nghề có sẵn hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới theo đúng chủ trương làm giàu ngay tại quê hương, không phải “tha phương cầu thực”, vừa bảo đảm thu nhập và đời sống của bản thân và gia đình, vừa góp phần xây dựng quê hương. Từ đó, quy mô làng nghề hiện có sẽ được mở rộng, làng nghề mới sẽ dần hình thành, mà quan trọng hơn, đó là tiếp tục phát huy tinh hoa văn hóa nghề thủ công trong xã hội ta.

CGCC Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn-Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Tin liên quan

Tin mới hơn

Nghề và Làng nghề truyền thống

Nghề và Làng nghề truyền thống

LNV - Phát triển kinh tế nông thôn không thể bỏ qua vai trò của các làng nghề, nhất là làng nghề, làng có nghề truyền thống. Thực tế cho thấy, làng nghề đã và đang tạo ra nhiều việc làm, không chỉ cho người trong độ tuổi lao động mà còn cho cả người già, người khuyết tật, trẻ em; giúp tăng thu nhập và rút ngắn khoảng cách giàu nghèo tại nông thôn.
Vai trò, vị thế của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam

Vai trò, vị thế của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam

LNV - Nhiệm kỳ 2018 – 2023 vừa qua, Hiệp hội và các tổ chức, hội viên đã triển khai Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường do tác động tiêu cực lâu dài của đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu, các cuộc xung đột vũ trang Nga – Ukraina; Israel – Hamas; Israel – Houthi, Israel – Iran…làm đứt gãy chuỗi cung ứng vật tư, nguyên, nhiên liệu toàn cầu, đặc biệt là xăng, dầu. Ảnh hưởng đến đến sức mua và làm suy giảm các thị trường xuất, nhập khẩu truyền thống. Tình hình trên làm cho sản xuất kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế và làng nghề trong cả nước bị đình đốn, việc làm và đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn.
Hướng đi bền vững để bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống

Hướng đi bền vững để bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống

LNV - Phát triển kinh tế nông thôn không thể bỏ qua vai trò của các làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống. Thực tế cho thấy, làng nghề đã và đang tạo nhiều cơ hội việc làm, không chỉ cho người trong độ tuổi lao động mà còn cho cả người già, người khuyết tật, trẻ em, giúp tăng thu nhập và rút ngắn khoảng cách giàu nghèo tại nông thôn. Tuy nhiên, để bảo tồn và phát triển làng nghề, cần có những hướng đi bền vững.
Văn hóa làng nghề trong văn hóa xứ Nghệ

Văn hóa làng nghề trong văn hóa xứ Nghệ

LNV - Làng nghề truyền thống là một nhân tố quan trọng trong văn hóa vùng miền. Với một vùng văn hóa độc đáo như xứ Nghệ, làng nghề có vai trò to lớn, là bông hoa đẹp trong bức tranh văn hóa chung. Làng nghề thể hiện sự đa dạng của văn hóa, thể hiện tính đặc sắc của địa phương. Và trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển làng nghề hợp lý là hướng đi đúng đắn để gắn bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế.
Phát triển bền vững du lịch làng nghề Thừa Thiên Huế

Phát triển bền vững du lịch làng nghề Thừa Thiên Huế

LNV - Du lịch lễ hội văn hoá, du lịch làng nghề truyền thống là một thế mạnh và nét đặc trưng vốn có của du lịch Thừa Thiên Huế hiện tại và trong tương lai. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần khai thác và phát huy các làng nghề truyền thống như một chiến lược phát triển du lịch bền vững gắn với cộng đồng dân cư địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Gìn giữ tinh hoa làng nghề thời 4.0

Gìn giữ tinh hoa làng nghề thời 4.0

LNV - Người Việt Nam tự hào có những làng nghề truyền thống đã tồn tại hàng trăm năm, vang danh xứ người. Thế nhưng, theo năm tháng, các làng nghề truyền thống đang ngày càng mai một. Bên cạnh đó, thời đại công nghệ 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức cho các làng nghề, đòi hỏi công tác duy trì, bảo tồn và phát triển làng nghề cần sự chung tay của nhiều thế hệ và chính quyền các cấp.

Tin khác

Lợi ích của việc bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Lợi ích của việc bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Nhiều năm qua, việc bán hàng online đã khá phổ biến với nhiều lĩnh vực và đã quen thuộc với nhiều khách hàng, nhưng trong lĩnh vực hàng thủ công mỹ nghệ rất ít cơ sở tham gia bán hàng online. Cho đến nay, chủ yếu là các cơ sở sản xuất đồ gốm và điêu khắc gỗ bắt đầu thực hiện bán hàng online.
Chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

LNV - Bên cạnh cơ hội, doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang phải đối mặt với những thách thức lớn từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong doanh nghiệp được xác định là giải pháp quan trọng, là xu hướng tất yếu để các doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực, lợi thế cạnh tranh, tăng tốc và phát triển.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh trực tuyến trên nền tảng mạng xã hội tại Việt Nam

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh trực tuyến trên nền tảng mạng xã hội tại Việt Nam

LNV - Công nghệ 4.0 phát triển mạnh mẽ giúp cho việc mua bán hàng hóa trực tuyến thuận tiện và phổ biến hơn bao giờ hết. Hơn nữa, khi dịch Covid-19 bùng nổ trên nhiều quốc gia với tốc độ lây lan nhanh chóng thì mua bán trực tuyến là giải pháp tối ưu thay thế cho phương thức mua bán truyền thống.
Hà Nội phát triển làng nghề truyền thống, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa

Hà Nội phát triển làng nghề truyền thống, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa

LNV - Thành phố Hà Nội là nơi có nhiều làng nghề truyền thống với 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 305 làng nghề truyền thống đã được công nhận thuộc 23 quận, huyện và thị xã. Đây là nguồn tài nguyên dồi dào cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Lợi ích bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Lợi ích bán hàng online với sản phẩm thủ công mỹ nghệ

LNV - Nhiều năm qua, việc bán hàng online đã khá phổ biến với nhiều lĩnh vực và quen thuộc với khách hàng, nhưng trong lĩnh vực hàng thủ công mỹ nghệ rất ít cơ sở tham gia bán hàng online. Cho đến nay, chủ yếu là các cơ sở sản xuất đồ gốm và điêu khắc gỗ bắt đầu thực hiện bán hàng online.
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc kinh doanh online trên nền tảng kỹ thuật số

Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc kinh doanh online trên nền tảng kỹ thuật số

LNV - Nghề dệt lụa ở Vạn Phúc (quận Hà Đông, TP. Hà Nội) từ lâu đã nổi tiếng bởi nét tài hoa của những nghệ nhân làng nghề. Với những ai yêu lụa Vạn Phúc khi về nơi đây như được trở lại cội nguồn với nhiều nét xưa cũ. Bao đời nay, lụa Vạn Phúc chỉ sử dụng chất liệu tơ tằm truyền thống, do bàn tay của người lao động tạo nên. Điều đáng quý là các sản phẩm ở đây được làm từ nguyên liệu tự nhiên, có nhiều ưu điểm khác hẳn với các sản phẩm trôi nổi trên thị trường.
Những khó khăn cần tháo gỡ của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ra thị trường quốc tế

Những khó khăn cần tháo gỡ của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ra thị trường quốc tế

LNV - Quyết định số: 801/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Bảo tồn và phát triển làng nghề Việt nam giai đoạn 2021 – 2030” đã đặt mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN lên 4 tỷ USD vào năm 2025 và 6 tỷ USD vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, hàng loạt khó khăn lớn nhỏ cần được tháo gỡ ở mọi khu vực, từ trung ương đến địa phương. Chúng ta có thể điểm qua một số khó khăn cần được ưu tiên tháo gỡ như sau:
Đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề

Đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề

LNV - Làng nghề có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, sự phát triển của các làng nghề cũng gây ra hệ lụy về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng. Để giải quyết vấn đề ô nhiễm nước thải làng nghề, Việt Nam cần thiết phải có các biện pháp đồng bộ từ chính sách tới giải pháp như quy hoạch lại không gian sản xuất, tổ chức tốt quy trình sản xuất, vệ sinh môi trường, tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường... đặc biệt là các giải pháp về kỹ thuật xử lý nước thải với mức đầu tư thấp, dễ vận hành, phù hợp với yêu cầu của làng nghề.
Nâng cao kỹ năng bán hàng online, marketing cho các cơ sở công nghiệp nông thôn làng nghề

Nâng cao kỹ năng bán hàng online, marketing cho các cơ sở công nghiệp nông thôn làng nghề

LNV - Trong thời kỳ kinh tế hội nhập, sản phẩm làng nghề phải cạnh tranh rất khốc liệt về mẫu mã, chất lượng, giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Để mở rộng thị trường, ngoài việc bán sản phẩm làng nghề tại các cửa hàng truyền thống, phương thức bán hàng on line ngày càng quan trọng mở ra hướng mới để quảng bá và tiêu thụ sản phẩm làng nghề. Để nâng cao kỹ năng bán hàng online, maketing cho sản phẩm Thủ công Mỹ nghệ tại các cơ sở công nghiệp nông thôn làng nghề cần thực hiện những bước sau đây:
Thực trạng và giải pháp thương mại điện tử của các cơ sở công nghiệp nông thôn tại các làng nghề hiện nay

Thực trạng và giải pháp thương mại điện tử của các cơ sở công nghiệp nông thôn tại các làng nghề hiện nay

LNV - Thương mại điện tử là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực tuyến. Thương mại điện tử, kinh doanh trực tuyến dần dần đã trở thành những hoạt động cần thiết tại các cơ sở công nghiệp nông thôn, nhất là tại các làng nghề.
Cuốn sách "Phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc " của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Cuốn sách "Phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc " của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

LNV - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự Thật là cơ quan xuất bản sách lý luận chính trị Trung ương của Đảng. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự Thật đã xuất bản nhiều bộ sách, cuốn sách lý luận chính trị có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt đường nối chủ trương của Đảng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Bình Dương: Kỳ vọng có thêm sản phẩm OCOP thủ công mỹ nghệ

Bình Dương: Kỳ vọng có thêm sản phẩm OCOP thủ công mỹ nghệ

OVN - Theo thông tin từ Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Bình Dương, hiện nay, trên địa bình tỉnh đã có 103 sản phẩm được công nhận sản phẩm OCOP hạng 3 đến 4 sao. Trong đó, có 93 sản phẩm OCOP 3 sao và 10 sản phẩm OCOP 4 sao.
Tìm hiểu về phòng, chống tham nhũng và đức thanh liêm của người xưa

Tìm hiểu về phòng, chống tham nhũng và đức thanh liêm của người xưa

LNV - Trong xã hội phong kiến Việt Nam, với cấu trúc hệ thống Nhà nước “Quân – Thần – Nhân”, chưa có nền dân chủ, thì tệ quan liêu, hối lộ, nhũng nhiễu, lộng quyền… là phổ biến. Song, ta hãy tìm hiểu xem trong xã hội quân chủ ấy, các triều đại, các vị vua và quan đã làm được gì để chống tham nhũng, lạm dụng chức quyền, giúp cho ổn định xã hội và quản lý Nhà nước phong kiến, cùng giảm bớt đau khổ cho muôn dân.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ V

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ V

LNV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam được thành lập năm 2005, trải qua 4 kỳ đại hội. Hiện Hiệp hội đang hoàn thiện hồ sơ xin phép tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ V, nhiệm kỳ 2023-2028 dự kiến quý IV năm 2023 tại Hà Nội.
Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội  “Hội tụ - kết tinh - lan tỏa”

Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội “Hội tụ - kết tinh - lan tỏa”

LNV - Hà Nội vốn nổi tiếng vùng đất “Địa linh nhân kiệt” và Hà Nội đẹp, thơ mộng không chỉ bởi vẻ đẹp của 36 phố phường mà còn nổi bật bởi những làng nghề truyền thống nổi tiếng đã đi vào trong sử sách, thơ ca. Hà Nội – mảnh đất trăm nghề hội tụ đã tạo nên giá trị của một nền văn hóa.
Xem thêm
qc-vinamilk-100-thanh-trung
Mới nhất Đọc nhiều
Công ty Điện lực Hưng Yên chuyển đổi số mang tiện ích đến khách hàng

Công ty Điện lực Hưng Yên chuyển đổi số mang tiện ích đến khách hàng

LNV - Hiện nay, Công ty Điện lực Hưng Yên đã cơ bản hoàn thành công tác số hóa dữ liệu, xây dựng thành công kho dữ liệu, tập trung số hóa cho từng bộ phận, bao gồm: Số hóa các quy trình cung cấp dịch vụ điện và chăm sóc khách hàng; Chuẩn hóa và đảm bảo dữ liệu.
Hồn Việt ẩn trong những chiếc mặt nạ

Hồn Việt ẩn trong những chiếc mặt nạ

LNV - Qua bao thăng trầm lịch sử, phố Hội vẫn còn đó những mái nhà rêu phong với mảng tường sơn vàng, những cánh cửa gỗ phía trên có đôi mắt cửa huyền bí. Và, trong một ngôi nhà cổ đặc biệt, có hàng trăm chiếc mặt nạ giấy bồi đã làm nên không gian văn hóa độc đáo cho thành phố di sản Hội An.
Nhiều hoạt động kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Nhiều hoạt động kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

LNV - Với chủ đề “Theo dấu chân Người”, kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2024), Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) tổ chức nhiều hoạt động nhằm giới thiệu nét văn hóa, phong tục tập quán truyền thống, góp phần thực hiện đẩy mạnh học tập, làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tại không gian của Làng trong tháng 5.
Biển Hải Tiến - Điểm đến hấp dẫn của du lịch xứ Thanh

Biển Hải Tiến - Điểm đến hấp dẫn của du lịch xứ Thanh

LNV - Khu du lịch biển Hải Tiến với bờ biển dài 12,5km thuộc địa phận 05 xã: Hoằng Hải, Hoằng Tiến, Hoằng Thanh, Hoằng Trường và Hoằng Phụ. Cách Hà Nội 150km; cách trung tâm Thành phố Thanh Hoá 17km, rất thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch văn hoá tâm linh, du lịch trải nghiệm, du lịch làng nghề.
Bình Thuận: Xã Đông Tiến và Tân Lập đạt chuẩn Nông thôn mới

Bình Thuận: Xã Đông Tiến và Tân Lập đạt chuẩn Nông thôn mới

LNV - Ngày 19-3, UBND tỉnh Bình Thuận có quyết định số 627 /QĐ-UBND công nhận xã Đông Tiến, huyện Hàm Thuận Bắc và xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam (tỉnh Bình Thuận) đạt chuẩn Nông thôn mới (NTM) và 5 xã gồm xã Hàm Cường, huyện Hàm Thuận Nam, và xã Đức Hạnh, xã Đông Hà, xã Mê Pu, xã Tân Hà, huyện Đức Linh đạt chuẩn NTM nâng cao.
qc-vinamilk-dinh-duong-vang
vf
ban-qlda-dau-tu-xay-dung-huyen-quan-son
the-92-coffee
cong-ty-tnhh-xay-dung-va-thuong-mai-duy-thang
cong-ty-tnhh-xay-dung-manh-truong-son
cong-ty-co-phan-tan-phong
dang-uy-ubnd-mttq-huyen-yen-thanh-nghe-an
cong-ty-tnhh-mtv-tan-anh
chao-mung-70-nam-chien-thang-dbp-49-nam-ngay-giai-phong-mien-nam-138-nam-ngay-qtld
Giao diện di động