Làng gốm truyền thống miền Trung: Bảo tồn và phát huy giá trị hướng đến du lịch cộng đồng (Kỳ I)
Nguồn đất sét: Là thành phần chính để tạo ra gốm. Đất sét phải có chất lượng tốt và phù hợp để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Đất sét các làng miền Trung chủ yếu là dòng terracotta, thuộc nhánh đất sét thứ cấp, màu đất sét vàng, chịu được nhiệt độ nung 700- 10000C. Đất sét được các thợ gốm sử dụng để làm đồ gốm. Nó có thể là một nguồn tự nhiên như lòng sông hoặc mỏ đá gần đó, hoặc nó có thể được dự trữ sau khi được đào và xử lý. Trong nghề gốm truyền thống, đất sét các loại là tài nguyên quan trọng để tạo tác nên sản phẩm. Đất vùng Quảng Nam tạo nên gốm đỏ, đất vàng ở Phú Yên tạo nên gốm sứ Quảng Đức, đất ngà nâu ở Bình Thuận tạo nên gốm Bàu Trúc và Gốm Gọ, đất màu tro ở Thừa Thiên Huế tạo nên gốm Phước Tích, Mỹ Xuyên màu nâu sành. Chính nhờ những loại đất sét đa dạng nên sản phẩm gốm miền Trung hết sức phong phú và có giá trị phổ cập dân dụng cao. Đôi khi, các làng gốm cần sử dụng các nguyên liệu phụ trợ như gạch, cát, tro, quặng hoặc thạch anh để cải thiện độ bền và màu sắc của gốm.
![]() |
| Các sản phẩm của gốm Mỹ Thiện ở Quảng Ngãi chủ yếu là đồ gia dụng |
Nguồn nước: Nước là yếu tố quan trọng để chế tạo gốm, đặc biệt là trong quá trình trộn và làm mềm đất sét. Việc các làng gốm nằm cạnh các con sông và nhiều ao hồ đã tạo ra nguồn nước dồi dào cho các làng gốm;
Bầu trời: Trong các làng gốm, công tác phơi khô sản phẩm là quan trọng, và tốn nhiều thời gian, các hộ và cơ sở sản xuất đều có những sân lớn để phơi và sản xuất sản phẩm, tạo nên những khoảng không bầu trời rất đặc trưng, và giá trị ở những làng gốm. Tại các cộng đồng dân cư, các hộ có thể chia sẻ và sử dụng chung sân phơi để tận dụng hiệu quả. khi cần thiết. Các làng gốm truyền thống thường thiếu các tiện nghi như điện và nước sinh hoạt, vì vậy điều quan trọng là tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên và lưu thông không khí để cải thiện môi trường sống của người dân. Trong đó thường chú trọng việc xây dựng các cửa sổ để đón ánh sáng và không khí trong lành;
Hệ thống sông hồ: Làng gốm đều ở cạnh sông để thuận tiện cho giao thông nên phụ thuộc dòng chảy. Yếu tố sông nước hết sức quan trọng trong nghề gốm ở tất cả các khâu. Việc khai thác đất phải dựa vào sông nước. Đây là điều kiện thuận lợi cho chuyên chở đất, sản phẩm gốm. Sông cũng là nơi cung cấp thủy sản phục vụ đời sống. Người làm gốm luôn gắn bó với sông nước, coi sông nước là chỗ dựa quan trọng cho nghề. Vì thế, một số LGTT đều có miếu thờ các vị thần sông nước.
![]() |
![]() |
| Gốm Mỹ Thiện có cốt từ đất sét. |
Giao thông, khoảng cách địa lý: Việc kết nối khoảng cách đến các trung tâm đô thị, các di sản văn hóa, điểm du lịch nổi tiếng là quan trọng, để từ đó thúc đẩy đầu ra cho sản phẩm gốm, thị trường tiêu thụ, liên kết nguồn nhân lực. Miền Trung hiện nay có lợi thế về số lượng di sản quốc gia và thế giới nên việc giao thông thuận tiện kết nối từ làng gốm đến các điểm du lịch, di sản văn hóa sẽ thuận lợi cho việc tổ chức tour, tuyến đến các điểm du lịch;
Không gian kiến trúc của làng gốm truyền thống phổ biến có diện tích hẹp, người đông, chật chội… nếu có chung không gian với các nghề thủ công truyền thống khác thì lại càng bất lợi, rất khó cho thao tác kỹ thuật và áp dụng công nghệ tiên tiến. Tuy vậy, làng gốm truyền thống đã tạo dựng được những cảnh quan sinh thái nhân văn của làng nghề gốm và còn kết hợp bảo tồn được cấu trúc không gian của làng cổ. Ngoài ra, các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể vẫn còn được bảo lưu gìn giữ tốt, lưu truyền từ đời này sang đời khác, đặc biệt là còn tồn tại được nếp sống, lối sống của người dân địa phương tạo thành nền tảng quan trọng cho phát triển du lịch. Các công trình kiến trúc cụ thể như đình, chùa, miếu, giếng, am, nhà ở, nhà thờ tộc, đường làng, cổng làng-cổng nhà… đều là các di sản văn hóa đặc biệt, hàng ngày đang có nguy cơ chịu sự va đập trực tiếp và sức ép của tinh thần đô thị hóa, hiện đại hóa. Di sản vật thể vốn đan xen tồn tại ngay cạnh từng bức tường nhà riêng, với lối đi của từng gia đình, từng thôn xóm và gắn bó mật thiết, là hình ảnh không thể thiếu khi nói đến một làng gốm truyền thống. Bên cạnh khối lượng lớn di sản vật thể, người dân là lực lượng sản sinh, sử dụng, bảo tồn và chính họ lại không ngừng bổ sung cái “Hồn” của làng gốm truyền thống. Trong thời đại mới hiện nay, trước nhu cầu hòa nhập, hiện đại hóa và đô thị hóa, làng nghề gốm truyền thống lại đang đứng trước thách thức tất yếu là muốn tiếp tục tồn tại thì phải phát triển, muốn phát triển thì lại phải quy hoạch không gian làng cho khoa học chỉn chu theo từng thực tế yêu cầu cụ thể. Như vậy, làng luôn luôn chấp nhận sự điều tiết, quy hoạch và coi đó là quy luật tất yếu của sự phát triển.
Từ những đặc trưng cơ bản của không gian, làng gốm truyền thống đặc biệt thích hợp và sẽ đáp ứng phù hợp với quy hoạch về không gian sinh thái nhân văn, về cấu trúc không gian làng cổ, bao gồm hệ thống di sản vật thể và về cả con người.
Tin liên quan
Tin mới hơn
Du lịch làng nghề: Giữ “hồn nghề” để phát triển bền vững
07:00 | 06/08/2026 Nghiên cứu trao đổi
Làng nghề truyền thống Việt Nam: Từ bảo tồn tĩnh học đến chiến lược phát triển kinh tế thích ứng
16:26 | 01/08/2026 Nghiên cứu trao đổi
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số
07:00 | 22/07/2026 Nghiên cứu trao đổi
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số
07:00 | 15/07/2026 Nghiên cứu trao đổi
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế số
07:00 | 08/07/2026 Nghiên cứu trao đổi
Chuyên gia, nghệ nhân dễ dàng tham gia dạy nghề nhờ quy định
07:00 | 02/07/2026 Nghiên cứu trao đổi
Tin khác
Làng nghề Hà Nội làm gì để giữ chân người trẻ, duy trì kế thừa của các làng nghề
08:00 | 17/06/2026 Nghiên cứu trao đổi
“Giữ lửa” làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên số
07:00 | 11/06/2026 Nghiên cứu trao đổi
Khoa học cơ bản - Nền móng của đổi mới sáng tạo
07:00 | 05/06/2026 Nghiên cứu trao đổi
Phát huy giá trị làng nghề Việt Nam trong thời đại số
07:00 | 28/05/2026 Nghiên cứu trao đổi
Hà Nội: Khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa
14:56 | 22/05/2026 Nghiên cứu trao đổi
Hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề
08:00 | 15/05/2026 Nghiên cứu trao đổi
Hà Nội khôi phục và bảo tồn làng nghề truyền thống để phát triển công nghiệp văn hóa
09:00 | 09/05/2026 Nghiên cứu trao đổi
Động lực để phát triển làng nghề Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
14:29 | 19/03/2026 Nghiên cứu trao đổi
Làng nghề Hà Nội Bảo tồn di sản, nâng tầm giá trị toàn cầu
11:59 | 07/03/2026 Nghiên cứu trao đổi
Tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ngành sắn: Từ năng suất thấp đến bài toán truy xuất nguồn gốc
14:03 | 28/01/2026 Kinh tế
Về “áp dụng công nghệ 4.0 vào kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ”
11:58 | 14/01/2026 Nghiên cứu trao đổi
Thực trạng làng nghề và những khó khăn trong việc xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
09:14 | 09/01/2026 Nghiên cứu trao đổi
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức (Kỳ 3)
10:11 | 13/11/2025 Tin tức
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội - Cơ hội và thách thức
10:09 | 08/11/2025 Tin tức
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội
08:08 | 31/10/2025 Nghiên cứu trao đổi
Rượu Đế Vương: Hành trình 24 năm gìn giữ hồn rượu truyền thống, nâng tầm sản phẩm OCOP
15:15 OCOP
Trường THPT Trung Giã: Gieo mầm xanh, gắn kết các thế hệ vì tương lai bền vững
09:02 Tin tức
Mục tiêu xuất khẩu nông sản 100 tỷ USD: Gỡ “nút thắt” để xuất khẩu thủy sản về đích
08:55 Tin tức
Hiệp hội làng nghề TP Hải Phòng: tăng cường kết nối, mở rộng thị trường cho làng nghề
20:54 Làng nghề, nghệ nhân
Nghệ thuật thực cảnh nhập vai: Khám phá trải nghiệm du lịch ở Nà Hang (Tuyên Quang)
20:54 Văn hóa - Xã hội














